Bên cạnh những nghi lễ quen thuộc trong dịp Tết, nhiều dân tộc thiểu số tại Việt Nam vẫn gìn giữ những phong tục tế tự độc đáo, thể hiện lòng biết ơn và mong ước mùa màng bội thu. Khám phá một nét văn hóa đặc sắc qua lễ mừng lúa về của người Kơro, nơi con người giao hòa cùng đất trời và nguyện cầu những điều tốt lành cho cộng đồng, tất cả có tại <a href="Website Chia sẻ Đạo Phật“>Website Chia sẻ Đạo Phật.
Nghi thức tế tự, dù là dâng lên chư thiên hay các vị thần linh, đều phản ánh lòng biết ơn và sự thành kính của con người đối với những điều tốt đẹp đã nhận được trong cuộc sống.
Lễ tế thần của các dân tộc vùng cao
Tại vùng cao nguyên miền Trung, Tết Lir Bong của người Kơro diễn ra chậm hơn Tết ở thành thị khoảng một tháng. Lir Bong mang ý nghĩa “Mừng lúa về”, thường bắt đầu vào khoảng tháng Ba dương lịch, sau mùa gặt hái và trước khi bước vào vụ cày cấy mới. Đây là thời điểm mọi người tạm gác lại công việc đồng áng, tận hưởng những ngày nhàn rỗi.
Lễ mừng lúa về được tổ chức hàng năm. Trước lễ hội, dân làng thường rào làng để phòng ngừa trộm cướp, sửa sang đường sá, giếng nước và dựng cây nêu. Lễ khai mạc diễn ra vào buổi chiều, khi mặt trời đã khuất dạng. Tiếng trống kèn rộn rã vang lên, các vật phẩm như gà, vịt, dê, lợn được mang ra tế lễ dâng lên Thượng đế. Lời cầu nguyện vang lên: “Khẩn cầu Thượng đế nhận lời cảm tạ của mọi người. Thượng đế đã ban phúc cho dân làng, dân làng có thóc ăn quanh năm. Xin ban phát cho mọi người được sức khỏe dồi dào để làm việc nhiều hơn cho mùa sau. Kết quả càng tốt đẹp”. Sau lời cầu nguyện, chủ tế thực hiện nghi thức, dùng huyết vẩy lên cửa nhà, vạt thóc, giạ lúa và sau đó mang các vật phẩm đi chế biến thành cỗ mời khách. Suốt đêm, âm thanh chuông trống không ngừng vang vọng, mang theo niềm tin vào sự may mắn sẽ đến trong những ngày tiếp theo.
Tại vùng Di Linh, ngày Tết của đồng bào không cố định theo một số ngày nhất định trong năm mà thay đổi tùy theo từng làng. Sự linh hoạt này cho phép họ có cơ hội tham dự lễ Tết ở nhiều nơi. Tết là dịp để sum họp trọn vẹn bên gia đình. Nghi lễ chủ yếu được thực hiện trong phạm vi nhà cửa và vựa thóc. Họ dùng máu gà vẩy lên các bồ thóc với mong cầu thần linh phù hộ cho hạt giống sinh sôi nảy nở. Lợn được giết mổ, thui chín, phần nội tạng được giữ riêng để dâng cúng thần linh. Khi đêm xuống, ánh lửa leo lét từ việc thui lợn trong vựa thóc gợi nhớ hình ảnh nấu bánh chưng của người dân đồng bằng.
Dù có những khác biệt trong phong tục, nhìn chung, các lễ Tết xưa ở miền núi thường gắn liền với nghi thức hiến tế súc vật, tiếng kèn, tiếng hò reo và những ché rượu lớn.
Cổ tục làng Tích Sơn
Theo tục lệ làng Tích Sơn, các chàng trai khi tròn mười tám tuổi sẽ được làng giao nhiệm vụ nuôi một con gà từ đầu năm trước, để dành cho lễ tế thần vào đầu xuân năm sau. Họ phải chăm sóc và vỗ béo con gà sao cho đạt trọng lượng mong muốn.
Vào ngày mùng ba Tết, tất cả thanh niên trong làng, trong trang phục khăn đóng áo dài, mang gà của mình ra đình để làm lễ. Mỗi người ôm con gà của mình, xếp hàng ngay ngắn trước đình. Sau khi các vị tiên chỉ trong làng hoàn thành nghi thức khấn vái, các chàng trai sẽ ôm gà nhảy múa và vái lạy trước bàn thờ. Tiếp đó, từng người một sẽ dùng dao chém đứt đầu gà, hứng lấy tiết và làm thịt gà. Có những trường hợp phân gà bị vãi ra cả bàn thờ cúng thần khi gà bị chặt đầu.
Ngoài tục chém gà, làng còn có tục chém lợn. Lợn cũng được vỗ béo và dẫn ra đình. Sau khi được tắm rửa sạch sẽ, lợn sẽ được thả đi vòng quanh bàn thờ để “trình” Đức Thành hoàng. Hoàn tất phần trình lễ, một thanh niên sẽ dùng gươm chém vào đầu lợn. Yêu cầu là nhát chém phải nhanh, mạnh và gươm phải thật sắc để đầu lợn lìa khỏi thân ngay lập tức. Trong khoảnh khắc đang tung tăng, chú lợn bị một nhát gươm chí mạng, máu phun ra từ cổ, thân lảo đảo rồi ngã quỵ.
Cổ tục này bắt nguồn từ ảnh hưởng của vị thần mà dân làng Tích Sơn đang thờ phụng. Tương truyền, khi còn sống, ông là một tên tướng cướp. Khi bị dân làng truy đuổi đến chân núi, ông vào đường cùng. Bị bao vây và đói lả, sẵn có một con lợn đi ngang qua, ông đã chém và ăn sống. Sau này, do cái chết vào giờ linh thiêng (theo quan niệm dân gian), ông được dân làng tôn thờ như một vị thần bảo vệ làng. Từ tích ăn thịt lợn này mà có lễ dâng lợn vào đầu xuân hàng năm.
Tục dâng rượu ở làng Yên Đổ
Theo quan niệm dân gian, rượu đóng vai trò không thể thiếu trong các nghi lễ. Do đó, trong việc tế tự, rượu thường xuất hiện. Riêng tại làng Yên Đỗ, loại rượu dùng để dâng thần phải là loại đặc sắc, được các bậc cao niên trong làng tuyển chọn kỹ lưỡng trước khi tiến hành nghi lễ.
Việc cúng kiếng ở thành thị
Tết ở thành thị, xét về khía cạnh nghi lễ, thường có phần văn minh hơn. Dù gà, vịt, heo, bò vẫn được giết mổ, nhưng máu của chúng đều được rửa sạch. Dấu vết của sự sát sinh không được phép còn tồn tại trong nhà cửa hay nơi làm ăn vào những ngày đầu năm. Sự xuất hiện của dù chỉ một giọt máu, dù là của súc vật, cũng bị xem là điều kinh hoàng. Điều mà người dân miền núi xưa xem là điềm may, thì người thành thị lại coi là điềm xui. Xét cho cùng, “may” hay “không may” chỉ là những ảo tưởng của con người.
Phần lớn các gia đình đều có tục làm cơm cúng rước ông bà vào cuối năm. Mọi người cùng nhau lau dọn, sơn sửa nhà cửa sạch đẹp để đón chào năm mới. Thức ăn, đồ uống cũng được dự trữ đầy đủ trong ba ngày Tết, một phần vì chợ búa ngày xưa thường đóng cửa trong dịp này, phần khác vì niềm tin rằng sự sung túc đầu năm sẽ báo hiệu cả năm ấm no, đủ đầy. Mọi người còn nhắc nhở nhau giữ thái độ vui vẻ, tránh cau có, gắt gỏng để mong cầu một năm an bình. Sự bực bội, la hét hay khóc lóc cần được hạn chế tối đa trong ba ngày Tết. Vào mùng ba Tết, có lễ làm cơm tiễn ông bà.
Bên cạnh mâm cao cỗ đầy, lễ Tết còn có bánh chưng, bánh tét, tiền lì xì, rượu, chè, tùy theo phong tục của từng miền mà mỗi nhà sắm sửa sao cho thịnh soạn, mong muốn một năm sung túc và an lành.
Lợi ích của tế tự dưới góc nhìn của Đức Phật
Nghi thức tế tự, dù dâng lên chư thiên hay thần linh, đều thể hiện lòng biết ơn và sự thành kính của con người đối với những gì họ đã nhận được. Mặc dù việc tế tự mang tính cầu xin có thể không phù hợp với chánh kiến, nhưng bản thân hành động tế tự lại chứa đựng yếu tố bố thí và lòng biết ơn, do đó, kết quả mà nó mang lại vẫn có liên quan nhất định đến sự sung túc.
Trong kinh Trường bộ, quyển I, bài kinh số 5, khi được Bà-la-môn Kutadanta hỏi về cách thức tế tự và các vật phẩm dâng cúng, Đức Phật đã trả lời gián tiếp thông qua câu chuyện tế tự của vua Mahàvijita. Trong đó, vị Bà-la-môn chủ tế đã chỉ ra những điều kiện thiết yếu để nhà vua có thể gặt hái được hạnh phúc và an lạc dài lâu trong tương lai:
1/ Mời tất cả những vị Sát-đế-lị, chư hầu các tỉnh thành, các đại thần cùng quyến thuộc, các gia chủ phú hào (Đức Phật gọi chung là bốn đại chúng) tham dự, nhằm chứng minh cho buổi lễ tế đàn được thành tựu.
2/ Vua Mahàvijita cần có 8 đức tính:
- Xuất thân từ dòng dõi cao quý, cả bên nội lẫn bên ngoại.
- Huyết thống thanh tịnh đến bảy đời tổ phụ, không có bất kỳ lời dèm pha nào về vấn đề huyết thống.
- Sở hữu dung mạo và phong thái thanh cao, tuấn nhã.
- Tài sản sung túc, kho lương thực đầy đủ.
- Có uy lực, sở hữu đầy đủ bốn loại quân chủng để chinh phục địch quân.
- Có lòng tin, từ tâm, chuyên làm công đức cho các bậc Sa-môn, Bà-la-môn, người nghèo khó…
- Thông tuệ trong mọi lĩnh vực.
- Có khả năng suy tư tinh thông về mọi việc từ quá khứ đến vị lai.
3/ Vị Bà-la-môn làm chủ tế đàn phải có đầy đủ năm đức tính:
- Xuất thân từ dòng dõi cao quý, cả bên nội lẫn bên ngoại.
- Huyết thống thanh tịnh đến bảy đời tổ phụ, không có bất kỳ lời dèm pha nào về vấn đề huyết thống.
- Là người thông hiểu kinh điển, trì chú, am tường ba tập Veda về danh nghĩa, lễ nghi, ngữ nguyên, chú giải và lịch sử truyền thống.
- Có biệt tài về thuận thế (tự nhiên học) và xem tướng bậc đại nhân.
- Là người bác học tinh thông, sáng suốt, sở hữu đầy đủ giới hạnh và đức độ cao dày.
4/ Trước khi tế lễ, vị Bà-la-môn chủ tế cần căn dặn vua Mahàvijita ba điều “không nên”:
- Trước khi lễ tế đàn diễn ra, không nên hối tiếc “phần lớn tài sản đã tiêu hao…”.
- Trong khi đang thực hiện lễ tế đàn, không nên hối tiếc “phần lớn tài sản đã tiêu hao…”.
- Sau khi hoàn tất lễ tế đàn, không nên hối tiếc “phần lớn tài sản đã tiêu hao…”.
Nói chung, không được khởi tâm hối tiếc đối với việc tế đàn, bất kể vì lý do gì.
Lý do không nên hối tiếc đã được Đức Phật giải thích trong phẩm Địa chủ, kinh Tăng nhất A-hàm, quyển I. Việc cúng dường, bố thí tuy mang lại quả báo sung túc cho người thí chủ, nhưng nếu sau khi bố thí mà sinh tâm hối tiếc, thì dù có nhận được quả báo sung túc vượt trội, họ cũng không thể hưởng thụ trọn vẹn và không tìm thấy niềm vui trong ngũ dục.
5/ Vị Bà-la-môn khuyến khích nhà vua lập tế đàn với tâm thái hoan hỷ, an vui. Ngay cả khi có bất kỳ sự việc không như ý nào xảy ra, nhà vua vẫn nên giữ vững tâm thái hoan hỷ.
6/ Trong lễ tế đàn, tuyệt đối không có việc giết trâu, bò, dê, cừu, gà, heo hay bất kỳ sinh vật nào bị sát thương. Không chặt phá cây cối để làm trụ cột tế lễ. Không sử dụng cỏ cát tường để rải xung quanh. Những người làm công, gia bộc không bị đe dọa, đánh đập hay làm khổ. Lễ tế đàn được hoàn tất chỉ với dầu, sinh thô, thục tô, mật và đường miếng.
Việc không sát hại thú vật, vì đánh đập và sát sinh là nguyên nhân dẫn đến bệnh tật, tai ương và yểu mệnh. Do đó, nếu mong muốn có sức khỏe, không nên giết hại súc vật để tế đàn. Chỉ cần không sát sinh, thì dù không có trụ tế đàn hay cỏ cát tường, điềm lành vẫn sẽ đến. Đây là lý do vì sao trong nghi lễ tế tự, Đức Phật dạy không sử dụng thịt súc vật dâng cúng, cũng không có sự đe dọa hay đánh đập. Bởi lòng từ bi là nhân tố giúp thoát khỏi mọi tai ương.
Việc thực hiện một lễ tế đàn như vậy sẽ mang lại cuộc sống hạnh phúc và an lạc dài lâu. Tuy nhiên, với những yêu cầu thiết yếu như vậy, không phải ai cũng có thể thực hiện được. Vì thế, Kutadanta tiếp tục hỏi:
– Thưa Tôn giả Gotama, có tế đàn nào đơn giản hơn, ít phiền nhiễu hơn mà lại mang lại nhiều quả báo và lợi ích hơn cách tế đàn này không?
– Đó là thực hiện bố thí thường xuyên, tổ chức các tế đàn thuận duyên và cúng dường cho các vị xuất gia có giới đức.
Quả báo của việc bố thí phụ thuộc vào ba yếu tố: tâm người bố thí, phẩm vật bố thí và giới hạnh của người nhận bố thí. Bố thí thường xuyên, tức là khi có đủ duyên thì thực hiện bố thí, không chờ đợi phải lập đàn tràng. Khi thấy có người cần thì lập tức giúp đỡ. “Một miếng khi đói bằng một gói khi no”. Đây là mảnh đất phước điền màu mỡ, tâm người bố thí cũng tốt đẹp. Cúng dường cho các vị xuất gia có giới đức cũng là mảnh đất phước điền tốt, là gieo nhân với Tam bảo để nhận được sự hộ trì của Tam bảo.
Kutadanta lại hỏi tiếp:
– Thưa Tôn giả, có tế đàn nào đơn giản, ít phiền nhiễu mà lại mang nhiều quả báo và lợi ích hơn là bố thí thường xuyên, các tế đàn thuận duyên, cúng dường cho các vị xuất gia có giới đức không?
– Đó là xây dựng tịnh xá cho Tăng chúng tu tập.
– Thưa Tôn giả, có tế đàn nào đơn giản, ít phiền nhiễu mà lại mang nhiều quả báo và lợi ích hơn là xây dựng tịnh xá cho Tăng chúng tu tập?
– Đó là thành tâm quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Này Bà-la-môn! Tế đàn này ít phiền hại mà lại mang lại quả báo lợi ích nhiều hơn các cách tế đàn trên.
– Thưa Tôn giả, có tế đàn nào đơn giản, ít phiền nhiễu mà lại mang nhiều quả báo và lợi ích hơn là quy y Tam bảo?
– Đó là thành tâm gìn giữ năm giới: không sát sinh, không trộm cắp, không nói dối, không tà dâm và không uống rượu. Việc gìn giữ năm giới này chính là tế đàn mang lại hạnh phúc và an lạc dài lâu cho con người.
Tùy thuộc vào mức độ gìn giữ mà chúng ta sẽ đạt được hạnh phúc và an lạc nhiều hay ít, dài hay ngắn. Đây là tế đàn mà bất kỳ ai cũng có thể thực hiện cho chính bản thân mình, kể cả những người không theo đạo Phật, để có được hạnh phúc và an lạc lâu dài.
Điên trần truồng
Theo luận Đại trí độ, có một câu chuyện kể rằng:
Tại Nam Thiên Trúc, có một vị pháp sư giảng về ngũ giới. Trong số những người đến nghe pháp có nhiều ngoại đạo. Sau buổi giảng, quốc vương nước đó đặt câu hỏi cho pháp sư:
– Nếu đúng như lời ngài nói, người uống rượu cũng như người cho rượu đều phải chịu quả báo điên khùng, vậy thì lẽ ra trong đời này, người điên phải nhiều hơn người tỉnh. Tại sao người điên lại ít mà người tỉnh lại nhiều?
Các ngoại đạo đồng loạt tán thành:
– Đúng! Đúng! Người tỉnh nhiều hơn người điên. Đức vua quả thật là người có trí tuệ. Lời vấn nạn thật sâu sắc! Chắc chắn gã đầu trọc ngồi trên tòa cao kia không thể trả lời.
Vị pháp sư không trả lời trực tiếp mà chỉ tay về phía những người ngoại đạo và nói sang chuyện khác. Đức vua liền hiểu ý.
Những người ngoại đạo thì thầm với nhau:
– Lời vấn nạn quá thâm thúy, làm sao mà trả lời được. Xấu hổ nên pháp sư mới đưa tay chỉ chỉ rồi nói sang chuyện khác.
Đức vua nói với các ngoại đạo:
– Pháp sư đưa tay chỉ chỉ chính là câu trả lời rồi. Vì muốn bảo vệ các vị nên pháp sư không trả lời mà chỉ tay, ý muốn nói rằng chính các vị mới là những kẻ điên. Điên không phải là ít. Các vị lấy tro bôi người, trần truồng không biết hổ thẹn. Dùng đầu lâu người để đựng phân mà ăn. Mùa đông thì nhảy xuống nước, mùa hạ lại hơ mình bên lửa. Những hành vi phi đạo đức như vậy đều là biểu hiện của sự điên khùng. Lại còn vùi mình trong cát mà cho rằng tội lỗi sẽ tiêu tan. Những hành động gượng ép, trái với quy luật tự nhiên như thế mà lại cho là nhân duyên của nhau, thì đó chẳng phải là điên rồ là gì?
Tóm lại, những suy nghĩ và hành động nào đi ngược lại chánh kiến, tạo ra nhân quả không phù hợp với những gì kinh Thập thiện đã dạy, đều là biểu hiện của sự điên cuồng. Đức Phật gọi đó là điên đảo. Tổ Long Thọ gọi là “điên trần truồng”. Gọi là điên vì nó trái với quy luật thông thường.
Trên thế gian này, có những biểu hiện điên rồ lộ rõ ra ngoài, dễ dàng bị đưa vào nhà thương điên. Nhưng cái gọi là “điên trần truồng” thì ít ai nhận ra, mà gần như ai cũng mắc phải, chỉ là mức độ nhiều hay ít, nông hay sâu mà thôi.
Không tin vào luật nhân quả, giết người hàng loạt với mong muốn đạt Niết-bàn, sát hại sinh vật để tế tự cầu sức khỏe, muốn giàu có thì tranh giành, chụp giật, tham nhũng, hay tin vào bùa chú, ngải thuật… tất cả đều là những biểu hiện của sự điên trần truồng.
Uống rượu là một trong những nguyên nhân dẫn đến tà kiến. Từ tà kiến mà sinh ra hoạn nạn, tai ương, nhưng hiện nay ít ai tin vào điều này. Đáng nói là dù rượu gây ra nhiều thảm họa trước mắt, nó vẫn được đa số mọi giới ca tụng và xem như một thú tiêu khiển không thể thiếu trong các buổi tiệc tùng. Thế giới ngày càng đảo điên một phần cũng là do nguyên nhân này.
Xuân của bậc đạo nhân
Dù là may mắn hay bất hạnh, khi xuân về, nó không chỉ mang lại sự sống và niềm vui cho muôn loài. Niềm vui của loài này đôi khi lại là nỗi đau của loài khác. Sự sống của loài này có thể là sự chấm dứt sự sống của loài khác. Chúng ta hân hoan đón xuân với những vật phẩm tốt lành, nhưng đối với lũ súc vật, đó lại là nỗi sợ hãi và sự kết thúc đầy đau khổ. Niềm vui của chúng ta được hình thành một phần từ nỗi đau của kẻ khác, do đó, quả báo mà chúng ta nhận được là một thế giới Sa-bà phân chia, không ngừng chiến tranh, thù hận, tai ương và chết chóc. Điều này hoàn toàn khác với mùa xuân của những người sống ẩn dật:
Ở núi, việc không, cửa đóng gài
Độc tọa tâm cùng, dứt thấy nghe
Màn giấy tùng mai trăng rọi sáng
Nhân gian chỉ đó một càn khôn.
(Trích Sơn Cư Bách Vịnh)
Ở chốn núi cao, khi không có khách, cửa nhà có thể đóng lại. Một mình tĩnh tại, quên hết mọi sự thấy nghe. Dưới ánh trăng soi qua khung cửa giấy với cây tùng, cây mai, thế giới nhân gian hiện ra như một vũ trụ bao la. Khi tâm hồn an nhiên, cảnh giới cũng trở nên an nhiên, mọi sự thấy nghe đều không còn tồn tại. Ánh trăng sáng soi khắp đất trời, vạn vật hiện rõ như bóng nước soi trăng, tĩnh lặng và đầy đủ.
Hòa thượng Thường Chiếu từng dạy: “Bậc có trí tuệ và hạnh nguyện viên mãn, thấy và nghe không phân biệt. Họ xoay chuyển sự thấy nghe trở về với tâm. Đây là những bậc đại trí, đại hạnh. Cảnh giới của Văn Thù, Phổ Hiền đều hiển bày đầy đủ. Mảnh đất này thật siêu việt, ít người lui tới, vượt ra ngoài hai bờ đối lập, siêu thoát vào thể nhập. Người đạt đến cảnh giới này thường ngồi trên lưng voi hoặc cưỡi sư tử dạo khắp nơi, tùy duyên hóa độ để làm lợi ích cho chúng sinh…”, rồi Ngài nói kệ rằng:
Trên đỉnh Diệu Phong rong tự tại
Quan sát mười phương
chúng sinh khổ đau
Khởi lên phương tiện tùy duyên hóa độ
Dẫn dắt chúng sinh cùng lên bờ Niết-bàn.
Như vậy, sự ẩn mình nơi núi cao không ngoài việc đạt đến tâm vô sự. Khi tâm không còn vướng bận, cảnh giới cũng không còn, thì dù ở chốn thành thị hay đồng bằng, chúng ta vẫn có thể an nhiên tự tại trên đỉnh Diệu Phong. Từ tâm khai mở sẽ giúp chúng ta không vì niềm vui của bản thân mà gây ra nỗi đau cho muôn loài, không vì sở thích cá nhân mà phá hoại niềm vui của người khác. Mùa xuân từ đó sẽ lan tỏa khắp nơi, tồn tại trong mọi thời khắc. Đây chính là tế đàn đơn giản nhất, ít phiền nhiễu nhất nhưng mang lại lợi ích vô song, như lời Đức Phật đã dạy Kutadanta:
– Này Kutadanta! Như Lai xuất hiện ở đời là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. Như Lai sau khi tự chứng ngộ với trí tuệ tối thượng về thế giới này, về cõi trời, cõi ma, cõi Phạm thiên, tất cả các thế giới, với hàng Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Nhân, Ngài đã tuyên thuyết lại những gì đã chứng ngộ. Pháp của Như Lai có lời lẽ và ý nghĩa thanh tịnh từ ban đầu, giữa và cuối. Như Lai đã dạy về phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, thanh tịnh. Nếu có người nào nghe được pháp ấy, sau khi nghe pháp, người ấy sinh lòng tin kính Như Lai. Khi có lòng tin kính ấy, vị này sẽ suy ngẫm về cuộc sống từ bỏ dục lạc thế gian. Sau một thời gian, người ấy sẽ từ bỏ tất cả, sống đời sống không gia đình. Khi đã xuất gia, vị ấy sẽ sống chế ngự theo giới bổn Pàtimokkha, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, nhận thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ trì và học tập giới học. Thân nghiệp, khẩu nghiệp thanh tịnh. Sinh hoạt trong sạch. Giới hạnh đầy đủ. Thủ hộ các căn. Chánh niệm tỉnh giác. Biết tri túc… Đó là tế đàn ít phiền nhiễu nhất mà lợi ích lại lớn lao nhất.
Điều nên và điều không nên – Giữ gìn và buông bỏ
Tập tục truyền lại không phải cái gì cũng tốt đẹp. Có những điều hay và có những điều không hay. Việc làm lễ tạ ơn trời Phật, thần linh vì lòng biết ơn là điều hay, nhưng sát sinh hại vật để dâng cúng thì không hay. Làm lễ tạ ơn Trời Phật là hay, nhưng giao phó hoàn toàn tính mạng của mình vào tay Trời Phật thì không hay. Việc vấy máu súc vật khắp nơi là không hay, nhưng giữ tâm hoan hỷ, không để phiền não hiện hữu vào những ngày đầu năm là điều hay. Chuẩn bị nhà cửa, dự trữ thức ăn đầy đủ là hay, nhưng phải đi vay mượn để tạo dựng sự sung túc tạm bợ vì mê tín dị đoan thì không hay.
Những điều hay, nếu được tiếp nối và gìn giữ thì sẽ dễ dàng, vì chúng thuận theo thói quen và tập tục của số đông. Tuy nhiên, đối với những điều không hay, việc từ bỏ lại không hề dễ dàng. Bởi lẽ, việc đi ngược lại thói quen sẽ tạo ra sự bất an cho chính bản thân. Đi trái lại tập tục của tập thể đông đảo cũng gây ra sự bất an không nhỏ. Do đó, chúng ta dễ dàng bị trói buộc bởi những tập tục xấu, dẫn đến việc gặt hái những quả báo không tốt trong tương lai. Vì vậy, để từ bỏ những tập tục xấu, đòi hỏi chúng ta phải có niềm tin vững chắc vào những lời dạy của Như Lai. Cần có trí tuệ để học hỏi, thấu hiểu và nhìn nhận vấn đề một cách chính xác. Tránh rơi vào tình trạng cực đoan, từ bỏ luôn cả những điều tốt đẹp, và rơi vào chấp niệm không có nhân quả. Cuối cùng, cần có định lực và lòng can đảm để dứt bỏ những gì cần dứt bỏ. Tự mình dứt bỏ và khuyến khích người khác cùng dứt bỏ để cuộc sống thực sự được an vui.
Nhân dịp năm mới, nguyện cầu cho tất cả chúng sinh có được niềm tin sâu sắc vào giáo pháp của Như Lai. Thực hiện tự lợi và lợi tha một cách rộng rãi để thế giới được an bình, mọi nơi được ấm no, chiến tranh và tai ương chấm dứt.
Chú thích
(1) Phần lễ tết của các bộ tộc được trích từ cuốn Nếp cũ của nhà văn Toan Ánh.
(2) Sau khi ông qua đời, nhiều sự kiện không hay xảy ra trong làng, khiến dân làng tin rằng ông chết vào giờ linh thiêng và lập miếu thờ tự.
(3) Ở đây đang đề cập đến phước báu Nhân Thiên, nên có sự vui hưởng trong ngũ dục.
(4) Trích từ Sơn cư bách vịnh, do Hòa thượng Thích Nhật Quang chú dịch.
Tác giả: Chân Hiền Tâm/ Nguồn: www.ghpgvn.vn
Tiêu đề do phatgiao.org.vn đặt
Để hiểu sâu sắc hơn về những lời Phật dạy liên quan đến cách sống an lạc và mang lại lợi ích lớn lao, mời bạn khám phá thêm trong chuyên mục Đạo phật.