Niệm Phật mang lại sức mạnh nhiệm màu: Khám phá bí ẩn

niem phat 1507 1
× 🎁 Ưu đãi Shopee hôm nay – Nhấn nhận ngay!
🔥 Ưu đãi Shopee - Bấm để xem ngay!
0
(0)

Dù hai con đường tu tập tưởng chừng khác biệt, song hành trình hướng về đỉnh cao giác ngộ vẫn có thể song hành. Sự nhầm lẫn giữa hình tướng và bản chất của việc niệm Phật đã khiến nhiều người chưa nhận ra sức mạnh ẩn chứa bên trong. Hãy cùng khám phá làm sao để “nhớ” về trí giác vốn có, vượt qua làn sóng vọng tưởng, để tìm lại sự an lạc đích thực thông qua chiasedaophat.com.

Cầu vãng sanh Tây Phương Cực Lạc và pháp vô sanh dường như đối lập, tựa như hai người cùng lên núi, một đi hướng đông, một đi hướng tây. Dù phương hướng và hoàn cảnh khác biệt, đích đến cuối cùng là đỉnh núi, nơi họ sẽ gặp nhau.

Quan niệm tu thiền không hợp với niệm Phật xuất phát từ việc hiểu sai bản chất. Chúng ta thường chỉ nhìn vào hình tướng bên ngoài mà chưa thấu đáo lý tánh sâu xa của việc niệm Phật.

Chữ “Niệm” có nghĩa là nhớ, còn “Phật” là giác. Do đó, “niệm Phật” đích thực là nhớ về tánh giác sẵn có nơi mỗi người. Người tu thiền có cần “nhớ” tánh giác không? Cách diễn đạt này có thể gây hiểu lầm, khiến người nghe lầm tưởng tánh giác là một thứ gì đó cần phải ghi nhớ từ bên ngoài, trong khi nó vốn là bản thể thường hằng. Tuy nhiên, do bị cuốn theo dòng vọng tưởng, ta thường cảm thấy như đã lãng quên tánh giác từ lâu. Khi nhận ra sự tồn tại của nó, ta lại dễ dàng quên lãng, để vọng tưởng dẫn dắt. Vì vậy, việc “khắc ghi” hay “nhớ” tánh giác trở nên cần thiết như một phương pháp để neo giữ sự tỉnh giác.

Thực chất, tánh giác chưa bao giờ mất đi. Vấn đề chỉ là chúng ta không chạy theo vọng tưởng, vốn là gốc rễ của nghiệp, của thân khẩu ý, và là nguyên nhân dẫn đến luân hồi sinh tử. Khi vọng tưởng lắng xuống, cái còn lại chính là sự giác ngộ. Bất kể tu theo pháp môn nào, nếu mục tiêu là giải thoát sinh tử, thì cuối cùng đều quy về điểm chung này.

Pháp môn niệm Phật sử dụng danh hiệu A Di Đà để thường xuyên ghi nhớ, không để vọng tưởng xen vào. Khi đạt đến trạng thái nhất tâm bất loạn, người niệm Phật sẽ được Phật A Di Đà tiếp dẫn vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc vào lúc lâm chung.

Xem thêm: Lời Ngôn Mang Nghiệp: Khi Lời Độc Ác Trở Thành Gánh Nặng Đời Ta

Sức mạnh của niệm Phật 1

Ảnh minh hoạ.

Danh hiệu A Di Đà mang ý nghĩa Vô Lượng Thọ, Vô Lượng Quang và Vô Lượng Công Đức. Chúng ta hãy suy ngẫm: ai có thể hội đủ những đức tính vô lượng này nếu không phải là tánh giác? Tánh giác bất sinh bất diệt chính là Vô Lượng Thọ; sự sáng suốt, tỉnh táo thường hằng là Vô Lượng Quang; và sự hiển lộ các công đức lành, diệu dụng vô biên chính là Vô Lượng Công Đức.

Vì vậy, niệm Phật A Di Đà chính là nhớ về tánh giác. Do tánh giác vốn vô tướng, nên việc nhận ra nó trở nên khó khăn. Tuy nhiên, thông qua hình ảnh Đức Phật A Di Đà hoặc danh hiệu Ngài, chúng ta có thể chặt đứt vọng tưởng, đạt đến sự nhất tâm bất loạn. Khi tâm thanh tịnh và sáng suốt, ta có thể trực nhận ra chân lý: “Tự tánh Di Đà, vô biệt niệm, bất lao đàn chí đáo Tây Phương” (Tánh Phật nơi tự tâm, không cần lìa bỏ, không cần nhọc công tìm về Tây Phương).

Sơ Tổ Trúc Lâm đã dạy trong bài Cư Trần Lạc Đạo Phú, hội thứ hai:

“Tịnh độ là lòng trong sạch, Chớ còn ngờ hỏi đến Tây Phương.

Di Đà là tính sáng soi, Mà phải nhọc tìm về Cực Lạc.”

Tìm hiểu thêm: Thân Tâm An Lạc: Bí Mật Thoát Khỏi Kiệt Sức, Tìm Lại Nguồn Năng Lượng Bền Vững

Vậy tại sao lại nói “Tây Phương Cực Lạc thế giới” lại rất vui? Hãy hình dung người đi buôn bán ở chợ từ sáng sớm. Họ phải bày biện hàng hóa, chào mời, trông coi, mua bán, ra vào, vô cùng bận rộn, vui buồn lẫn lộn. Đến khi bóng ngả về tây, trời sắp tối, không còn ai mua, họ thu dọn nghỉ ngơi và cảm thấy nhẹ nhàng, thảnh thơi, an vui. “Trời tây” ở đây ẩn dụ cho thời điểm hoàng hôn, khi mọi việc cần được dọn dẹp để nghỉ ngơi, mang lại sự an lạc. Tương tự, nếu tâm chúng ta biết thu dọn vọng tưởng, không để chúng lăng xăng, thì tâm sẽ an, không còn phiền não, đó chính là sự vui thực sự.

Do đó, người tu thiền không cần đợi đến khi lâm chung mới “về thế giới rất vui”. Ngay khi vọng tưởng chấm dứt, nguyên nhân của bất an cũng không còn, đó chính là trạng thái vui. Đây là sự thật hiển nhiên, có thể kiểm chứng ngay trong hiện tại đối với những hành giả đã trải nghiệm pháp vị.

Như đã đề cập, tánh giác vô tướng nên khó nắm bắt. Tuy nhiên, nó thường hiển lộ qua sáu căn: mắt thấy sắc, nếu không có tánh giác thì làm sao biết được đó là “tánh thấy”; tai nghe tiếng, liền biết đó là “tánh nghe”; mỗi căn đều có “tánh biết” riêng, dù công dụng khác nhau nhưng bản tánh thì đồng nhất.

Thói quen cố hữu của chúng ta là khi thấy sắc liền khởi tâm phân biệt tốt xấu, từ đó sinh ra vô số nghiệp nhân quả, bị cuốn theo vòng luân hồi sinh tử. Nay nhờ duyên lành tỉnh ngộ, nhận ra mình có tánh giác bất sinh bất diệt, không già bệnh chết, thì đâu còn luân hồi nữa. Vì vậy, cần nỗ lực tu tập để sống trọn vẹn với tánh giác.

Khám phá: Lời Phật Dạy: Vực Sâu Ý Nghĩa, Chìa Khóa Hạnh Phúc Vĩnh Cửu

Do đó:

– Mắt thấy sắc, biết đó là thấy, liền nhớ đến tánh thấy. Khi đó, ta không còn nhiễm trước vẻ đẹp hay xấu, không còn vọng tưởng, không còn chấp trước vào mắt. Đó chính là “mắt niệm Phật”.

– Tai nghe tiếng, biết đó là nghe, liền nhớ đến tánh nghe. Khi đó, ta không khởi tâm phân biệt hay dở. Đó chính là “tai niệm Phật”. Tương tự, chúng ta có thể có “sáu căn niệm Phật”.

Như vậy, người tu thiền không phải là không niệm Phật. Niệm Phật chính là nhớ về tánh giác. Cần phải tha thiết ghi nhớ đến mức sống trọn vẹn với tánh giác, không còn niệm mê lầm, đạt đến “toàn giác”, tức là Phật. Sự chí thành này không thể đong đếm bằng chuỗi tràng hạt, thời khóa hay sổ sách, bởi chỉ một niệm bất giác cũng đủ gây tai họa.

Người tu thiền không chỉ niệm Phật bằng miệng hay ý nghĩ, mà niệm Phật bằng cả sáu căn. Bất cứ căn nào khi đối cảnh mà sinh tâm chấp trước đều dẫn đến luân hồi sinh tử. Do đó, cần bảo vệ sáu căn để niệm Phật một cách miên mật trong mọi oai nghi. Đến khi đối cảnh vô tâm, ta sẽ không còn hỏi về thiền hay Phật nữa.

Người tu thiền mà niệm Phật sẽ có một sức mạnh kỳ diệu, ngay lập tức sống trong thế giới Cực Lạc. Bởi lẽ, hễ vọng tưởng vừa khởi lên, ta liền nhớ đến tánh giác, khiến vọng tưởng mất đi sức lôi cuốn. Vì vậy, không sợ niệm khởi mà chỉ sợ giác chậm. Khi đã giác ngộ, tâm sẽ khinh an, thảnh thơi. Giác ngộ liên tục sẽ khiến phiền não tiêu tan, vì mọi thứ đều được nhận biết rõ ràng. Sự vui này không phải là đối lập với buồn, mà là niềm vui của sự sáng tỏ, đã thấu rõ nguồn cội và chưa từng bị ô nhiễm.

Hãy cùng khám phá sâu hơn những tầng nghĩa nhiệm màu của pháp môn niệm Phật và tìm hiểu thêm về chủ đề Đạo phật.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang