Cư sĩ Nguyễn Đăng Thục: Cuộc đời và Di sản

nguyen dang thuc
0
(0)

Bén duyên với triết học qua nền tảng Nho học uyên thâm và những trải nghiệm học thuật quốc tế, Cư sĩ Nguyễn Đăng Thục đã kiến tạo nên một di sản tư tưởng đồ sộ. Hành trình khám phá và sẻ chia tri thức của ông, từ những ngày đầu đầy nhiệt huyết cho đến khi dành trọn tâm huyết cho triết học Đông phương, hứa hẹn mang đến những góc nhìn sâu sắc. Khám phá thêm về cuộc đời và những đóng góp của một nhân cách lớn tại Website Chia sẻ Đạo Phật.

Cư sĩ Nguyễn Đăng Thục

CƯ SĨ NGUYỄN ĐĂNG THỤC
(1908 – 1999)

Cư sĩ Nguyễn Đăng Thục, sinh năm 1908 tại làng Thổ Khối, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh, xuất thân từ một gia đình có truyền thống Nho học lâu đời. Ông đã trải qua những năm tháng học tập tại trường làng và trường Albert Sarraut ở Hà Nội trước khi sang Pháp, Bỉ và Thụy Sĩ du học vào năm 1927.

Trong thời gian du học, ông đã đạt thành tích cao, tốt nghiệp tú tài hạng giỏi về Triết học và Toán học tại Marseilles, Pháp. Sau đó, ông theo học ngành kỹ thuật tại L’ École Nationale des Arts và Đại học Lille, chuyên ngành Kỹ sư Hóa học.

Trở về nước năm 1934, Cư sĩ Nguyễn Đăng Thục đã sớm tham gia vào các hoạt động báo chí và văn hóa. Năm 1935, ông đồng sáng lập tờ báo L’ Avenir de la Jeunesse (Tương lai của tuổi trẻ) tại Hà Nội. Sau đó, ông làm việc với vai trò biên tập viên cho tờ Le travail (Lao Động) trước khi quay về với chuyên môn kỹ thuật, làm kỹ sư hóa học tại Nhà máy dệt Nam Định.

Với nền tảng Nho học từ gia đình và sự ảnh hưởng từ các buổi thuyết trình triết học tại Đại học Sorbonne trong thời gian du học, ông dành nhiều tâm huyết nghiên cứu về triết học Đông phương. Thời gian làm việc tại Nam Định là giai đoạn ông cho ra đời hai tác phẩm quan trọng: “Bình giải sách Đại học” và “Tinh thần khoa học và đạo học”. Năm 1944, ông tiếp tục xuất bản tạp chí “Duy Nhất” tại Nam Định, với mục tiêu dung hòa văn hóa Đông – Tây.

Sau Cách mạng tháng Tám và trong giai đoạn kháng chiến, Cư sĩ Nguyễn Đăng Thục đã đóng góp sức mình với vai trò kỹ sư công binh, giám đốc học vụ Trường Dân Huấn Vụ. Năm 1950, ông được mời giảng dạy bộ môn Triết học Đông Phương tại Trường Đại học Văn Khoa Hà Nội và giữ chức vụ chủ bút tờ “Văn hóa Tùng Biên”.

Khám phá: Hành Trình Tu Chứng & Lời Vàng Của Thiền Sư An Lạc Hạnh: Khám Phá Chốn Thiền Tự Và Trí Huệ Bất Diệt

Năm 1954, ông chuyển vào Sài Gòn, nơi ông sáng lập và giữ chức Chủ tịch Hội Việt Nam Nghiên cứu và Liên lạc Văn hóa Á Châu. Ông tiếp tục sự nghiệp giảng dạy tại Trường Đại học Văn Khoa Sài Gòn, và từ năm 1961 đến 1965, ông giữ vai trò Khoa trưởng Khoa Văn học Việt Nam. Bên cạnh đó, ông còn là chủ nhiệm tạp chí Văn hóa Á Châu và Trưởng tiểu ban văn hóa của UNESCO tại Việt Nam.

Từ năm 1964, khi Viện Đại học Vạn Hạnh được thành lập, Cư sĩ Nguyễn Đăng Thục được mời làm Khoa trưởng phân khoa Văn học và Khoa học Nhân văn, đồng thời giảng dạy môn Triết học Đông phương.

Vào các năm 1964-1965, ông cùng một số trí thức, nhân sĩ đã gửi kiến nghị yêu cầu chính quyền Sài Gòn tiến hành thương thuyết với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam nhằm chấm dứt chiến tranh. Hành động này đã dẫn đến việc ông bị cách chức và buộc thôi dạy tại Đại học Văn Khoa Sài Gòn.

Tìm hiểu thêm: Thượng tọa Thích Nguyên Siêu: Dấu ấn hoằng pháp và tri ân Tổ sư

Năm 1973, Trường Đại học Vạn Hạnh đã vinh danh ông bằng việc trao bằng Tiến sĩ danh dự nhân dịp kỷ niệm 10 năm thành lập trường.

Cư sĩ Nguyễn Đăng Thục đã từ trần ngày 3 tháng 6 năm 1999 tại Thành phố Hồ Chí Minh, hưởng thọ 92 tuổi. Cuộc đời ông là một hành trình cống hiến không ngừng nghỉ cho triết học và văn hóa, đặc biệt là triết học Phật giáo. Ông để lại một di sản đồ sộ với nhiều tác phẩm có giá trị sâu sắc, bao gồm:

  • Đại học (1940)
  • Triết lý nhân sinh Nguyễn Công Trứ (1950)
  • Tinh thần khoa học Đạo học (1953)
  • Dân tộc tính (1956)
  • Triết lý văn hóa khái luận (1956)
  • Triết học Đông phương nhập môn (1958)
  • Văn hóa Việt Nam và Đông Nam Á (1961)
  • Lịch sử triết học Đông Phương (5 tập, 1956-1962)
  • Tư tưởng Việt Nam (1964)
  • Lịch sử tư tưởng Việt Nam (4 tập, 1967 – 1970)
  • Thiền học Việt Nam (1967)
  • Democracy in traditional Vietnamese society (1962)
  • Asian Culture and Vietnamese Humanism (1965)
  • Thiền học Trần Nhân Tông (1971)
  • Khóa Hư lục của Trần Thái Tông (dịch và chú thích, 1973)
  • Lý hoặc luận của Mâu Bác (dịch và chú thích, 1974)
  • Và nhiều tác phẩm khác chưa xuất bản.

Là một nhà giáo mẫu mực, Cư sĩ Nguyễn Đăng Thục đã dành trọn đời mình cho sự nghiệp giáo dục, đặc biệt chú trọng đào tạo nhân cách cho thế hệ trẻ. Nhiều học trò của ông đã thành đạt và luôn kính trọng ông như một người thầy đáng kính.

Xem thêm: Ni Sư Giới Hương: Cầu nối Phật giáo Việt Nam và thế giới qua ngòi bút

Đối với Phật giáo, ông có đóng góp to lớn trong việc truyền bá và diễn giải giáo lý cao siêu của Đức Phật, lồng ghép một cách tinh tế vào các bài giảng về triết lý Đông phương. Những bài giảng của ông, đặc biệt là về triết học Phật giáo, đã thu hút đông đảo giới trí thức, những người có khả năng nhận định, phân tích và chiêm nghiệm sâu sắc. Di sản tác phẩm của ông để lại cho hậu thế là những bài học quý báu, mang giá trị khai sáng vượt thời gian.

[Thông tin tham khảo từ tập “Tiểu sử Danh Tăng Việt Nam”, tập 1 | Thích Đồng Bổn chủ biên]

Khám phá sâu hơn về cuộc đời và sự nghiệp đồ sộ của Cư sĩ Nguyễn Đăng Thục cùng nhiều nhân vật đáng kính khác trong mục Tiểu sử.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang