Từ ngàn xưa, con đường hoằng dương Phật pháp tại Việt Nam đã được vun đắp bởi tâm từ bi và tinh thần kiên cường của các bậc tiền bối. Dù trải qua bao thăng trầm lịch sử, đạo pháp vẫn luôn hiện hữu, nuôi dưỡng những bậc tu hành cao cả. Khám phá hành trình ý nghĩa của những con người đã cống hiến trọn đời cho Phật pháp tại Chia sẻ Đạo Phật.
Bài tham luận của Thượng tọa Thích Nguyên Siêu
đọc trong Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư năm 2011 tại Pháp
1. Giới thiệu về sự nghiệp hoằng pháp
Con đường hoằng dương Phật pháp của Đạo Phật Việt Nam đã ghi dấu bởi những trang sử đầy lòng từ bi và tinh thần vô úy của chư vị Tổ sư qua các thời đại. Dù thăng trầm theo biến cố lịch sử, Đạo Phật luôn hiện hữu và tồn tại trong tim dân tộc suốt hai ngàn năm qua, nuôi dưỡng Tăng đoàn Việt Nam trở thành những bậc tu hành cao cả. Như lời Hòa thượng Thích Trí Quang đã viết: “Dòng máu của Tăng già Việt Nam là dòng máu trí tuệ, sáng suốt, dòng máu đại hùng, đại lực; dòng máu từ bi hỷ xả, dòng máu tinh tấn, dũng mãnh, dòng máu ấy đủ tất cả, không thiếu một đức tính tốt di truyền nào. Con đẻ của dòng máu ấy là những anh hùng vị tha, lợi tha và giác tha, cứu khổ và giải thoát cho muôn loài. Dòng máu ấy làm cho Tăng già thành bậc tai mắt của người và trời, làm kiểu mẫu cho tam giới. Dòng máu ấy đào tạo Tăng già thành những bậc giác tha, những Đức Phật. Dòng máu ấy là dòng máu Chánh giác cao cả của Đức Phật vậy.”[1]
Tiếp nối chí nguyện của chư vị Tổ đức như Thiền sư Khương Tăng Hội, Chi Cương Lương, Mâu Tử cùng nền văn hóa giác ngộ Luy Lâu, Hòa thượng Thích Thiện Minh đã tiếp nhận và thắp sáng ngọn đèn Chánh pháp. Qua những tháng ngày hoằng pháp độ sinh, Hòa thượng đã dồn hết tâm huyết phục vụ nhân quần xã hội. Với khả năng sẵn có và ý chí kiên định, Hòa thượng đã vân du khắp các miền đất nước, từ Huế lên Cao nguyên, xuống miền Nam, ra miền Trung để điều phối Phật sự, hoạch định chương trình hoằng pháp, thiết lập các cơ sở tự viện, tổ chức các đại hội từ cấp cơ sở đến trung ương, góp phần chấn hưng Phật giáo và xây dựng nền hòa bình cho dân tộc.
Với hình ảnh quen thuộc trong chiếc áo tràng đà, cặp kính gọng đen, Hòa thượng hiện lên là một bậc Tăng tướng thâm trầm, đĩnh đạt. Trong nhiều thập kỷ, ngài là cột trụ của Giáo hội, một bậc thùy mị, trang nghiêm để truyền trì mạng mạch Phật pháp. Khi dấn thân vào đời hoằng pháp, ngài là một nhà chiến lược tài ba, một nhà hùng biện xuất sắc. Ngay cả khi trải qua lao tù dưới nhiều chế độ, Hòa thượng vẫn là một Bồ tát hóa thân, chịu đựng khổ nhục thay cho chúng sinh trong thời kỳ mạt pháp. Tâm tư ngài luôn thanh thản, trầm tĩnh như chính tướng mạo của ngài. Sau năm 1975, dù bị bức hại, khủng bố, Hòa thượng vẫn giữ vững lập trường, không cộng tác với cộng sản. Ngài đã kiên cường chèo lái con thuyền Giáo hội vượt qua bão tố của chế độ khắc nghiệt. Hòa thượng đã khẳng định dứt khoát với tướng Đỗ Mậu:
“Dù tình thế có đi về đâu, thì Phật Giáo vẫn đứng trong lòng dân tộc mà đấu tranh cho đến cùng, bằng thế cách này hay chiến thuật khác. Thiếu tướng cứ tin đi, còn Giáo hội, còn tôi thì cuộc tranh đấu không bao giờ ngừng.”[2]
Hòa thượng Thích Thiện Minh là nhân tố quan trọng trong việc hoàn thành sứ mệnh cao cả của quê hương: kiến tạo nền hòa bình chân chính, dân chủ, tự do và nhân quyền. Phương châm hành đạo của ngài là phát huy đạo pháp trường tồn và thăng tiến trên lộ trình tu tập giải thoát.
2. Tiểu sử
Hòa thượng, thế danh Đỗ Xuân Hàn, pháp húy Thượng Tâm, hiệu Thiện Minh, tự Trí Nghiễm. Ngài sinh năm 1921 tại làng Bích Khê, quận Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Với túc duyên sâu dày với Phật pháp, từ thuở thiếu thời, ngài đã quy y và xuất gia với Đại lão Hòa thượng Thích Giác Nhiên, Đức Đệ Nhị Tăng Thống GHPGVNTN.
- Từ năm 1936 – 1939: Theo học lớp Sơ đẳng Phật học tại chùa Trúc Lâm – Huế.
- Từ năm 1939 – 1944: Theo học lớp Trung đẳng tại Phật học đường Báo Quốc – Huế.
- Từ năm 1944 – 1947: Theo học chương trình Đại học Phật giáo tại Phật đường Báo Quốc – Huế.
- Năm 1948: Thọ đại giới Tỳ Kheo tại giới đàn Báo Quốc, do Đức Đại lão Hòa thượng Thích Tịnh Khiết – Đức Đệ Nhất Tăng Thống GHPGVNTN làm đàn đầu. Cuối năm, ngài được cử làm Hội trưởng Hội Phật học Đà Lạt kiêm giảng sư của Giáo hội tại Lâm Đồng.
- Từ năm 1948 – 1952: Tổ chức các chi hội Phật giáo tại Cầu Đất, Sông Hinh – Blao, Di Linh, Đơn Dương, La Ba. Đồng thời, thành lập các đơn vị GĐPT Lâm Nguyên, Cầu Đất, Trại Mát, Trạm Hành… và tổ chức các trại huấn luyện Đội Chúng Trưởng, Huynh Trưởng Sơ Cấp và Cấp 1.
- Năm 1952: Được Giáo hội thỉnh cử làm Hội Trưởng Hội Phật Học Khánh Hòa. Ngài đã đóng góp công sức to lớn cho việc xây dựng và phát triển Phật giáo tại các tỉnh Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận với 4 mục tiêu chính:
- Kiện toàn cơ sở hạ tầng của Giáo hội và thành lập Ban trị sự toàn miền.
- Thành lập Phật học viện Nha Trang.
- Thành lập trường Bồ đề.
- Thành lập các GĐPT đầu tiên.
- Năm 1956: Vận động thành lập Ban tổ chức Đại hội Tổng hội Phật giáo Việt Nam lần thứ 2 tại Chùa Ấn Quang, Sài Gòn.
- Từ năm 1957 – 1960: Điều hành Phật sự tại các tỉnh miền Trung, đặc biệt là Thừa Thiên – Huế, và tổ chức các trại họp bạn ngành Thiếu GĐPT toàn quốc.
- Năm 1963: Cùng các bậc tôn túc lãnh đạo Ủy ban liên phái Bảo vệ Phật giáo, đòi hỏi chế độ Ngô Đình Diệm thi hành chính sách bình đẳng tôn giáo và công bằng xã hội.
- Năm 1964: Tại Đại hội Thống nhất Phật giáo, GHPGVNTN ra đời, ngài được thỉnh cử làm Tổng vụ trưởng Tổng vụ Thanh Niên.
- Năm 1970: Tham dự Hội nghị Tôn giáo và Hòa bình tại Tokyo, Nhật Bản.
- Năm 1973: Sau khi Hòa thượng Thích Thiện Hoa viên tịch, ngài đảm nhiệm chức vụ Quyền Viện trưởng Viện Hóa Đạo GHPGVNTN.
- Năm 1974: Được Đại hội cung thỉnh làm Cố vấn Hội Đồng Viện Hóa Đạo và tham dự Hội nghị Tôn giáo và Hòa bình tại Louvain, Bỉ Quốc.
Sau ngày đất nước chìm vào chế độ cộng sản, Đạo pháp cũng trôi nổi vô định. Vào ngày 13 tháng 4 năm 1978, Hòa thượng bị cộng sản bắt giam tại Tổng nha Cảnh sát cũ, sau đó chuyển sang trại Phan Đăng Lưu. Ngài đã trút hơi thở cuối cùng vào ngày 17 tháng 10 năm 1978, sau 6 tháng 5 ngày bị giam cầm, đánh đập và tra tấn dã man.
Suốt cuộc đời phụng sự Đạo pháp và Dân tộc, Hòa thượng Thích Thiện Minh là tấm gương sáng cho nhiều thế hệ. Ngài đã sống một cuộc đời hào hùng, đối đầu với bạo lực và ra đi với cái chết của một bậc vô úy trước bạo tàn. Sự ra đi của ngài là nỗi đau vô hạn của dân tộc, là niềm tiếc thương vô bờ của toàn thể Tăng Ni, Phật tử Việt Nam. Cho đến hôm nay, tinh thần từ bi và ý chí vô úy của ngài vẫn luôn sáng ngời trong tâm thức mỗi đoàn sinh, huynh trưởng GĐPT và ý thức Thiện Minh – ý thức hòa bình dân tộc, ý thức bất diệt cho Đạo pháp.
3. Khí khái và tinh thần bất khuất của một bậc tôn giả
Thừa hưởng dòng máu quật cường của dân tộc Việt và chí nguyện nhập thế độ đời của đạo Phật, Hòa thượng luôn giữ thái độ ung dung tự tại dù hoàn cảnh nghiệt ngã. Năm 1978, ngài lang thang từ văn phòng Viện Hóa Đạo đến chùa Già Lam, rồi chùa Pháp Vân, đến Trung tâm Quảng Đức, nhưng không nơi nào cho tá túc vì nhà cầm quyền cộng sản không cấp hộ khẩu. Hòa thượng hiểu rằng nhà tù chính là nơi dung thân cuối cùng. Ngài chuẩn bị hành trang với hai bộ quần áo, y hậu và vài vật dụng cá nhân, sẵn sàng đối diện với nhà tù cộng sản, nơi được xem là chốn an nghỉ cuối cùng. Cánh cửa nhà tù khép lại, chôn vùi hình ảnh một kẻ sĩ xuất trần, nhưng không thể vùi lấp chí nguyện hóa độ của bậc thượng nhân lợi tha, giác ngộ.
Làng Bích Khê, quê hương của Hòa thượng, một vùng đất nghèo khó, khô cằn, nằm bên dòng sông Thạch Hãn lịch sử, nơi phân chia ranh giới Bắc Nam. Chính từ mảnh đất này, ý thức “Thiện Minh” về sứ mệnh đạo pháp và quê hương đã hình thành, kết tinh nên con người “Thiện Minh” lịch sử. Quảng Trị, với những đêm mưa đông, ngày nắng hạ, đã nuôi dưỡng trái tim dân tộc bằng ý chí “Thiện Minh”, người con trong lòng Đạo Pháp.
“Thiện Minh” là tên người lãnh đạo GHTN bất khuất, được cả một thế hệ tôn sùng. Ngài là hiện thân của dòng lịch sử dân tộc kiêu hùng. Ngọn đuốc “Thiện Minh” soi đường trong bóng tối, lay động lương tri của những kẻ bạo hành, phi nhân. Bài học “Thiện Minh” là bài học ngàn vàng mà mọi thế hệ đều phải học: bài học về sự can cường, bất khuất, dũng cảm, hy sinh, quên mình và không thù hận. Bài học về trung nghĩa, từ bi, hỷ xả, trí tuệ của Tăng đoàn Việt Nam. “Thiện Minh” là con người của ý thức hệ, của lương tâm, của những người đang sống với lý tưởng hòa bình. Ý thức “Thiện Minh” được khơi nguồn từ thuở sơ khai lịch sử dân tộc, mang trong mình tự tính hào hùng, bất khuất, can cường và không hận thù.
Ý thức “Thiện Minh” mang đến bài học lịch sử qua cuộc đối đáp của Hòa thượng với đại diện cộng sản Việt Nam, Mai Chí Thọ. Khi Mai Chí Thọ thách thức: “Có thể các Thầy nói hàng ngàn người nghe, chúng tôi nói không ai nghe, nhưng chúng tôi có súng, có nhà lao, có quân đội. Tất cả chúng tôi có trong tay. Liệu các Thầy có chống đối được không và chống đối đến bao giờ?”, Hòa thượng đã đáp lại bằng thái độ điềm tĩnh, từ hòa:
“Tôi nghĩ rằng có lẽ ông đã nói sai. Hơn ai hết ông biết rằng trong suốt thời gian đương đầu với Pháp và với Mỹ, kẻ khác chứ không phải là ông đã nói ra những câu tương tự như vậy. Lịch sử đã chứng minh rằng súng đạn và nhà tù không phải là tất cả, lại càng không phải là yếu tố tất thắng. Một Ngô Đình Diệm với chín năm cai trị bằng mật vụ; một Tần Thủy Hoàng với chính sách bạo ngược đốt sách, chôn học trò. Kết quả như thế nào? Đúng, chúng tôi một tấc sắt cũng không có trong tay và các ông thì có tất cả. Nhưng chúng tôi biết bài học lịch sử.”
Lời nói của Hòa thượng đã được lịch sử chứng minh. Không lâu sau đó, các nước cộng sản Đông Âu sụp đổ, Liên Xô tan rã. Điều này cho thấy, súng đạn, nhà tù, quân đội không phải là yếu tố quyết định chiến thắng.
4. Nỗi tang thương hay niềm đau của dân tộc?
Hình ảnh cố Hòa thượng Thích Thiện Minh, người con của Đạo Pháp, hiện lên trong sự bầm tím, râu tóc dài, yên nghỉ trong chiếc quan tài. Tất cả những gì còn lại của ngài đều bị che lấp, không ai biết có những vết tích nào trên thân thể ngài hay không.
“Hòa Thượng Thích Thiện Minh, chiến lược gia của GHPGVNTN, người đã từng ở tù trong cả ba chế độ, hôm 17 tháng 10 năm 1978 đã bỏ mình trong một nhà tù của cộng sản tại thành phố Hồ Chí Minh.” Đây là tin tức từ đài BBC London.
“Hình ảnh cuối cùng của Thượng tọa Thiện Minh mà người ta thấy, là một thi thể được che phủ kín mít, nằm tại một khu rừng ở Hàm Tân (Bình Tuy) ngày 18 tháng 10, 1978. Hòa thượng Thích Trí Thủ, Viện trưởng Viện Hóa Đạo là một trong số rất ít người được công an thành phố Sài Gòn cho phép đến thăm và nhìn thi thể của Thượng tọa lần chót. Khi Hòa thượng Trí Thủ giở tấm vải che mặt, những người chứng kiến xúc động, thấy khuôn mặt của Thượng tọa bầm đen và râu tóc trắng xóa mọc dài. Những gì có thể thấy được và biết được về Thượng tọa Thiện Minh chỉ có thế. Chính quyền cộng sản Việt Nam cũng muốn gói trọn cái thi thể và tất cả những tin tức về cái chết của Thượng tọa Thiện Minh tại khu rừng Hàm Tân xa xôi, hẻo lánh.” (Sđd trang 68).
5. Chí nguyện xuất trần – Sự nghiệp bảo vệ Đạo Pháp và quê hương
Kiến tạo nền hòa bình cho Việt Nam Dân Chủ tự do:
Từ lúc sinh tiền, Hòa thượng luôn hành hoạt với tầm nhìn xa trông rộng, nghĩ trước những gì người khác nghĩ và làm trước những gì thế gian thường làm. Do đó, ngài luôn tâm niệm xây dựng nền hòa bình cho quê hương dân tộc. Trải qua chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, Việt Nam luôn chịu áp lực từ các thế lực ngoại bang, người dân sống trong cảnh lầm than. Hòa bình là điều kiện tất yếu để tái lập giá trị trong mọi lĩnh vực xã hội. Dân chủ, tự do, nhân quyền là sức mạnh sống của một nền văn minh, tiến bộ. Hòa thượng đã dốc hết tâm huyết để cất lên tiếng nói hòa bình, khơi dậy ý thức hòa bình, giúp dân tộc biết yêu thương, xây dựng ý thức sống dân chủ, tự do. Đây chính là tinh thần tự chủ, độc lập để bảo vệ quê hương, nuôi lớn dân tộc. Tiếc thay, tiếng nói hòa bình của ngài đã bị dập tắt bởi các thế lực chính trị, và bản thân ngài đã phải trải qua tù đày, ám sát thương đau. Tuy nhiên, dù bị tù đày, ám sát, ý thức và tiếng nói hòa bình của ngài vẫn luôn tuôn chảy sâu đậm trong tâm thức dân tộc Việt, trở thành sự nghiệp hằng hữu trong triệu triệu con tim người Việt Nam, là niềm ngưỡng vọng của nhân loại.
Gìn giữ cương lĩnh để xây dựng và phát huy GHTN:
Từ những ngày đầu thành lập GHPGVNTN năm 1964, Hòa thượng là một trong những bậc tôn túc dấn thân, hy sinh cả thân mạng để giữ vững lý tưởng và sự tồn vong của Giáo hội. Trong Hội Đồng Viện, ngài được thỉnh cử làm Tổng vụ trưởng Tổng vụ Thanh Niên, rồi Quyền Viện trưởng và Cố vấn Viện Hóa Đạo GHTN. Trên các cương vị này, ngài đã lèo lái con thuyền Giáo hội vượt qua nhiều thác ghềnh, bão tố cuộc đời, dù bản thân phải hứng chịu bao gian nguy, thử thách. Ngài được xưng danh là chiến lược gia của Giáo hội, với những hoạch định, phương án hành động đúng theo phương châm hiến chương: “Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất không đặt sự tồn tại nơi nguyên vị cá biệt mà đặt sự tồn tại ấy trong sự tồn tại của nhân loại và dân tộc”.
Hòa thượng đã đi theo phương châm của Giáo hội, vì phúc lợi dân tộc, vì sự thịnh suy của Đạo Pháp, quê hương mà dấn thân phụng sự trên mọi nẻo đường đất nước. Các chức vụ Quyền Viện trưởng, Cố vấn chỉ đạo Viện Hóa Đạo đã cho thấy tầm quan trọng của ngài trong Giáo hội. Trải qua bao thời đại, ngài không có được sự bình yên. Sự hiện thân của ngài trong Giáo hội là hình ảnh mẫu mực, nắm vững lập trường của dòng lịch sử Phật Việt.
Hàm dưỡng GĐPT, học sinh, sinh viên Phật tử, Hướng đạo thanh niên Phật tử, người cha tinh thần của nhiều thế hệ trẻ:
Sau khi nhận chức Tổng vụ trưởng Tổng vụ Thanh niên, Hòa thượng đã hết lòng chăm lo cho giới trẻ. Một mặt, ngài soạn thảo kế hoạch thành lập GĐPT ở những miền còn khó khăn; mặt khác, lên chương trình hoạt động cho các GĐPT đã hình thành, coi đó là bước tiến trên con đường tu học. Ngài đã đích thân vân du đến các địa phương để mở các trại huấn luyện Đàn Đội, Chúng trưởng, trại Lộc Uyển cho các huynh trưởng, cùng các trại A Nô Ma Ni Liên, Trại A Dục, Huyền Trang…
Là vị cha tinh thần, Hòa thượng quan niệm thế giới người trẻ là cốt lõi của tương lai, là thế hệ nắm giữ vận mệnh Đạo Pháp. Họ là trụ cột, sức mạnh phụng sự lý tưởng thượng cầu hạ hóa. Nếu tre tàn mà măng không mọc thì Đạo Pháp khó duy trì. Bằng tấm lòng hàm dưỡng thế hệ trẻ, Hòa thượng thấu hiểu và cảm thông. Ngài gần gũi tâm tình, chia sẻ kinh nghiệm. Cho đến nay, các trưởng lão khi nhắc về ngài đều không khỏi xúc động, bàng hoàng bằng tấm lòng thương kính, quý trọng.
Hình bóng của Hòa thượng là hình bóng người cha già đối với tổ chức GĐPT Việt Nam. Ngài đã giáo dục toàn diện cho lớp người trẻ, thực sự là sự nghiệp hàm dưỡng những người làm lợi đạo, ích đời, nhân tố xây dựng một xã hội chân, thiện, mỹ. Đó là sự nghiệp nuôi dưỡng người cho Đạo Pháp và quê hương.
6. Kết luận
Nói về cuộc đời và sự nghiệp của Hòa thượng Thích Thiện Minh là nói về tinh thần Thiền học, khả năng tu chứng của các bậc Tổ đức Thiền gia. Nói về tinh thần nhập thế vì chúng sinh mà phát khởi bi nguyện hóa độ. Hòa thượng hiện hữu vào đời mà không để lại dấu vết, xả bỏ báo thân, nhẹ bước ra đi cũng chẳng mảy may in dấu bụi trần. Đến đi như nội dung bài kệ của Hương Hải Thiền sư:
“Nhạn quá trường không
Ảnh trầm hàn thủy
Nhạn vô tích chi ý
Thủy vô lưu ảnh chi tâm.”
Là hàng hậu duệ, môn nhân, pháp phái của Đức Đệ Nhị Tăng Thống, Hòa thượng đã viết nên dòng lịch sử đại hùng bằng tiếng hống sư tử làm kinh sợ các loài sơn lâm, thảo khấu. Một khi công viên quả mãn, sự hóa độ vuông tròn, Hòa thượng lại:
“Nhất bát thiên gia phạn
Cô thân vạn lý du
Kỳ vi sanh tử sự
Giáo hóa độ xuân thu.”
Đó là hạnh nguyện của Bồ Tát, khi thì “thõng tay vào chợ” độ người cá tôm, khi thì “hòa quang đồng trần” để:
“Thật tế lý địa bất thọ nhất trần
Phương tiện môn trung bất xả nhất pháp”
Hôm nay, trong Ngày Về Nguồn lần thứ 5 tại Pháp Quốc, ngày Hiệp Kỵ Chư Vị Lịch Đại Tổ Sư tại ngôi chùa mang tên ngài, Chùa Thiện Minh, Lyon, Pháp quốc, đã đi vào trang lịch sử hoằng pháp hải ngoại. Tất cả Chư Tôn Đức Tăng Ni hiện diện hôm nay, nhất tâm đảnh lễ Giác linh Hòa thượng. Nguyện cầu Hòa thượng xót thương gia hộ cho Đạo Pháp trường tồn, GHPGVNTN sớm phục hoạt để tiếp tục hoàn thành những Phật sự còn dang dở của ngài. Và bằng tâm nguyện từ thuở sinh tiền, Giác linh Hòa thượng thùy từ chứng giám cho một quê hương Việt Nam giàu đẹp, thái hòa; con dân Việt Nam ấm no, hạnh phúc và có đủ các quyền làm người tự do, dân chủ như ước nguyện của muôn dân.
Ngày 10 tháng 9 năm 2011
Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư – Ngày Về Nguồn Lần thứ 5 tại chùa Thiện Minh, Lyon – Pháp quốc.
Thích Nguyên Siêu
________________
[1] Tăng già Việt Nam, nhà xuất bản Phú Lâu Na, 1991, tr. 35. HT Trí Quang.
[2] Cố Hòa Thượng Thích Thiện Minh, 1983. Tr 65. Thích Mãn Giác.
Để tìm hiểu sâu hơn về cuộc đời và sự nghiệp của những bậc chân tu, mời bạn khám phá thêm trong chuyên mục Tiểu sử.

