Khám phá cuộc đời và sự nghiệp đầy cống hiến của Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang, vị Đệ Tứ Tăng Thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất, người đã dành trọn đời mình cho đạo pháp và dân tộc. Tìm hiểu thêm về hành trình tu tập, đấu tranh và những di sản vô giá mà Ngài để lại qua Website Chia sẻ Đạo Phật.
TIỂU SỬ VÀ CÔNG HẠNH
CỦA ĐẠI LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH HUYỀN QUANG,
ĐỆ TỨ TĂNG THỐNG
GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT
Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang, thế danh Lê Đình Nhàn, sinh ngày 08 tháng 8 năm Canh Thân (1920) tại thôn Háo Đức, xã Nhơn An, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Ngài xuất thân trong một gia đình Nho học có truyền thống, với thân phụ là ông Lê Vỵ và thân mẫu là bà Ngô Thị Tư. Ngay từ thuở thiếu thời, Ngài đã bộc lộ trí tuệ và khả năng ghi nhớ vượt trội khi theo học chữ Nho cùng ông nội và thân phụ.
Con đường xuất gia và tu tập
Năm 1934, nhận thấy tư chất của Ngài, gia đình đã cho Ngài theo học Đông y tại chùa Vĩnh Khánh dưới sự chỉ dạy của Cố Hòa thượng Thích Chí Tâm. Tuy nhiên, với sự thông tuệ và kiến thức uyên bác về kinh điển, Ngài đã được Hòa thượng hướng dẫn trên con đường xuất gia và quy y Tam Bảo.
Năm 1935, Ngài chính thức thụ giới Sa Di dưới sự chứng minh của Cố Hòa thượng Thích Chí Tâm, pháp danh Như An, pháp tự Giải Hòa, và đã đỗ thủ khoa trong kỳ khảo hạch. Cùng năm, Bổn sư của Ngài đã viên tịch.
Năm 1937, Ngài được Hòa thượng Thích Trí Hải, pháp hiệu Huyền Quang, nhận làm Bổn sư, ban pháp danh Ngọc Tân, pháp tự Tịnh Bạch. Tại giới đàn chùa Hưng Khánh, Ngài đã đặc cách thọ Cụ Túc Giới và Bồ Tát Giới dù chưa đủ tuổi, một lần nữa khẳng định tài đức xuất chúng khi lại một lần nữa đỗ thủ khoa.
Hoạt động Phật sự và công cuộc đấu tranh
Từ năm 1938 đến 1945, Ngài theo học tại Phật học đường Lưỡng Xuyên (Trà Vinh) và sau đó là Phật Học Đường chùa Báo Quốc (Huế), nơi Ngài đồng học với nhiều bậc cao Tăng danh tiếng khác. Tuy nhiên, do biến động chiến tranh, con đường học vấn của Ngài bị gián đoạn.
Tháng 8 năm 1945, Ngài tham gia kháng chiến chống Pháp, thành lập Phật giáo Cứu Quốc Liên khu 5 và giữ chức Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký. Do những hoạt động tích cực, Ngài đã bị chính quyền Việt Minh theo dõi và bắt giữ vào năm 1951 vì phản đối sự can thiệp vào nội bộ Phật giáo. Ngài được trả tự do trước Hiệp định Genève một tháng.
Năm 1955, Ngài hướng dẫn Tăng sinh Bình Định vào Phật học đường chùa Long Sơn (Nha Trang) và giữ chức Giám đốc từ năm 1955 đến 1957. Sau đó, Phật Học Đường Long Sơn và Phật Học Đường Báo Quốc hợp nhất thành Phật Học Viện Trung Phần Hải Đức, đào tạo Tăng tài cho cả nước.
Năm 1958, Ngài cùng chư Tăng Bình Định khai sơn Tu viện Nguyên Thiều và thành lập Phật học viện Nguyên Thiều, giữ vai trò Giám Viện cho đến cuối đời.
Năm 1962, Ngài đảm nhiệm chức vụ Phó Hội trưởng Hội Phật học Trung Phần kiêm Hội trưởng Hội Phật giáo Thừa Thiên – Huế.
Năm 1963, Ngài tích cực tham gia cuộc vận động đòi quyền bình đẳng tôn giáo, chống lại Dụ số 10 của chính quyền Ngô Đình Diệm. Trong biến cố Phật giáo năm 1963, Ngài bị bắt và được trả tự do vào ngày 01 tháng 11 năm 1963.
Cuối năm 1963, Đại hội Phật giáo toàn quốc tại Sài Gòn đã thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN). Ngài được cung thỉnh giữ chức Tổng Thư ký Viện Hóa Đạo kiêm Tổng Vụ trưởng Tổng Vụ Cư Sĩ.
Trong các năm tiếp theo, Ngài đã tham gia nhiều hoạt động quốc tế quan trọng, đại diện Viện Hóa Đạo tham dự các Đại hội Tôn giáo Thế giới tại Nhật Bản (1970), Thụy Sĩ (1972), và thăm viếng các thánh tích Phật giáo tại Thái Lan (1964, 1973) và Ấn Độ (1971).
Năm 1974, Ngài được cung thỉnh vào chức vụ Phó Viện trưởng Viện Hóa Đạo.
Giai đoạn 1975-1978, với tư cách Phó Viện trưởng, Ngài đã tiến hành điều tra và phúc trình về các vụ đàn áp, chiếm dụng cơ sở Phật giáo của chính quyền Cộng sản Việt Nam. Ngày 06 tháng 04 năm 1977, Ngài bị bắt giữ và sau 18 tháng tù, bị tuyên án 2 năm tù và quản chế tại chỗ.
Dù bị quản thúc, Ngài vẫn kiên quyết phản đối việc thành lập GHPGVN do chính quyền Cộng sản chủ trương. Vì vậy, Ngài tiếp tục bị bắt vào ngày 25 tháng 02 năm 1982 và bị trục xuất về an trí tại chùa Hội Phước, tỉnh Nghĩa Bình, với lệnh cấm hành nghề tôn giáo và phiên dịch kinh điển.
Giai đoạn an trí và phục hồi Giáo hội
Từ năm 1983 đến 1995, trong suốt 16 năm an trí, Ngài đã chí thành đọc và nghiên cứu toàn bộ Đại Tạng Kinh.
Ngày 23 tháng 4 năm 1992, sau khi Cố Đại lão Hòa thượng Thích Đôn Hậu viên tịch, Ngài đã mạnh mẽ yêu cầu được đến Huế dự tang lễ. Trước sự cương quyết của Ngài, chính quyền đã cho phép. Tại tang lễ, Ngài đã nhận ấn tín và di chúc của Đức Đệ Tam Tăng Thống, thể hiện tâm nguyện phục hồi GHPGVNTN. Ngài tuyên bố: “Dầu có muôn ngàn khó khăn đi nữa, con vẫn không bao giờ chùn bước, quyết đòi hỏi nhà nước phải để GHPGVNTN phục hồi và được sinh hoạt bình thường như trước năm 1975”.
Tiếp nối di huấn, Ngài giữ cương vị Quyền Viện trưởng Viện Hóa Đạo kiêm Xử lý Viện Tăng Thống. Ngày 25 tháng 6 năm 1992, Ngài gửi yêu sách 9 điểm lên chính quyền Cộng sản Việt Nam, lên án việc đàn áp Giáo hội và sự thành lập GHPGVN như một công cụ chính trị.
Trong nhiều năm sau đó, Ngài liên tục gửi các văn bản lên chính quyền, phơi bày những sai lầm của Đảng Cộng sản đối với Phật giáo và dân tộc, kêu gọi Tăng Ni, Phật tử bảo vệ chánh pháp và Giáo hội. Tuy nhiên, những nỗ lực này không nhận được hồi đáp.
Ngày 05 tháng 11 năm 1994, Ngài bị chính quyền Quảng Ngãi dời đến chùa Quang Phước, một vùng núi xa xôi, để dễ quản lý hơn. Dù bị quản thúc nghiêm ngặt, Ngài vẫn hoàn tất bộ Pháp Sự Khoa Nghi và dịch một số kinh điển khác.
Tháng 3 năm 2003, Ngài được phép ra Hà Nội chữa bệnh và có dịp tiếp kiến Thủ tướng Phan Văn Khải. Trong cuộc gặp này, Ngài đã yêu cầu giải quyết về việc đình chỉ sinh hoạt của GHPGVNTN, sự quản chế của Ngài và Hòa thượng Thích Quảng Độ, nhưng không nhận được sự đáp ứng.
Ngày 02 tháng 05 năm 2003, Ngài thực hiện chuyến thăm Sài Gòn để thẩm định quan điểm của quần chúng và Tăng Ni, Phật tử đối với GHPGVNTN. Ngài nhận định: “Tinh thần Tăng Ni Phật tử vẫn còn niềm tin ở GHPGVNTN mặc dù gần 30 năm Giáo Hội không sinh hoạt”. Sau đó, Ngài trở về Tu viện Nguyên Thiều.
Tại Tu viện Nguyên Thiều, dù tuổi già sức yếu, Ngài vẫn thao thức cho tiền đồ Phật giáo, vận động thành lập ban trích lục Đại Tạng Kinh và dự định xây dựng một trường Đại học Phật giáo. Tuy nhiên, do hoàn cảnh Giáo hội chưa phục hoạt và bản thân Ngài chưa được tự do, những tâm nguyện này chưa thể thực hiện.
Cuối tháng 9 năm 2003, phái đoàn Viện Hóa Đạo do Hòa thượng Thích Quảng Độ dẫn đầu đã đến thăm Ngài. Cùng lúc đó, chư vị Hòa thượng, Thượng tọa từ Huế và các tỉnh khác cũng tề tựu về Tu viện Nguyên Thiều để bàn bạc việc củng cố nhân sự Hội đồng Lưỡng viện nhằm phục hoạt Giáo hội. Ngày 01 tháng 10 năm 2003, Đại hội Bất thường GHPGVNTN đã được tổ chức thành công tại Tu viện Nguyên Thiều, với sự tham dự của Ngài và Hòa thượng Thích Quảng Độ.
Sau Đại hội, Ngài và Hòa thượng Thích Quảng Độ gặp nhiều khó khăn từ chính quyền. Ngày 09 tháng 10 năm 2003, Ngài bị công an tỉnh Bình Định thẩm vấn gắt gao và đưa về Tu viện Nguyên Thiều trong tình trạng kiệt sức. Từ thời điểm này, Tu viện Nguyên Thiều gần như bị phong tỏa, và mọi hoạt động liên quan đến GHPGVNTN đều bị theo dõi chặt chẽ.
Dựa trên ý chỉ của Ngài và Hòa thượng Thích Quảng Độ, GHPGVNTN hải ngoại đã tổ chức Đại hội Bất thường mở rộng tại Tu viện Quảng Đức, Melbourne, Úc Châu vào ngày 10 tháng 10 năm 2003. Đại hội này đã công bố nhân sự lãnh đạo Giáo hội trong nước và hải ngoại, đồng thời suy tôn Ngài lên ngôi vị Đệ Tứ Tăng Thống GHPGVNTN.
Những năm tháng cuối đời và Di sản
Ngày 29 tháng 9 năm 2006, Ngài bị suy tim và được đưa vào Bệnh viện Chợ Rẫy, Sài Gòn. Hòa thượng Thích Quảng Độ và chư vị giáo phẩm trong Viện Hóa Đạo đã tận tình chăm sóc.
Sau khi bệnh tình thuyên giảm, Ngài được xuất viện và trở về Tu viện Nguyên Thiều. Hàng ngày, Ngài vẫn lên tháp chuông để cầu nguyện quốc thái dân an và chúng sinh tỉnh ngộ.
Ngày 27 tháng 5 năm 2008, bệnh tim tái phát, Ngài được đưa vào Bệnh viện Đa Khoa Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Dù được các y bác sĩ và chư tôn đức tận tình chăm sóc, sức khỏe của Ngài không thể hồi phục do tuổi cao sức yếu.
Nhận biết quy luật vô thường, Ngài bày tỏ nguyện vọng trở về Tu viện Nguyên Thiều. Ngày 04 tháng 7 năm 2008, Ngài được cung đón về Tu viện Nguyên Thiều.
Vào lúc 1 giờ 15 phút chiều ngày 05 tháng 7 năm 2008, Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang đã an nhiên viên tịch tại Phương trượng Tu viện Nguyên Thiều, tỉnh Bình Định, trụ thế 89 năm và 69 hạ lạp.
Trong suốt cuộc đời, Ngài luôn tâm niệm hai trọng trách: mở trường lớp đào tạo Tăng Ni và phiên dịch, trước tác kinh luật luận để truyền bá giáo lý. Chính vì lẽ đó, Ngài đã tinh cần đọc toàn bộ Đại Tạng Kinh trong suốt thời gian lao tù và quản chế. Ngài cũng đã biên soạn và phiên dịch nhiều tác phẩm giá trị, tiêu biểu như:
- Thiền Môn Chánh Độ
- Sư tăng và Thế nhơn
- Nghi cúng chư Tổ và Chư vị Cao Tăng
- Đạo Tràng Công Văn Tân Soạn
- Thiếu Thất Lục Môn
- Phật Pháp Hàm Thụ
- Pháp Sự Khoa Nghi
- Nghi Thức Cúng Giao Thừa
- Phật Pháp Áp Dụng Trong Đời Sống Hằng ngày
Cuộc đời của Cố Đại lão Hòa thượng Đệ Tứ Tăng Thống là một tấm gương sáng về hạnh nguyện xuất trần, cứu khổ quần sinh. Với nếp sống giản dị, tâm lượng bao dung, trí tuệ sâu sắc, Ngài là một nhà lãnh đạo đức độ, bản lĩnh và sáng suốt. Ngài là bậc cao Tăng thạc đức hiếm có, một chỗ dựa vững chắc cho Tăng Ni và Phật tử Việt Nam.
Sự ra đi của Ngài là mất mát to lớn cho môn đồ pháp quyến, cho Giáo hội và cho Phật giáo Việt Nam. Dù biết rằng sinh tử là quy luật tự nhiên, nhưng sự tiếc thương dành cho một bậc Thầy cao quý như Ngài là vô hạn.
Chúng con xin hướng về Tu viện Nguyên Thiều, nơi nhục thân Ngài còn được tôn trí, thành kính đảnh lễ Giác Linh Cố Đại lão Hòa thượng Đệ Tứ Tăng Thống GHPGVNTN thượng Huyền hạ Quang. Nguyện Ngài từ bi tiếp tục giáo hóa chúng sinh.
Nam Mô tự Lâm Tế chánh tông tứ thập nhất thế, Nguyên Thiều Tu Viện Khai Sơn Phương Trượng, Việt Nam Phật Giáo Thống Nhất Giáo Hội Đệ Tứ Tăng Thống, húy thượng Như hạ An, tự Giải Hòa, hiệu Huyền Quang Đại Lão Hòa Thượng Giác linh.
Môn Đồ Hiếu Quyến
(đồng kính soạn)
Đừng bỏ lỡ những câu chuyện đầy ý nghĩa khác về cuộc đời các bậc tu hành cao cả, hãy khám phá thêm trong chuyên mục Tiểu sử.

