Hòa thượng Thích Nhật Liên: Cuộc đời và Di sản

hoathuongthichnhatlien 600
× 🎁 Ưu đãi Shopee hôm nay – Nhấn nhận ngay!
🔥 Ưu đãi Shopee - Bấm để xem ngay!
0
(0)

Dấn thân vào con đường tâm linh từ thuở thiếu thời, Hòa thượng Thích Nhật Liên đã trải qua hành trình tu tập đầy ý nghĩa, gắn liền với quê hương Quảng Trị. Cuộc đời Ngài là minh chứng cho sự kiên định trên con đường giác ngộ, để lại những di sản đáng kính cho hậu thế. Tìm hiểu thêm về cuộc đời và những đóng góp của Ngài tại chiasedaophat.com.

Hòa thượng Thích Nhật Liên

Tiểu Sử
Hòa Thượng Thích Nhật Liên

Chứng Minh Đạo Sư Kiêm Viện Chủ Chùa Long Thọ

(1923 – 2010)

THÂN THẾ

Hòa thượng, thế danh Diệp Quang Tiền, pháp danh Tâm Khai, tự Thiện Giác, hiệu Trí Ấn Nhật Liên, sinh ngày 13 tháng 10 năm Quý Hợi (1923) tại thôn Xuân Yên, xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Ngài xuất thân trong một gia đình kính tin Tam Bảo, là con thứ trong năm người con (4 trai, 1 gái) của cụ Diệp Chí Hoan và cụ bà Phan Thị Đường. Anh trưởng của Ngài là Thầy Diệp Tôn, sau này là Thích Thiện Liên.

Năm 6 tuổi (1928), gia đình Ngài chuyển về thôn Diên Sanh, xã Hải Thọ, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Thân phụ đã mời thầy Đồ Nho danh tiếng về nhà dạy chữ Hán cho hai anh em Ngài. Cả hai đều tỏ ra thông minh, được thầy khen ngợi và dự báo về tương lai sáng lạn.

Năm 10 tuổi (1932), Ngài bắt đầu theo học Việt Văn tại thôn Diên Sanh.

XUẤT GIA

Với túc duyên sâu dày với Phật pháp, năm 13 tuổi (1935), Ngài cùng anh trai, dưới sự cho phép của song thân và sự dìu dắt của Sư Thúc là Hòa thượng Thích Đôn Hậu, đã xuất gia tại Chùa Tây Thiên Di Đà ở Huế, do Hòa thượng Thích Giác Nguyên làm Trụ trì. Hai anh em được Hòa thượng truyền thọ Tam Quy Ngũ Giới, làm lễ thế độ và ban pháp danh: Ngài là Tâm Khai, tự Thiện Giác; anh trưởng là Tâm Hoa, tự Thiện Liên.

Thời điểm này, phong trào chấn hưng Phật giáo đang phát triển mạnh mẽ tại Việt Nam. Miền Nam có Hội Nam Kỳ nghiên cứu Phật học (1930) và Hội An Nam Phật Học (1932), xuất bản nguyệt san Viên Âm và mở trường Sơ Đẳng Phật Học. Miền Bắc có Bắc Kỳ Phật Giáo Hội (1934), trụ sở tại Chùa Quán Sứ Hà Nội, xuất bản báo Đuốc Tuệ. Trong bối cảnh lịch sử đó, sau một thời gian ngắn nhập đạo, Ngài được Bổn Sư cho theo học tại Sơ đẳng Phật Học đường dưới sự Đốc giáo của Hòa thượng Thích Trí Độ. Nhiều bạn đồng học của Ngài sau này đã trở thành những bậc Hòa thượng nổi tiếng như Thiện Siêu, Trí Quang, Thiện Minh.

HỌC ĐẠO

Với nền tảng giáo dục từ nhỏ và tư chất thông minh, cùng sự tận tâm dạy dỗ của Hòa thượng Đốc giáo, việc học của Ngài tiến bộ nhanh chóng. Trong kỳ thi cuối niên học đầu tiên, với đề tài “Năm thời thuyết pháp của Đức Phật”, Ngài đã đạt hạng ưu.

Năm 18 tuổi (1940), Ngài theo học tại Phật Học Đường Tây Thiên do Sơn môn Tăng Già Thừa Thiên Huế thành lập. Cùng năm, Ngài được Hòa thượng Bổn sư và Đường đầu truyền thọ Giới Sa Di tại Giới Đàn Chùa Tây Thiên.

HÀNH HOÁ

Năm 22 tuổi (1944), sau khi tốt nghiệp Phật Học Đường Tây Thiên, Ngài được cử đến giảng dạy tại Thích Học Đường của Hội Lưỡng Xuyên Phật Học tại Trà Vinh.

Năm 23 tuổi (1945), Ngài nhận lời mời của Sơn Môn Tăng Già tỉnh Bình Thuận, đến giảng dạy Phật pháp tại Chùa Phật Quang (Chùa Cát) ở Phan Thiết.

Năm 24 tuổi (1946), do tình hình chính trị bất ổn, Ngài trở về trú tại Chùa Long An, thuộc liên thôn Xuân Yên – Nhan Biều, huyện Triệu Phong, là ngôi chùa của gia tộc. Ngài đảm nhận vai trò Giảng sư của Tỉnh hội Phật giáo Quảng Trị và cùng các vị trong Sơn môn Tăng già Quảng Trị thành lập Phật học đường Quảng Trị tại Chùa Long An.

Đầu năm 1947, khi quân Pháp tái chiếm Quảng Trị, Ngài ẩn cư tại Chùa Diên Thọ, thôn Diên Sanh, huyện Hải Lăng. Tại đây, Ngài tích cực tham gia đấu tranh chống lại Tổ chức Phật Giáo Thiền Lữ (thân Chính phủ Sài Gòn) và cùng Huynh trưởng Thích Thiện Liên nỗ lực phục hồi Sơn môn Tăng già Quảng Trị.

Năm 28 tuổi (1950), Ngài rời Quảng Trị vào Huế, trú tại Chùa Tây Thiên hầu cận Bổn sư, sau đó chuyển đến Chùa Linh Mụ phụ tá Hòa thượng Sư Thúc, trông coi sinh hoạt của chùa khi Hòa thượng thường xuyên đi giảng dạy.

Cuối năm đó, nhận được sự cho phép của Bổn Sư và Sư Thúc, Ngài vào Sài Gòn hợp tác với các vị tại Phật Học Đường Nam Việt. Ban đầu, trụ sở đặt tại Chùa Sùng Đức (Chợ Lớn), sau dời về Chùa Ấn Quang (Sài Gòn). Chùa Ấn Quang, nguyên là Ứng Quang, do Hòa thượng Thích Trí Hữu sáng lập và nguyện cúng dường cho 7 vị Tăng thuộc 3 Phật học đường. Sau khi 3 Phật học đường hợp nhất thành Phật Học Nam Việt (1950), Ngài đề xuất đổi tên chùa thành Ấn Quang và đổi tên Phật học đường thành Nam Việt Phật Học Đường.

Trong giai đoạn này, Ngài đảm nhận chức vụ Cố vấn kiêm Giáo thọ tại Phật Học Đường, hướng dẫn nhiều học Tăng sau này trở thành các Hòa thượng danh tiếng như Từ Thông, Huyền Vi, Thiện Định, Thanh Từ.

Ngài cũng tham gia Hội Phật Học Nam Việt (Chùa Xá Lợi), giữ chức Đệ nhất Cố vấn Ban Quản trị Trung Ương Hội và chủ biên Tạp chí Từ Quang.

Khám phá: Thích Tuệ Hải: Nhà Sư Chữa Bệnh Ung Thư Hay Lời Đồn Thổi? Hé Lộ Sự Thật Đằng Sau Các Video Sức Khỏe

Năm 29 tuổi (1951), tại Hội nghị thống nhất Phật Giáo Việt Nam ở Huế, Ngài là một trong 51 vị đại biểu toàn quốc và là một trong 7 thành viên của Phái đoàn Phật giáo Nam Việt tham gia thành lập Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam.

Cùng năm, Ngài vận động thành lập Giáo Hội Tăng Già Nam Việt và giữ chức Tổng thư ký sáng lập.

Năm 30 tuổi (1952), Ngài tấn đàn thọ Cụ Túc Giới tại Giới đàn Chùa Ấn Quang. Cùng thọ giới với Ngài có các vị như Nhất Hạnh, Thiện Tấn.

Năm 31 tuổi (1953), Ngài tổ chức Đại hội Tăng Già Nam Việt tại Chùa Ấn Quang, quy tụ hơn 500 Tăng Ni và Phật tử. Đại hội suy tôn Hòa thượng Thích Huệ Quang làm Pháp Chủ Phật Giáo Nam Việt.

Cũng trong năm này, để phản bác những bài viết xuyên tạc về Phật giáo, Ngài đã viết loạt bài “Người học Phật phải tôn trọng sự thật” đăng trên Báo “Dân Ta”, làm sáng tỏ vai trò của Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam.

Năm 32 tuổi (1954), Ngài nghỉ việc tại Phật Học Đường Nam Việt và sang Campuchia hai lần để giảng dạy giáo lý và huấn luyện trụ trì cho Tăng Ni Việt kiều.

Năm 33 tuổi (1955), theo lời thỉnh cầu của Phật tử Việt kiều tại Lào, Ngài được Giáo hội cử sang Lào đảm nhiệm Phật sự. Tại đây, Ngài được suy tôn làm Đạo thống Phật Giáo Việt Nam tại Lào, kiêm Trú trì Chùa Bàng Long. Ngài đã nỗ lực xiển dương Phật pháp, thiết lập hệ thống Phật giáo Việt Nam tại Lào từ Trung ương đến các tỉnh, thành.

Năm 38 tuổi (1960), với sự hợp lực của các vị Hòa thượng, Ngài phát nguyện trùng tu Chùa Bàng Long, thành lập Phật Học Viện Huyền Quang và Ni bộ Đại Thừa Phật Giáo Việt Nam. Ngài tiếp tục xây dựng các ngôi chùa, am thất, nghĩa trang Phật giáo tại Lào.

Ngày 19/9/1969, do tình hình chính trị bất ổn và những xung đột giữa các thế lực, Ngài bị chính quyền Lào trục xuất về Việt Nam với lý do an ninh quốc gia.

Xem thêm: Bí ẩn tuổi tác, nơi tu hành và kho tàng pháp thoại bất hủ của Thích Chân Quang

Về đến Sài Gòn, Ngài được mời về trú tại Chùa Xá Lợi. Sau đó, Ngài đảm nhiệm ngôi chùa cổ Văn Thánh tại Thị Nghè, Gia Định (thành lập năm 1906). Ngài đã chỉnh trang, tu sửa chùa, biến nơi đây thành một Già Lam thanh tịnh và tôn tạo Phật đài Quán Thế Âm lộ thiên uy nghiêm.

Năm 53 tuổi (1975), Ngài nhận nhiệm vụ Chứng Minh Đạo Sư kiêm phụ trách Chùa Tỉnh Giáo hội Long Khánh. Tại đây, Ngài đã có tâm nguyện xây dựng một ngôi chùa mới khang trang hơn, và đổi tên chùa thành Long Thọ như ngày nay.

Năm 1979, Ngài trở về Huế để lo tang lễ cho Hòa thượng Bổn sư. Sau đó, Ngài được cử làm Trụ trì Tổ Đình Tây Thiên Huế, nhưng đã giao lại cho đệ tử và trở về Long Khánh tiếp tục hoằng hóa.

Dưới sự hộ trì của Ban Hộ Tự, Chư Tăng Ni và Phật tử, Chùa Long Thọ đã từng bước được chỉnh trang, xây dựng nhiều công trình như Tịnh xá Thích Trí Độ, nhà Trù, nhà Tăng, phòng phát hành kinh sách, tượng ảnh, tiệm cơm chay “Đại Chúng”, Trai đường, Bảo tháp thờ Thích Bửu Huệ.

Năm 1984, Ngài chứng minh khai sơn Thiền thất Thanh Qui Lan Nhã (nay là Chùa Lan Nhã) tại Đồng Nai.

Năm 1987, Ngài khai sơn Lam Viên Tịnh Thất tại Đồng Nai.

Năm 1992, Ngài về Huế chăm sóc Hòa thượng Thích Đôn Hậu lúc lâm bệnh nặng và nhận lãnh di huấn của Hòa thượng. Sau đó, Ngài trở về Chùa Long Thọ và trải qua cơn tai biến mạch máu não, nhờ sự chăm sóc của y bác sĩ và môn đồ đệ tử, Ngài dần hồi phục.

Năm 71 tuổi (1993), dù sức khỏe yếu, Ngài vẫn vận động tổ chức Lễ đặt đá xây dựng Ngôi Tam Bảo.

Năm 73 tuổi (1995), Ngài tiếp tục xây dựng tiền sảnh và hai lầu chuông trống của Chùa Long Thọ.

Năm 74 tuổi (1996), Ngài xây dựng Tịnh Thất (Phương tiện) cho Tăng chúng an trụ tu hành.

Tìm hiểu thêm: Hồi Ức Về Những Bậc Đại Tăng Huế: Tâm Tràng Ngô Trọng Anh

Năm 75 tuổi (1997), Ngài chủ trương mở rộng sân chùa, di dời tượng Tây phương Tam Thánh và trồng cây cảnh.

Năm 76 tuổi (1998), Ngài gửi lời chúc mừng đến cộng đồng Phật giáo Việt Nam hải ngoại tại Pháp và về Sài Gòn tu sửa Chùa Văn Thánh.

Năm 77 tuổi (1999), Ngài vận động đúc Đại Hồng Chung nặng 1.400 kg.

Năm 78 tuổi, Ngài giao công việc chùa cho Ban Quản trị và Ban Hộ trì để chuyên tâm hành trì Thần Chú Đại Bi và Niệm Phật Tam Muội.

Ngài thường nói về việc kiến thiết Chùa Long Thọ rằng, giống như Chùa Linh Mụ ở Huế, cần có thời gian dài để hoàn thành. Dù đối mặt với bao khó khăn, thăng trầm, với Trí, Đức và Nguyện lực kiên cố, Ngài luôn làm rạng rỡ cảnh Tịnh độ, dẫn dắt chúng sanh. Ngài sống một đời bình dị, tri túc và luôn dạy môn đồ đệ tử siêng năng tu tập theo Chánh pháp.

THỜI GIAN VIÊN TỊCH

Trong suốt cuộc đời hoằng pháp lợi sanh, Ngài là bậc chân tu khả kính, xem danh lợi như phù vân, luôn tinh tấn, nhẫn nhục, khiêm cung, từ hòa, tận tụy. Đối với đạo pháp, Ngài là nhà lãnh đạo, nhà giáo dục lỗi lạc, làm rạng danh Phật giáo Việt Nam. Đức hạnh và Giới luật tinh nghiêm của Ngài là tấm gương sáng cho Tăng Ni nhiều thế hệ.

Đối với gia đình, Ngài là người con chí hiếu. Năm 1972, Ngài trở về thăm chùa gia tộc và tự tay sửa sang tu bổ. Có lần, khi thân mẫu bệnh nặng, Ngài đã lập Đàn Dược Sư 108 ngày và phát nguyện giảm 10 năm tuổi thọ để mẹ được bình phục, điều này đã khiến mẹ Ngài khỏe hẳn.

Vào lúc 17 giờ ngày 08 tháng 01 năm 2010 (nhằm ngày 24 tháng 11 năm Kỷ Sửu), tại Chùa Long Thọ, tỉnh Đồng Nai, Hòa thượng Thích Nhật Liên đã an nhiên viên tịch. Ngài trụ thế 87 tuổi, 59 Hạ lạp.

Nam Mô Lâm Tế Chánh Tông Tứ Thập Tam Tế. Trùng kiến Long Thọ Tự Chứng Minh Đạo Sư, Tây Thiên Di Đà Tự Trú Trì, Đệ nhị Cố vấn Viện Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Húy Thượng Tâm Hạ Khai, Tự Thiện Giác, Hiệu Trí Ấn Nhật Liên, Hòa thượng Giác Linh thùy từ Chứng giám.

Hòa thượng Thích Nhật Liên và Hòa thượng Thích Huyền Quang

Hòa thượng Thích Nhật Liên, đại diện môn đồ pháp quyến của Đại lão Hòa thượng Thích Đôn Hậu, cung kính trao chúc thư, ấn tín của Viện Tăng Thống GHPGVNTN; Hòa thượng Thích Huyền Quang thay mặt Hội Đồng Lưỡng Viện phụng mệnh bái nhận trước kim quan Đại lão Hòa thượng Thích Đôn Hậu. Sự kiện này đánh dấu sự duy trì tính truyền thừa của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất và khởi đầu cho công cuộc vận động phục hoạt pháp lý và quyền sinh hoạt của giáo hội. (Ảnh chụp tại Chùa Linh Mụ, Huế, ngày 02/5/1992)

Cuộc đời và di sản của Hòa thượng Thích Nhật Liên là một hành trình đầy ý nghĩa trong đạo pháp. Để tìm hiểu sâu hơn về những đóng góp và tư tưởng của Ngài, hãy cùng khám phá chi tiết hơn trong chuyên mục Tiểu sử.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang