Khám phá cuộc đời và di sản của Hòa thượng Thích Minh Chiếu, một bậc chân tu đã cống hiến trọn đời cho đạo pháp và chúng sanh. Ngài không chỉ là một nhà hoằng pháp tài đức mà còn là người biên soạn và gìn giữ kho tàng giáo lý quý báu cho Phật giáo Việt Nam. Tìm hiểu thêm về cuộc đời Ngài tại Website Chia sẻ Đạo Phật.

Tiểu sử Trưởng lão Hòa thượng Thích Minh Chiếu
(1932 – 2020)
Thân thế và quá trình tu học
Ngài, húy là Văn Sung, pháp danh Thượng Nguyên Hạ Quảng, tự Minh Chiếu, hiệu Hải Ân, sinh ngày 10 tháng 4 năm 1932 (nhằm ngày 05 tháng 03 Âm lịch năm Nhâm Thân) tại làng Vạn Xuân, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên – Huế.
Thân phụ Ngài, húy là Văn Minh, sau này xuất gia với Hòa thượng Thích Ngộ Chí tại Chùa Long Sơn, Nha Trang, được ban pháp danh Thượng Trừng Hạ Khánh, hiệu Từ Minh, đạo hiệu Thích Chánh Hóa. Ngài đã kế thừa trụ trì Chùa Long Sơn, một trung tâm đào tạo Tăng tài quan trọng cho Phật giáo miền Trung từ năm 1936 đến 1957.
Thân mẫu là cụ bà Đoàn Thị Tuất. Gia đình có năm người con, Ngài là con trai lớn. Năm 1942, sau khi thân mẫu viên tịch, Ngài cùng các chị em chuyển vào Chùa Long Sơn, Nha Trang, theo học chương trình tại trường Khánh Hòa. Tại đây, Ngài kết duyên lành với Hòa thượng Thích Chí Tín, vị kế thế trụ trì đời thứ ba của Chùa Long Sơn.
Năm 17 tuổi (1949), Ngài được Hòa thượng Thượng Tâm Hạ Thông, hiệu Quảng Nhuận, trụ trì Tổ đình Từ Quang (Huế), cho thế phát xuất gia tại Chùa Linh Quang, Đà Lạt. Ngài được ban pháp danh Thượng Nguyên Hạ Quảng, tự Minh Chiếu. Cùng năm, Ngài theo học lớp Phật học do Hòa thượng Thích Thiện Minh khai giảng tại Chùa Linh Sơn, Đà Lạt, và được thọ giới Sa Di. Năm 19 tuổi (1951), Ngài ra Huế theo học tại Tăng Học Đường Báo Quốc. Một năm sau, Ngài thọ cụ túc giới tại chính ngôi Tổ đình này.
Năm 1954, Ngài hoàn thành chương trình Đại học Phật giáo tại Tăng Học Đường Báo Quốc – Huế, được ghi nhận là một trong những học trò xuất sắc của Hòa thượng Thích Trí Thủ, Giám viện Phật học viện Trung Phần.
Sự nghiệp hoằng pháp và phụng sự
Sau khi tốt nghiệp, năm 1956, Ngài được phân công về làm Chi hội trưởng Chi hội Phật giáo kiêm Giảng sư tại huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa, và trụ trì Tổ đình Thiên Phước. Cùng năm, Ngài khai sơn Chùa Đức Hòa tại địa phương này.
Năm 1959, Ngài được mời về làm Phó Giám viện Phật học viện Phổ Đà – Đà Nẵng, kiêm Giảng sư tại tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng.
Trong giai đoạn pháp nạn năm 1963, Ngài cùng chư Tôn Đức tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng đã tích cực tham gia phong trào bảo vệ đạo pháp.
Năm 1964, khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) được thành lập, Ngài được cung thỉnh làm Chánh đại diện GHPGVNTN tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng. Cùng năm, Ngài giữ chức Chánh sở Nha Tuyên úy Phật giáo Vùng I Chiến thuật cho đến năm 1966.
Sau pháp nạn 1963, Ngài đã vận động thành lập trường Trung học Bồ Đề – Đà Nẵng, một cơ sở giáo dục phổ thông cho Tăng Ni và con em Phật tử. Trường bắt đầu hoạt động từ năm 1964.
Để hỗ trợ tài chính cho Phật học viện Phổ Đà, năm 1964, Ngài đã khai khẩn một khu đất rộng lớn ven biển gần núi Sơn Trà để trồng trọt, cung cấp thực phẩm và nơi nghỉ dưỡng cho Tăng chúng.
Năm 1965, Ngài thành lập Trung tâm Từ thiện – Xã hội, bao gồm phòng khám Đông y, quán cơm chay Bồ Đề Hoa Sen, cùng nhiều cơ sở khác tại Đà Nẵng, nhằm tạo nguồn tài chính tự túc cho công tác đào tạo Tăng tài.
Cũng trong năm 1965, Ngài thành lập Chùa Từ Tâm tại Trung tâm Y tế Toàn Khoa Đà Nẵng để phục vụ nhu cầu tín ngưỡng của bệnh nhân. Đến năm 1976, ngôi chùa này không còn hoạt động.
Năm 1972, Ngài cùng Hòa thượng Thích Hạnh Đạo lập một trang trại tại Long Thành, Đồng Nai để ẩn tu. Sau năm 1975, Ngài lần lượt tạm trú tại các tự viện như Chùa Hưng Long (Quận 10, TP.HCM), Chùa Phú Hòa (Quận Tân Bình, TP.HCM), và Chùa Báo Ân (Quận Tân Bình, TP.HCM).
Từ năm 1981, dù không có nơi cư trú ổn định, Ngài vẫn nhận lời mời đến giảng dạy tại nhiều tự viện như Chùa Báo Ân, Chùa Phật Ân (Long Thành – Đồng Nai).
Năm 2000, Ngài an trú tại Chùa Phật Ân, Long Thành – Đồng Nai, dành thời gian biên soạn giáo lý và giáo dưỡng học chúng.
Năm 2005, Ngài được cung thỉnh làm thành viên Hội đồng Trưởng lão Viện Tăng Thống GHPGVNTN. Năm 2012, Ngài đảm nhiệm vai trò Đệ nhất Phó Thượng thủ Hội đồng Tăng Già Bản Thệ (GHPGVNTN). Trên cương vị này, Ngài đã làm Giáo thọ A xà lê cho các Đại giới đàn Đức Nhuận (2013) và Thiện Mình (2017).
Năm 2018, Ngài được tấn phong lên ngôi vị Thượng thủ Hội đồng Tăng Già Bản Thệ cho đến ngày viên tịch.
Sáng tác và biên soạn giáo lý
Trong suốt cuộc đời hoằng pháp, dù đảm nhiệm nhiều Phật sự, Hòa thượng luôn dành thời gian và tâm huyết biên soạn, ấn tống các bộ sách giáo lý, bài giảng để làm tài liệu tu học cho Tăng Ni, Phật tử. Ngay cả trong những năm tháng cuối đời, Ngài vẫn tiếp tục chí nguyện này.
Các tác phẩm tiêu biểu của Ngài bao gồm:
I – Truyện:
- Truyện cổ Phật giáo (gồm 295 truyện)
II – Nghi lễ:
- Nghi Tiến Giác linh Việt văn
- Nghi Tiến linh Việt văn
- Văn tác bạch cúng dường
- Đạo từ
III – Bài giảng:
- Đạo Phật
- Đạo Phật với Dân tộc
- Đạo Phật với Đạo Đức
- Vu lan – Hiếu
- Tâm
- Bố Thí
- Trì Giới
- Nhẫn Nhục
- Tinh Tiến
- Từ Bi
- Sám Hối
- Thiện Ác Nghiệp Báo
- Luân Hồi
- Vu lan Nhớ Mẹ
- Vô Thường
- Niệm Phật Cầu sanh Tịnh Độ
IV – Sưu tầm thơ:
- Ngàn Năm Giọt nước có còn không (3 tập)
Trọn đời phụng sự
Với tinh thần của một vị “Thích Tử” thiền môn, Ngài đã sống trọn vẹn đời mình phụng sự đạo pháp và chúng sanh:
Nhứt bát thiên gia phạn,
Cô thân vạn lý du
Kỳ vi sanh tử sự
Giáo hóa độ xuân thu.
Hòa thượng đã xả báo thân vào lúc 14 giờ 50 phút ngày 07 tháng 05 năm 2020 (nhằm ngày 15 tháng 04 năm Canh Tý), trụ thế 89 năm, với 69 năm hạ lạp.
Sự ra đi của Ngài là một mất mát lớn lao đối với Giáo hội, Tăng Ni, Phật tử và môn đồ pháp quyến.
Nam Mô Tự Lâm Tế Chánh Tôn Tứ Thập Tứ Thế thượng Nguyên hạ Quảng, tự Minh Chiếu, hiệu Hải Ân, Thái quý công Trưởng Lão Hòa Thượng Giác Linh thùy từ chứng giám.
Để hiểu rõ hơn về cuộc đời và những đóng góp của bậc chân tu này, mời bạn khám phá chi tiết trong chuyên mục Tiểu sử.
