Tiểu Sử Cố Hòa Thượng Thích Thiện Hoa (1918-1973): Hướng Chân Phần 1

HT.Vien Truong
× 🎁 Ưu đãi Shopee hôm nay – Nhấn nhận ngay!
🔥 Ưu đãi Shopee - Bấm để xem ngay!
0
(0)

Nỗ lực biên soạn lại cuộc đời và sự nghiệp của bậc chân tu Thích Thiện Hoa hướng đến việc tri ân công đức và cung cấp nguồn tư liệu quý báu cho thế hệ mai sau. Qua đó, chúng ta có thể khám phá những phẩm hạnh cao đẹp và đóng góp to lớn của Ngài cho Phật giáo Việt Nam, được tìm hiểu thêm tại chiasedaophat.com.

Lời Giới Thiệu

Khi biên soạn lại tiểu sử của Cố Hòa thượng Thích Thiện Hoa, chúng tôi hướng đến hai mục tiêu chính. Thứ nhất là bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đối với một bậc chân tu đã cống hiến trọn đời mình cho Đạo Pháp và sự nghiệp hoằng dương chánh pháp, để lại những di sản quý báu cho thế hệ hậu lai. Thứ hai là cung cấp một nguồn tư liệu quý giá, giúp thế hệ Tăng Ni, Phật tử ngày nay có thể noi gương, học hỏi từ những phẩm hạnh cao đẹp và những đóng góp to lớn của Ngài, qua đó thêm phần tự hào về những bậc thầy đáng kính trong lịch sử Phật giáo Việt Nam.

Tuy nhiên, do những hạn chế về thông tin và tư liệu, chúng tôi nhận thấy vẫn còn những khía cạnh trong cuộc đời và sự nghiệp của Hòa thượng chưa được thể hiện đầy đủ. Chúng tôi xin nhường lại cho các nhà nghiên cứu lịch sử Phật giáo sau này có thể bổ sung và hoàn thiện.

Kính mong độc giả cảm thông và đón nhận.

Trân trọng,
HƯỚNG CHÂN
(Xuân Quý Sửu, 1973)

HT.Vien Truong

Tiểu Sử Cố Hòa Thượng Thích Thiện Hoa
(Viện Trưởng Viện Hóa Đạo, GHPGVNTN – Ấn hành nhân ngày Kỷ niệm Chung thất Cố Hoà Thượng, Mồng 7 tháng 2, năm Quý Sửu (1973))

Thân Thế và Gia Đình

Hòa thượng Thích Thiện Hoa, húy Trần Thiện Hoa, pháp danh Thiện Hoa, hiệu Hoàn Tuyên, sinh ngày 07 tháng 08 năm Mậu Ngọ (1918) tại làng Tân Quy (nay là An Phú Tân), quận Cầu Kè, tỉnh Cần Thơ. Ngài là con út trong một gia đình có truyền thống kính đạo.

Thân phụ của Hòa thượng là ông Trần Văn Thê, pháp danh Thiện Huệ, từng giữ chức vụ Hương cả trong làng. Cụ ông viên tịch khi Hòa thượng mới lên 6 tuổi. Thân mẫu là bà Nguyễn Thị Sáu, pháp danh Diệu Tịnh, cụ bà an nhiên thị tịch vào ngày 19 tháng 08 năm Đinh Mùi (22 tháng 09 năm 1967) tại tuổi 90.

Toàn thể gia đình Hòa thượng đều quy y Tam Bảo tại chùa Phi Lai, núi Voi, Châu Đốc, dưới sự hướng dẫn của Tổ Chí Thiền. Pháp danh Thiện Hoa cũng do Ngài đặt cho Hòa thượng.

Sau khi thân phụ quá cố, Hòa thượng cùng thân mẫu đến chùa Phước Hậu, làng Đông Hậu, quận Trà Ôn để cầu siêu. Tại đây, dù còn nhỏ tuổi và chưa hiểu nhiều về đạo lý, Hòa thượng đã nảy sinh tâm nguyện xuất gia. Gia đình vì mộ đạo và thương con, đã đồng thuận cho Ngài theo thầy học đạo tại chùa Phước Hậu khi mới 7 tuổi. Sau đó, Hòa thượng được gửi đến chùa Đông Phước, làng Đông Thành, quận Cái Vồn (nay là Bình Minh) để theo học với Tổ Khánh Anh.

Một kỷ niệm đáng nhớ trong thời thơ ấu của Ngài là khi người cậu thứ tám hỏi về ước nguyện khi đi tu. Hòa thượng đã trả lời một cách ngây thơ và đầy trí tuệ: “Cháu đi tu muốn thành ông Phật lớn ngồi ngay giữa chùa.” Khi được hỏi về việc chào hỏi, Ngài đáp: “Phật thì phải ngồi từ bi đâu có đi chào hỏi ai.” Và khi nói về việc đãi bánh, Ngài cho rằng: “Sợ các ông Phật kia phân bì, vì đã ăn một phần còn để dành cho bà con nữa.” Những câu trả lời này cho thấy sự hiểu biết và tâm tính đặc biệt của Ngài ngay từ thuở ấu thơ.

Trong gia đình, không chỉ có Hòa thượng xuất gia, mà trước đó vài năm, người chị thứ bảy của Ngài là bà Diệu Kim cũng đã quy y và trở thành Sư bà trụ trì chùa Bảo An, Cần Thơ. Sư bà Diệu Kim sau này đã có những đóng góp quan trọng trong việc hỗ trợ Hòa thượng theo học tại Huế và thực hiện các Phật sự ban đầu.

Ngoài ra, người anh thứ tám là Thượng tọa Thích Tịnh Tâm (hiệu Hoàn Triều) cũng xuất gia cùng thời điểm với Hòa thượng, hiện là trụ trì chùa Phật Quang, Trà Ôn. Người anh thứ năm, Thích Thiện Minh, cũng xuất gia và trụ trì chùa Linh Quang tại Rạch Sung, Trà Ôn. Về sau, nhiều người cháu của Hòa thượng như Tịnh Nghiêm, Tịnh Thuận, Bửu Châu, Hoàn Phú cũng lần lượt xuất gia. Có thể nói, đây là một gia đình có nhiều người con và cháu theo con đường tu hành nhất trong vùng.

Thời Kỳ Tu Học

Học tại các trường Gia-giáo:

Sau khi cầu pháp với Tổ Khánh Anh và được ban pháp danh Hoàn Tuyên, Hòa thượng luôn theo bước chân Tổ đến dạy tại các trường Gia-giáo. Từ chùa Đông Phước, Ngài lần lượt học tập tại nhiều nơi, trong đó có chùa Long An. Năm 1931, khi Tổ Khánh Anh khai giảng Gia-giáo tại chùa Long An, Hòa thượng, lúc đó 14 tuổi, đã nhập chúng tu học tại đây trong ba năm.

Phật Học Đường Lưỡng Xuyên:

Vào mùa Hạ năm 1935, Hòa thượng xin nhập học tại Phật học Đường Lưỡng Xuyên, khi ấy Ngài 17 tuổi và cũng trong năm này, Ngài thọ giới Sa Di. Tại đây, Hòa thượng sống trong môi trường tu học đạm bạc, nghiêm túc của một Tăng sinh trẻ tuổi. Sau ba năm mãn khóa Sơ Đẳng, với chí hướng cầu tiến và hiếu học, Hòa thượng đã nài xin Ban Giám đốc Phật học Đường Lưỡng Xuyên cho phép được giới thiệu ra Huế học cao hơn. Nhờ sự vận động của Ban Giám đốc và sự ủng hộ tài chánh từ các thí chủ, Hòa thượng đã thực hiện được nguyện vọng của mình. Năm 1938, Ngài cùng các pháp hữu như Thiện Hòa, Hiển-Thụy, Hiển-Không, Chí-Thiện, Bửu-Ngọc, Giác-Tâm lên đường ra Huế, lúc ấy Ngài 20 tuổi.

Phật Học Đường Báo Quốc và các trường tại Huế:

Tại Huế, quý Ngài theo học tại Phật học đường Tây Thiên trong hai năm. Sau đó, các Ngài đến Quy Nhơn, học với Tổ Phước Huệ tại chùa Thập Tháp trong một năm. Tiếp tục trở lại Huế, quý Ngài theo học tại Phật học Đường Báo Quốc gần bốn năm. Năm 1945, khi trường Báo Quốc dời về Tòng Lâm Kim Sơn, việc học tập bị gián đoạn do chiến tranh bùng nổ. Hội An Nam Phật Học đã ủy thác cho các vị Thượng tọa Trí Tịnh và Thiện Hoa cùng một số học Tăng vào Nam. Trải qua gần tám năm (1938-1945) học tập gian khổ tại Cố đô, quý Thượng tọa mang theo hoài bão “Hoằng pháp lợi sinh”, góp phần thắp sáng ngọn đuốc Phật pháp tại Miền Nam.

Thời Kỳ Hoằng Pháp và Cống Hiến

Khai giảng Phật Học Đường Phật Quang:

Năm 1945, Hòa thượng cùng Thượng tọa Trí Tịnh khai giảng Phật Học Đường Phật Quang tại rạch Bang-Chang, xã Thiện Mỹ, quận Trà Ôn, thu hút hơn 30 Tăng sinh theo học. Trong năm này, Hòa thượng tròn 29 tuổi và thọ giới Tỳ Khưu tại giới đàn Kim Huê, Sa Đéc.

Vào các năm 1946-1947, tình hình chiến sự phức tạp khiến nhiều Tăng sinh tham gia phong trào “Chống Pháp cứu nước”. Thấy vậy, Thượng tọa Trí Tịnh quyết định dời về Sài Gòn, khiến Phật học Đường Phật Quang gặp nhiều khó khăn hơn. Hòa thượng một mình vừa lo dạy học, vừa đối phó với hoàn cảnh.

Dù đối mặt với nhiều thử thách như chùa bị đốt, học chúng phân tán, Hòa thượng vẫn kiên trì duy trì lớp học. Ngài khẳng định: “Dù chỉ còn một Tăng sinh hiếu học tôi vẫn dạy đầy đủ như lúc ba mươi người.” Đến năm 1950, số học chúng chính thức không quá bốn người, nhưng Hòa thượng vẫn tiếp tục giảng dạy đều đặn.

Để bảo vệ Tăng chúng và giúp đỡ cộng đồng, Hòa thượng đã mở các lớp học trẻ em do Tăng sinh phụ trách, thành lập trạm y tế để Tăng Ni khám chữa bệnh cho đồng bào. Mỗi ngày, Tăng chúng dành buổi sáng để dạy học và chích thuốc, buổi chiều tập trung vào lớp học kinh điển.

Xem thêm: Thích Phước Sơn: Hành trình Giác ngộ và Dấu ấn Thiền sư

Hòa thượng còn mở các lớp học “Bình dân” ban đêm để xóa nạn mù chữ. Chỉ trong vòng 15 ngày, học viên có thể đọc thông viết thạo nhờ sáng kiến soạn tập sách “Vần Chữ O” của Ngài. Hòa thượng còn đích thân dạy lớp Bình dân và chích thuốc. Nhận thấy nhu cầu chữa bệnh của người dân, Ngài còn học chẩn mạch và kê toa thuốc Bắc, với tâm niệm “Chúng ta cần đem Tứ Nhiếp Pháp và Ngũ Minh để giáo hóa chúng sinh, nhất là trong hoàn cảnh này.”

(Tứ Nhiếp Pháp: Bố thí, Ái ngữ, Lợi hành, Đồng sự.
Ngũ Minh: Nội minh, Nhân minh, Thanh minh, Công xảo minh, và Y phương minh.)

Hợp tác tại Phật học Đường Nam Việt – Ấn Quang:

Đầu Xuân năm 1953, Hòa thượng cùng 8 đệ tử đến Phật học Đường Nam Việt (nay là chùa Ấn Quang). Sau cuộc họp của Giáo hội Tăng Già Nam Việt, Hòa thượng được cử giữ chức vụ Trưởng ban Giáo dục GHTGNV kiêm Đốc Giáo PHĐNV và Trưởng ban Hoằng pháp Giáo hội Tăng Già Việt Nam.

Về công tác Giáo dục:

Với trách nhiệm Đốc giáo, Hòa thượng đã tận tâm giảng dạy cho hai lớp Cao Đẳng và Trung Đẳng tại đây. Đồng thời, Ngài còn dạy lớp Trung Đẳng Ni chúng tại chùa Từ Nghiêm, sau dời về Phật Học Ni Trường Dược Sư.

Nhiều thế hệ Tăng Ni tài đức đã tốt nghiệp từ các lớp học này, đóng góp vào sự nghiệp hoằng pháp. Các vị Tăng sinh tốt nghiệp Cao Đẳng đầu tiên gồm: Thầy Bửu Huệ, Thiền Tâm, Tắc Phước, Tịnh Đức, Đạt Bửu. Các lớp sau có: Thầy Thiện Định, Huyền Vi, Thanh Từ, Từ Thông, Chánh Tiến, Quảng Long, Hoàn Quan, Thắng Hoan, Đức Niệm, Liễu Minh, Long Nguyệt, Trí Quảng, Huệ Thới, Minh Thành… Tại Ni trường Dược Sư, nhiều vị Ni chúng khả kính đã được đào tạo như: Sư Cô Như Huyền, Hải Triều Âm, Diệu Hoa, Minh Ngọc, Giác Nhẫn, Trí Hòa, Trí Định, Tịnh Thường…

Năm 1957, Hòa thượng khởi xướng các khóa huấn luyện Trụ trì mang tên “Như Lai Sứ Giả” cho cả Tăng và Ni. Mỗi khóa kéo dài ba tháng. Các vị này nếu tiếp tục học sẽ trở thành giảng viên của Giáo hội.

Kết quả, bên Tăng đã đào tạo 52 vị như: Thầy Trường Lạc, Bửu Lai, Trí Châu, Nhật Long, Hồng Tịnh, Hồng Đạo, Hoằng Thông, Huyền Quý, Hiển Pháp, Thiện An, Huệ Thành… Bên Ni giới có 30 vị như: Ni Sư Vĩnh Bửu, Như Hoa, Phật Bửu, Giác Thiên, Như Huy, Như Chí…

Với vai trò Trưởng ban Giáo dục, Hòa thượng đã khuyến khích thành lập các trường Phật học tại các tỉnh như: Chùa Bình An (Long Xuyên, 1956), trường Phước Hòa (Vĩnh Bình), trường Giác Sanh (Phú Thọ), trường Biên Hòa và Phật Ân (Mỹ Tho). Có thể nói, hầu hết Tăng Ni Miền Nam đương thời đều chịu ơn giáo dục của Hòa thượng, trực tiếp hoặc gián tiếp.

Về công tác Hoằng Pháp:

Hòa thượng nhận chức Trưởng ban Hoằng pháp Giáo hội Tăng Già Nam Việt và Hội Phật học Nam Việt từ năm 1953. Ngài trực tiếp huấn luyện Tăng Ni sinh trở thành giảng sư, cũng như đào tạo các vị trụ trì có khả năng diễn giảng. Bên cạnh đó, Ngài còn huấn luyện cả cư sĩ để họ có thể chia sẻ Phật pháp.

Hòa thượng đã mở các lớp giảng cho cư sĩ tại chùa Ấn Quang, chùa Phước Hòa (Bàn Cờ), sau dời về chùa Xá Lợi. Các lớp học này diễn ra hằng tuần vào chiều Chủ nhật. Nhiều vị Tăng đã đóng góp vào chương trình giảng dạy. Hòa thượng cũng phân công các giảng sư do mình huấn luyện đi giảng dạy tại các địa điểm khác, còn bản thân Ngài thì giảng dạy cho Phật tử vào tối thứ năm hằng tuần tại chùa Ấn Quang.

Phong trào học Phật tại Miền Nam phát triển mạnh mẽ. Các Tỉnh Giáo hội và Hội Phật học đều xin mở lớp học Phật phổ thông. Hòa thượng đã phân phối giảng sư đi khắp nơi, mỗi đợt giảng dạy khoảng mười ngày, dựa trên mười bài Phật học phổ thông. Chương trình này kéo dài suốt tám năm (1955-1962), khơi dậy niềm hăng say học Phật trong quần chúng.

Năm 1956, sau Đại hội kỳ hai của Tổng Hội Phật giáo Việt Nam, Hòa thượng giữ chức vụ Ủy viên Hoằng pháp Tổng Hội. Nhờ sự cộng tác của Thầy Nhất Hạnh, nguyệt san “Phật Giáo Việt Nam” ra đời. Hòa thượng cũng tổ chức các buổi phát thanh Phật giáo hằng tuần trên đài phát thanh Sài Gòn.

Tác phẩm và phiên dịch:

Từ năm 1953 đến 1965, Hòa thượng đã soạn xong 12 khóa Phật học Phổ thông (Cây Thang Giáo Lý), Bản Đồ Tu Phật (10 tập), Duy Thức học (6 tập), cùng tám quyển sách quý khác như: Tu Tâm, Dưỡng Tính, Nhân Quả Luân Hồi, Ngũ Đình Tâm Quán, Tứ Diệu Đế, Từ Bi Trong Đạo Phật, Chữ Hòa Trong Đạo Phật và Năm Yếu Tố Hòa Bình.

Về lĩnh vực phiên dịch, Ngài đã dịch các tác phẩm quan trọng như: Đại Cương Kinh Lăng Nghiêm, Kinh Viên Giác, Kinh Kim Cang, Tâm Kinh, Luận Đại Thừa Khởi Tín, Luận Nhân Minh.

Hòa thượng còn chủ trương xuất bản một bộ Phật học Tùng thư gồm 8 loại, với tổng cộng 80 đầu sách, bao gồm các ấn phẩm về Phật học phổ thông, bản đồ tu Phật, Duy thức học, giáo khoa cho các trường trung học Bồ Đề, giáo lý cho gia đình Phật tử, nghi thức tụng niệm, tạp luận và sự tích.

Các tác phẩm và dịch phẩm này do nhà sách Hương Đạo xuất bản, đã đóng góp một phần vô cùng quan trọng vào nền văn hóa Phật giáo và quốc gia. Những người Phật tử chuyên tâm nghiên cứu các tác phẩm này sẽ có được nền tảng vững chắc trên con đường tu hành.

Khám phá: Minh Châu Nalanda: Thích Thiện Châu gìn giữ chân lý

Thời Kỳ Lãnh Đạo Giáo Hội

Trong giai đoạn pháp nạn năm 1963, Hòa thượng đã tích cực tham gia tranh đấu cho Đạo pháp, giữ chức vụ Phó Chủ tịch Ủy ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo. Với uy tín của mình, Ngài đã kêu gọi Tăng Ni, Phật tử Miền Nam đứng lên bảo vệ Chánh pháp, nhận được sự hưởng ứng nồng nhiệt. Sau đó, Hòa thượng cùng các vị Hòa thượng khác đã bị bắt giam.

Cuộc đấu tranh thành công đã dẫn đến sự ra đời của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất. Trong nhiệm kỳ đầu tiên của Viện Hóa Đạo, Hòa thượng giữ chức Đệ nhất Phó Viện trưởng, sau đó kiêm nhiệm trụ trì Việt Nam Quốc Tự.

Sau pháp nạn năm 1966, Hòa thượng đảm nhận chức vụ Viện trưởng Viện Hóa Đạo GHPGVNTN. Trong nhiệm kỳ này, dù Phật giáo Việt Nam đối mặt với nhiều sóng gió, Hòa thượng vẫn kiên định với con đường “Bảo vệ đạo pháp và cứu nước cứu dân, lấy sự tồn tại của đạo pháp trong sự tồn tại của dân tộc và nhân loại làm kim chỉ nam”.

Đến nhiệm kỳ III (1968), Hòa thượng tiếp tục được đại biểu tín nhiệm tái cử. Tuy nhiên, sức khỏe của Ngài ngày càng suy yếu, trong khi trách nhiệm Giáo hội ngày càng nặng nề. Nhiều môn đệ đã khẩn thiết xin Ngài từ chức để về chùa tịnh dưỡng. Nhưng Hòa thượng đã chia cuộc đời mình làm ba giai đoạn: học Phật pháp, truyền bá Phật pháp và tịnh dưỡng chuyên tu. Ngài cho rằng: “Đạo pháp đang trong thời kỳ sóng gió, mọi người đang tin cậy tôi, tôi đâu nỡ buông tay để về ngồi yên tịnh dưỡng.” Lời dạy này đã lay động tâm can môn đệ.

Hòa thượng từng dạy Tăng Ni: “Chỗ nào chúng sinh mời thì mình đến, chỗ nào đạo pháp cần thì mình đi, không kể gian lao chẳng từ khó nhọc.” Ngài cũng thường quở trách Tăng Ni chỉ bo bo giữ chùa riêng, bổn đạo riêng, mà quên đi việc lớn chung: “Một con trâu cũng tốn một thằng chăn, cả bầy trâu cũng chỉ một thằng chăn. Tại sao khuôn mình trong chỗ hẹp mà quên việc to lớn?” Những lời dạy này xuất phát từ lòng từ bi và tâm lợi tha vô bờ bến.

Có lần, Sư bà Bảo An được thỉnh giữ trọng trách trong Ni bộ đã đến hỏi ý kiến Hòa thượng. Ngài khuyên nhủ: “Gánh vác Phật sự là việc tốt, nhưng khi lãnh nhiệm vụ lớn, phải tự xem mình như đứa con nít. Dù bị người chê khen khinh trọng vẫn không nao núng. Đừng nhớ mình có chùa to, có đệ tử nhiều, gặp việc trái ý là xách gói về chùa. Tâm niệm được như thế, mới nên đảm đang đại sự.”

Đối với Ban Từ thiện Ấn Quang, khi gặp khó khăn trong các Phật sự, Hòa thượng luôn khuyên nhủ: “Phật sự lúc nào làm được nên cố gắng mà làm, đến khi thiếu duyên dù có muốn làm cũng không thể làm được. Nên nhẫn nhục thông qua thì mới viên mãn công đức.”

Trong giai đoạn này, mọi Phật sự tại Miền Nam, dù là của Tăng Ni hay cư sĩ, đều nhận được sự khuyến khích và an ủi của Hòa thượng. Phật Học Viện Huệ Nghiêm được thành hình và tồn tại đến nay cũng nhờ công lao của Ngài. Cô Nhi Viện Diệu Quang cũng được thành lập dưới sự thúc đẩy của Hòa thượng, với mong muốn Ni chúng vừa tu học vừa làm công tác xã hội. Ngài mong muốn Ni chúng trẻ tuổi có đủ hai điều kiện học đạo và phụng sự cộng đồng, với sự hỗ trợ từ Phật Học Viện Huệ Nghiêm.

Hòa thượng còn tích cực tham gia các hoạt động từ thiện như cứu trợ đồng bào lũ lụt miền Trung, xây dựng Niệm Phật đường trong khám Chí Hòa, xây chùa trong Dưỡng Trí Viện Biên Hòa… Có thể nói, từ năm 1964 đến 1972, mọi Phật sự quan trọng tại Miền Nam đều có sự đóng góp trực tiếp hoặc gián tiếp của Hòa thượng.

Giờ Phút An Lành Về Cõi Phật

Hòa thượng bắt đầu lâm bệnh vào tối ngày 17 tháng 11 năm Canh Tý, sau lễ vía Đức Phật A Di Đà. Do phải chủ lễ và truyền Tam quy ngũ giới cho Phật tử, Ngài đã gắng sức và sau đó được đưa vào bệnh viện Đồn Đất điều trị.

Dù sức khỏe dần hồi phục, các bác sĩ cho biết Ngài cần phẫu thuật. Hòa thượng đã chia sẻ với các đệ tử: “Nếu kỳ đau này tôi phải chết, tôi rất hài lòng, vì đối với sự ‘hoằng hóa’ tôi đã làm tròn nhiệm vụ. Đối với Đạo Pháp tôi đã gánh vác được một giai đoạn khó khăn.” Ngài cảm nhận sự quan tâm của Tăng Ni, Phật tử bốn phương đến thăm, ví như thuở Đức Thế Tôn nhập Niết Bàn.

Sau phẫu thuật, bệnh tình của Hòa thượng thuyên giảm, mọi người đều tin rằng Ngài sẽ sớm bình phục. Khi một phóng viên báo Điện tín đến thăm, Hòa thượng bày tỏ: “Tôi không mong ước gì hơn sớm có ngưng bắn, để cho dân tộc Việt Nam được hưởng một mùa Xuân thanh bình.”

Một hôm, Hòa thượng Thiện Hòa vào thăm, dù thấy bệnh tình đã nhẹ, Hòa thượng vẫn dặn dò mọi việc, giao lại kinh sách cho Hòa thượng Thiện Hòa. Khi được hỏi, Ngài chỉ đáp: “Nằm ít hôm nữa bệnh lành rồi về, nói chi chuyện ấy.”

Bất ngờ, vào đêm 19 tháng 12 âm lịch, Hòa thượng trở bệnh nặng. Biết mình không qua khỏi, Ngài gọi môn đệ lại và dặn: “Các con niệm Phật cho Thầy vãng sanh, Thầy mệt quá rồi.” Tiếng niệm Phật vang lên đều đặn trong phòng hồi sinh. Hòa thượng dần dần an nhiên thị tịch vào lúc 06 giờ 05 phút sáng ngày 20 tháng Chạp năm Nhâm Tý, nhằm ngày 23 tháng Giêng năm 1973, trụ thế 55 năm, 26 tuổi hạ.

Sự ra đi của Hòa thượng để lại niềm tiếc thương vô hạn cho hàng Giáo phẩm, Tăng Ni và Phật tử. Ngôi nhà Đạo pháp mất đi một cây đại thụ.

Nhận Xét Về Cố Hòa Thượng

Hòa thượng Thích Thiện Hoa là một tấm gương sáng cho hàng Tăng sĩ noi theo. Ngài sở hữu những đức tánh cao quý, khiến bất cứ ai từng tiếp xúc đều cảm phục.

Tình Hiếu và Nghĩa Ân:

Tìm hiểu thêm: Thích Trí Quảng: Tiết lộ tiểu sử, Chùa Trụ trì và Những Bài Thuyết Pháp Lay động Lòng Người

Dù xuất gia, Hòa thượng không quên chữ hiếu. Khi thân mẫu còn tại thế, dù bận rộn Phật sự ở Trung ương, cứ mỗi dịp nghỉ phép hay rảnh rỗi, Ngài đều về thăm. Ngài đích thân chăm sóc thuốc thang cho mẹ. Khi Cụ Bà viên tịch, Hòa thượng đã hết lòng cúng dường, cầu siêu cho Mẹ. Ngay cả quyển sách “Bài Học Ngàn Vàng” cũng được Ngài hồi hướng công đức cho Mẹ.

Về ân nghĩa, Hòa thượng luôn ghi nhớ và đền đáp. Ngài không bao giờ quên công ơn của những người đã giúp đỡ mình. Khi dạy dỗ môn đồ, Ngài thường nhắc lại công ơn của các bậc Hòa thượng tiền bối. Việc Ngài đứng ra vận động trùng tu chùa Phước Hậu vào năm 1952 là một minh chứng. Khi Tổ Khánh Anh giao phó việc trùng tu ngôi chùa, Hòa thượng đã dồn hết tâm sức để hoàn thành tâm nguyện của Tổ.

Sau lần phẫu thuật tại bệnh viện Đồn Đất, hay tin bà Trương Hoàng Lâu, người đã từng tài trợ cho Ngài ra Huế học, qua đời, dù trong hoàn cảnh bệnh tật, Hòa thượng vẫn nhờ Thầy Thanh Từ đến viếng, tụng kinh và chia buồn cùng gia quyến, thể hiện lòng tri ân sâu sắc.

Tâm Từ Bi và Hòa Nhã:

Hòa thượng luôn giữ tâm niệm bao dung, hòa ái. Ít ai thấy trên khuôn mặt Ngài lộ vẻ bất bình hay nghe những lời khó chịu. Bất kỳ ai đến gặp, Ngài đều tiếp chuyện vui vẻ, từ tốn. Nếu có bất đồng ý kiến hay phê bình giữa mọi người, Hòa thượng luôn tìm cách xoa dịu, hòa giải, mong muốn sự đoàn kết trong tình đạo.

Kiên Định và Vững Vàng:

Tuy thích nhu hòa, Hòa thượng lại vô cùng cương nghị. Đường lối của Ngài và Giáo hội đã vạch ra, dù gặp khó khăn đến mấy, Ngài vẫn kiên trì tiến bước. Ngài khiêm tốn nhưng bất khuất, nhu hòa nhưng vững vàng, đó là lập trường cố hữu của Ngài.

Cuộc Đời Cống Hiến Trọn Vẹn:

Cuộc đời của Hòa thượng là sự hy sinh trọn vẹn cho Đạo Pháp. Từ khi trưởng thành cho đến ngày viên tịch, Ngài chỉ biết lo cho Đạo và làm việc phụng sự Đạo. Có người tiếc nuối rằng Ngài mong cầu Hòa bình nhưng lại ra đi khi Hòa bình vừa ló dạng. Điều này càng khẳng định tinh thần lợi tha, làm việc vì người mà quên mình của Ngài.

Sự nghiệp quan trọng nhất của Hòa thượng là những tác phẩm và dịch phẩm do nhà sách Hương Đạo ấn hành. Ngài đã viết: “Những tác phẩm hay dịch phẩm, của nhà Hương Đạo chúng tôi, sau khi tu chỉnh hoàn bị và thanh toán tất cả nợ nhà in rồi, chúng tôi sẽ làm lễ hiến cúng cho GHPGVNTN hay những người nối theo chí nguyện (phiên dịch và sáng tác) của chúng tôi.”

Hòa thượng hồi hướng:

“Tôi làm được điều lợi ích gì, có bao nhiêu công đức, đều hồi hướng:
Trên đền đáp bốn ơn
Dưới cứu giúp ba loài,

Cầu nguyện cho:
Mặt trời Phật thêm sáng,
Bánh xe Pháp xoay hoài,
Thế giới đều Hòa Bình,
Nhơn dân được an lạc,
Tôi và các chúng sinh,
Đều sinh về cõi Phật.
(Trích trong quyển Một sự nghiệp của đời tôi. Hương Đạo xuất bản năm 1965)

Chính sự vô ngã, không còn gì cả, mà Tăng Ni và Phật tử càng thêm kính mến Hòa thượng. Dù chưa hoàn thành giai đoạn thứ ba là tịnh dưỡng chuyên tu, nhưng Ngài đã viên mãn sở nguyện và ra đi trong khi vẫn còn đang làm Phật sự. Điều này cho thấy Ngài luôn đặt Đạo Pháp lên trên hết.

Lễ an táng và trà tỳ kim quan Hòa thượng vào ngày 25 tháng Chạp năm Nhâm Tý (27-01-1973) đã thu hút hàng chục nghìn người tham dự, thể hiện lòng ngưỡng mộ sâu sắc của mọi người đối với Ngài. Số người đưa tiễn đông đảo nhất so với các kỳ lễ trước.

Đặc biệt, ngày thu lại hài cốt của Hòa thượng (28-01-1973) cũng là ngày ký ngưng bắn tại Miền Nam, cho thấy cuộc đời Ngài gắn liền với vận mệnh của Đất nước và Dân tộc.

(Còn tiếp)

Mời quý độc giả tiếp tục theo dõi kỳ sau để khám phá thêm về cuộc đời và sự nghiệp vĩ đại của Ngài trong chuyên mục Tiểu sử.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang