Hòa thượng Thích Thiện Siêu: Cuộc đời và Di sản Vĩ đại

HT Thien Sieu
× 🎁 Ưu đãi Shopee hôm nay – Nhấn nhận ngay!
🔥 Ưu đãi Shopee - Bấm để xem ngay!
0
(0)

Khám phá hành trình đời người và những đóng góp ý nghĩa của Hòa thượng Thích Thiện Siêu, một bậc chân tu xuất thân từ vùng đất cố đô Huế. Cùng tìm hiểu về con đường giác ngộ và sự cống hiến không ngừng nghỉ của ngài cho Phật pháp tại chiasedaophat.com.

HT Thien Sieu

TIỂU SỬ HÒA THƯỢNG THÍCH THIỆN SIÊU

– Thành viên Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam
– Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam
– Trưởng ban Giáo dục Tăng Ni Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam
– Viện trưởng Học viện Phật giáo Việt Nam tại thành phố Huế
– Trú trì Tổ đình Từ Đàm và Thiền Tôn – Huế

A. THÂN THẾ

Hòa thượng Thích Thiện Siêu, thuộc dòng dõi họ Võ, pháp danh Tâm Phật, tự Trí Đức, hiệu Thiện Siêu. Ngài sinh ngày 15 tháng 7 năm Tân Dậu (1921) tại làng Thần Phù, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế, trong một gia đình Nho giáo có truyền thống kính tin Phật pháp.

Thân phụ Ngài là cụ ông Võ Trọng Giáng và thân mẫu là cụ bà Dương Thị Viết. Hòa thượng là trưởng nam trong số năm người con, gồm ba trai và hai gái. Người em trai của Ngài, cố Thượng tọa Thích Thiện Giải, cũng đã xuất gia và từng giữ chức vụ Chánh Đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tỉnh Lâm Đồng, trụ trì chùa Phước Huệ tại Bảo Lộc.

B. THỜI KỲ XUẤT GIA HỌC ĐẠO

Với nhân duyên sâu dày với Phật pháp, năm 14 tuổi (1935), sau khi được song thân cho phép, Hòa thượng đã xin xuất gia. Ban đầu, Ngài theo học Phật pháp tại chùa Trúc Lâm, Huế. Lớp học này do Hòa thượng Thích Giác Tiên chứng minh, Hòa thượng Thích Trí Độ làm Đốc giáo, Hòa thượng Thích Tịnh Khiết làm Phó Đốc giáo, và cư sĩ Tâm Minh – Lê Đình Thám phụ trách giảng dạy. Cùng theo học với Ngài trong khóa này có nhiều vị cao tăng sau này như Hòa thượng Thích Trí Tịnh, Thích Trí Quang, Thích Trí Nghiễm.

Sau đó, trường được dời về chùa Báo Quốc, đánh dấu sự ra đời của Phật học đường đầu tiên thuộc Hội An Nam Phật học. Trải qua gần 10 năm theo học các cấp Sơ, Trung, Cao đẳng Phật học, Hòa thượng đã tốt nghiệp với hạng ưu.

Năm 28 tuổi (1949), dưới sự cho phép của Hòa thượng Bổn sư là Đại lão Hòa thượng Giác Nhiên, Ngài được thọ giới Cụ túc tại Giới đàn Báo Quốc, Huế. Trong giới đàn này, Hòa thượng đã vinh dự đỗ Thủ Sa-di.

C. THỜI KỲ HÀNH ĐẠO

I. CÔNG TÁC HOẰNG TRUYỀN CHÁNH PHÁP

Năm 1944, trường Phật học được chuyển đến Đại Tòng Lâm Kim Sơn, một tòng lâm Phật giáo duy nhất của Trung Phần thời bấy giờ, tọa lạc tại xã Lựu Bảo, ngoại ô kinh thành Huế. Tại đây, Hòa thượng đảm nhận vai trò giảng sư của Hội và phụ trách giảng dạy các lớp Sơ đẳng, Trung đẳng.

Năm 1947, khi 26 tuổi, Ngài được Giáo hội bổ nhiệm làm Trú trì Tổ đình Từ Đàm, Huế, đồng thời tiếp tục giảng dạy tại Phật học đường Báo Quốc và Ni viện Diệu Đức.

Năm 1951, Hòa thượng tham gia phái đoàn Phật giáo miền Trung tham dự Hội nghị Thống nhất Phật giáo ba miền tại chùa Từ Đàm, Huế.

Từ năm 1950 đến 1955, Ngài được tín nhiệm bầu làm Chánh Hội trưởng Tỉnh hội Phật giáo Thừa Thiên. Trong giai đoạn này, Ngài đã ban hành quyết định hợp thức hóa nội quy, thành lập các Khuôn Tịnh độ trên toàn tỉnh.

Năm 1957, Tổng Trị sự Phật giáo Trung Phần cử Ngài làm Đốc giáo cho Phật học đường Trung Việt tại chùa Hải Đức, Nha Trang.

Năm 1962, Ngài trở về Huế để giảng dạy tại Phật học đường Báo Quốc và Ni viện Diệu Đức, đồng thời tham gia các Phật sự quan trọng tại Tổng Trị sự Phật giáo Trung phần và Tỉnh hội Phật giáo Thừa Thiên – Huế.

Năm 1963, trước sự đàn áp Phật giáo của chế độ Ngô Đình Diệm, bao gồm việc triệt hạ cờ Phật giáo và vụ thảm sát tại Đài phát thanh Huế, Hòa thượng, với tư cách đại diện Phật giáo Thừa Thiên, đã ký vào Kiến nghị 5 điểm phản đối chế độ độc tài. Đêm ngày 20 tháng 8 năm 1963, Ngài bị bắt giam tại Ty Công an Thừa Thiên và chỉ được trả tự do sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm sụp đổ.

Từ năm 1964 đến 1974, Ngài được mời làm Phó Đại diện Phật giáo miền Vạn Hạnh. Ngài đã điều hành và giảng dạy lớp Cao đẳng Phật học chuyên khoa Liễu Quán tại chùa Linh Quang, Huế, một lớp đào tạo Giảng sư Phật học quan trọng của miền Vạn Hạnh. Ngoài ra, Ngài còn được mời giảng dạy tại nhiều tòng lâm khác ở Đà Nẵng, Nha Trang, Tây Nguyên và Sài Gòn.

Tìm hiểu thêm: Ni Sư Giới Hương: Thiền Ca Lạc Việt Trên Đất Mỹ

Trong suốt sự nghiệp hoằng pháp, dù bận rộn với nhiều Phật sự, Ngài luôn hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ mà Giáo hội giao phó.

Năm 1965, Ngài được mời làm người khai đạo cho giới tử tại Giới đàn Từ Hiếu, Thừa Thiên Huế.

Năm 1968, Ngài đảm nhận vai trò Tuyên luật sư, khai đạo giới tử cho Giới đàn Phật học viện Hải Đức, Nha Trang.

Năm 1970, Ngài khai đạo giới tử cho Giới đàn Vĩnh Gia tại Đà Nẵng.

Từ năm 1973 đến 1974, Hòa thượng giữ chức vụ Viện trưởng Viện Cao đẳng Phật học Hải Đức, Nha Trang.

Năm 1979, sau khi Hòa thượng Bổn sư viên tịch, Ngài được môn phái cử giữ chức Trú trì Tổ đình Thiền Tôn, Huế.

Năm 1980, Ngài làm Giáo thọ tại Giới đàn Thiện Hòa ở chùa Ấn Quang, TP. Hồ Chí Minh.

Năm 1981, Ngài được cử làm Trưởng phái đoàn đại diện cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tham dự Đại hội Thống nhất Phật giáo toàn quốc tại chùa Quán Sứ, Hà Nội. Tại Đại hội này, Ngài được suy cử giữ chức vụ Trưởng ban Giáo dục Tăng Ni Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Từ năm 1981 đến 1984, Ngài được mời giảng dạy tại Trường Cao cấp Phật học ở chùa Quán Sứ, Hà Nội.

Từ năm 1982 đến 1988, Ngài liên tiếp hai nhiệm kỳ được Giáo hội tỉnh Phú Khánh cung thỉnh làm Trưởng ban Trị sự Tỉnh Phú Khánh.

Từ năm 1984 đến 1988, Ngài đảm nhận chức vụ Phó Hiệu trưởng và Giáo thọ cho Trường Cao cấp Phật học tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Khám phá: Huế, Đại Tăng và Dấu Ấn Thiền Từ Ngô Trọng Anh

Năm 1984, Ngài được cung cử vào chức vụ Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Năm 1987, Ngài khai đạo giới tử cho Giới đàn Báo Quốc, Huế.

Năm 1988, khi Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam được thành lập, Ngài được suy cử làm Phó Viện trưởng.

Từ tháng 4 năm 1987 đến nay, Ngài liên tiếp ba khóa được bầu làm Đại biểu Quốc hội: Khóa VIII, IX và X.

Năm 1991, Giáo hội bổ nhiệm Ngài làm Phó Chủ tịch Hội đồng Phiên dịch Đại tạng kinh Việt Nam, phụ trách Hán tạng.

Năm 1993, Ngài được cung thỉnh làm Tuyên Luật sư, Yết-ma cho Giới đàn Thiện Hòa tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Năm 1994, Ngài tiếp tục được cử làm Yết-ma tại Giới đàn Báo Quốc, Huế.

Từ năm 1994 đến 2001, Ngài giữ chức vụ Hiệu trưởng Trường Cơ bản Phật học (nay là Trường Trung cấp Phật học) Thừa Thiên – Huế.

Năm 1997, Ngài được Giáo hội cung cử làm Viện trưởng Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế cho đến ngày viên tịch.

Năm 1999, Ngài được Ban Trị sự Tỉnh Giáo hội Phật giáo Thừa Thiên Huế thỉnh làm Đàn đầu Hòa thượng Giới đàn Tịnh Khiết tại chùa Tường Vân, Huế.

Từ năm 2000 đến 2001, Ngài đã chỉ đạo đại trùng tu Tổ đình Thiền Tôn, Huế, và tôn tạo tháp Tổ Liễu Quán, công trình hoàn thành trang nghiêm và tráng lệ.

Năm 2001, Ngài chủ trì Lễ Tốt nghiệp và Cấp bằng Cử nhân Phật học cho Tăng Ni sinh Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế, khóa I (1997-2001). Cùng năm, Ngài chứng minh Lễ kỷ niệm 50 năm thành lập Gia đình Phật tử Việt Nam tại Tổ đình Từ Đàm, Huế.

Xem thêm: Tỳ Ni Đa Lưu Chi: Người Khai Mở Thiền Tông Tại Việt Nam

Trong suốt cuộc đời hành đạo, Hòa thượng là một tấm gương sáng ngời về phạm hạnh và sự nghiệp hoằng hóa, là nguồn cảm hứng cho Tăng, Ni, và Phật tử.

II. CÔNG TÁC DỊCH THUẬT VÀ BIÊN SOẠN

Bên cạnh các Phật sự quan trọng, Hòa thượng còn dành nhiều thời gian quý báu cho việc phiên dịch, biên soạn và ấn hành Kinh, Luật, Luận, nhằm phục vụ công tác nghiên cứu và tu học của Tăng Ni, Phật tử. Các công trình tiêu biểu bao gồm:

  1. Dịch thuật:
    • Kinh Thủ Lăng Nghiêm (1940)
    • Phát Bồ-đề tâm văn (1952)
    • Kinh Kiến Chánh (1953)
    • Kinh 42 chương (1958)
    • Kinh Trường A-hàm (lược dịch – 1959)
    • Kinh Pháp Cú (1962)
    • Tân Duy thức luận (1962)
    • Đại cương Luận Câu Xá (1978)
    • Luận Thành duy thức (1995)
    • Luận Đại Trí độ (5 tập, 1997-2001)
    • Trung luận (2001)
  2. Biên soạn:
    • Nghi thức tụng niệm (đồng soạn, 1958)
    • Nghi thức thọ Bồ-tát giới tại gia (1958)
    • Đại cương luận Câu-xá (1987)
    • Vô ngã là Niết-bàn (1990)
    • Tỏa ánh Từ quang (1992)
    • Lối vào Nhân minh học (1995)
    • Cương yếu Giới luật (1996)
    • Ngũ uẩn vô ngã (1997)
    • Kinh Pháp hoa giữa các Kinh điển Đại thừa (1997)
    • Trí đức văn lục (9 tập, 1994-2001)
    • Nhiều bài biên khảo đăng tải trên các tạp chí uy tín từ năm 1940-2001, bao gồm:
      • Tạp chí Viên âm (1940)
      • Phật giáo Việt Nam (1960)
      • Liên Hoa (1961)
      • Giác Ngộ (1982)
      • Tập văn – Ban Văn hóa TW GHPGVN (từ 1985-2001)

III. HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI

Năm 1981, Hòa thượng tham gia phái đoàn Phật giáo Việt Nam dự hội nghị Tôn giáo vì hòa bình chống chiến tranh hạt nhân tại Moscow.

Tháng 9 năm 1985, Ngài dẫn đầu phái đoàn đại biểu Giáo hội Phật giáo Việt Nam thăm Liên Xô và Mông Cổ.

Năm 1989, Ngài đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam tham dự Hội nghị Hòa Bình Châu Á được tổ chức tại Mông Cổ.

Năm 1994, Hòa thượng dẫn đầu phái đoàn chiêm bái các thánh tích Phật giáo tại Ấn Độ.

Năm 1995, Ngài là thành viên của phái đoàn Quốc hội Việt Nam, do Chủ tịch Nông Đức Mạnh dẫn đầu, trong chuyến thăm một số nước Đông Âu và Nghị viện Châu Âu.

Năm 1998, Ngài là thành viên của phái đoàn Phật giáo Việt Nam sang thăm và tham dự Lễ Khánh thành tháp Hòa Bình tại Đài Loan.

Năm 1999, Hòa thượng dẫn đầu phái đoàn Phật giáo Việt Nam sang thăm hữu nghị Trung Quốc.

IV. NHIẾP HOÁ ĐỒ CHÚNG

Hòa thượng đã truyền thọ Ngũ giới, Thập thiện giới và Bồ-tát giới tại gia cho hàng ngàn Phật tử trên khắp ba miền đất nước. Ngài cũng đã độ cho nhiều đệ tử xuất gia, trong đó có các vị như Đạo Dung, Hải Tịnh (đã viên tịch), Hải Ấn, Phước Tú, Kiên Tuệ, Kiên Niệm, Kiên Định. Về Ni giới, Ngài đã hướng dẫn cho các Ni sư như Chơn Cẩn, Hải Liên, Hải Hiền, và nhiều vị khác.

V. CÔNG TÁC XÂY DỰNG, TRÙNG TU

Hòa thượng đã cùng Hội đồng Điều hành Học viện chỉ đạo việc xây dựng Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế (trước đây là chùa Hồng Đức, do Sư bà Diệu Không hiến cúng để Giáo hội đào tạo Tăng tài).

Năm 2000-2001, Ngài đã đứng ra chỉ đạo đại trùng tu Tổ đình Thiền Tôn, Huế, và tôn tạo tháp Tổ Liễu Quán, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, lịch sử của các công trình Phật giáo.

Với những đóng góp to lớn cho Đạo pháp và Dân tộc, vào năm 2000, Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã trao tặng Huân chương Độc lập hạng Nhì. Năm 2001, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã tặng Bằng Tuyên dương Công đức cho Hòa thượng.

Tháng 9 năm 2001, bệnh cũ của Ngài tái phát. Dù đã nhận được sự chăm sóc tận tình của các đệ tử thân cận và sự cứu chữa của các giáo sư, bác sĩ, y sĩ Bệnh viện Thừa Thiên Huế, nhưng do tuổi cao sức yếu, Hòa thượng đã an tường xả báo thân vào lúc 16 giờ 30 ngày 03 tháng 10 năm 2001 (nhằm ngày 17 tháng 8 năm Tân Tỵ), trụ thế 81 năm, 53 tuổi đạo.

Cuộc đời Ngài là một đóa hoa sen thanh cao, dù đã trở về cõi Niết bàn bất diệt, nhưng gương sáng về trí tuệ và phạm hạnh của Hòa thượng vẫn còn mãi với Giáo hội Phật giáo Việt Nam, với Phật tử xứ Huế, và chùa Từ Đàm quê hương. Sự hiện diện của Ngài như núi Ngự, sông Hương giữa lòng Cố đô và nền văn hóa Huế, góp phần làm rạng danh trang sử Phật giáo Việt Nam thời cận và hiện đại. Như lời tri ân sâu sắc: “Hoa đàm tuy rụng vẫn còn hương”.

NAM MÔ LÂM TẾ CHÁNH TÔNG TỨ THẬP TAM THẾ TRÙNG KIẾN THIỀN TÔN TỪ ĐÀM NHỊ TỰ TRÚ TRÌ, VIỆT NAM PHẬT GIÁO GIÁO HỘI TRỊ SỰ HỘI ĐỒNG PHÓ CHỦ TỊCH THƯỜNG TRỰC, THƯỢNG TÂM HẠ PHẬT TỰ TRÍ ĐỨC HIỆU THIỆN SIÊU HÒA THƯỢNG GIÁC LINH THÙY TỪ CHỨNG GIÁM.

[Trích Kỷ yếu Tưởng niệm HT Thích Thiện Siêu]

Khám phá thêm về cuộc đời và sự nghiệp vĩ đại của Hòa thượng Thích Thiện Siêu qua chuyên mục Tiểu sử.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang