Đại Giới đàn Cam lộ Giác ngộ: Ý nghĩa sâu sắc cho người tu hành

× 🎁 Ưu đãi Shopee hôm nay – Nhấn nhận ngay!
🔥 Ưu đãi Shopee - Bấm để xem ngay!
0
(0)

Trong không gian trang nghiêm của Giới đàn, nơi hội tụ của những bậc giới sư, giới tử và người hộ đàn, sự thanh tịnh của giới luật được đề cao như là yếu tố cốt lõi duy trì Phật pháp. Hiểu rõ hơn về các phương diện bố thí, từ tài vật, pháp đến vô úy, sẽ giúp ta nhận ra tầm quan trọng đặc biệt của việc giữ gìn giới luật, nền tảng cho sự tu hành bền vững, như được chia sẻ tại Website Chia sẻ Đạo Phật.

Trong khuôn viên Tuyển Phật trường, Giới đàn là một không gian linh thiêng, chỉ dành cho giới sư, giới tử và những người hộ đàn đã kiết giới. Trước đây, Giới đàn thường được thiết lập ngoài trời, tương tự như đàn Nam Giao ở Huế. Tuy nhiên, ngày nay, các Giới đàn được tổ chức bên trong nội viện của chùa. Khu vực này thường có một tấm bảng với hai chữ “Thanh Giới” (thường viết bằng chữ Hán), và chỉ những người có đạo hạnh cao, giới thể thanh tịnh mới đủ tư cách để viết hai chữ này.

Trong Phật giáo, Đức Phật luôn khuyến khích đệ tử thực hành hạnh bố thí, bao gồm ba phương diện chính:

  • Bố thí tài vật: Chia sẻ tiền bạc, vật chất.
  • Bố thí pháp: Truyền bá những lời dạy của Đức Phật, giáo lý, thông qua thuyết giảng, ấn hành kinh sách, đĩa CD Phật giáo.
  • Bố thí vô úy: Mang lại sự an ủi, động viên và giải pháp cho những người đang đối mặt với tuyệt vọng, bế tắc, trầm cảm hay tổn thương tâm lý.

Trong ba phương diện này, bố thí giới được xem là quan trọng nhất, bởi giới luật là nền tảng tồn tại của Phật pháp. Giới luật còn thì Phật pháp còn, giới luật mất thì Phật pháp cũng suy vong.

Do đó, người muốn thực hiện bố thí giới phải là người giữ giới, có phạm hạnh. Vì vậy, các Giới đàn nghiêm túc luôn tìm kiếm các vị giới sư có giới thể thanh tịnh để truyền trao giới cho các giới tử. Người truyền giới cần có giới thể thanh tịnh và năng lượng tu tập để có thể trao truyền hiệu quả. Người thọ nhận cần hết lòng trân quý tịnh giới, khao khát như người đang khát nước giữa sa mạc tìm thấy giọt cam lồ. Sự giao cảm giữa người truyền trao và người thọ nhận trong giây phút thiêng liêng này của việc truyền giới đúng pháp sẽ giúp người thọ giới (giới tử) đắc giới.

Sau khi đắc giới, người thọ giới cần giữ gìn giới luật như giữ gìn con ngươi của mắt mình, luôn ý thức về giới trong mọi hoạt động, giữ gìn chánh niệm và xem giới là người thầy. Giữ giới là nền tảng cho chánh niệm, và chánh niệm dẫn đến giác ngộ. Việc giữ giới cũng đồng nghĩa với việc truyền thừa, duy trì sự vận hành của bánh xe giáo pháp qua không gian và thời gian. Nếu các giới tử thọ giới trong các Giới đàn trên khắp cả nước đều gìn giữ giới luật, Phật giáo Việt Nam sẽ không còn đối mặt với vấn nạn cải đạo. Tăng đoàn, với sự nuôi dưỡng từ thanh giới, sẽ trở thành điểm tựa vững chắc cho huệ mạng và sinh mệnh của đạo pháp. Chính nhờ những người con Phật gìn giữ tịnh giới, Phật giáo Việt Nam sẽ trường tồn cùng dân tộc.

Ý nghĩa Đại Giới đàn Cam lộ Giác ngộ 1
 

Ý nghĩa Giới đàn [1]

Giới đàn là nơi cử hành nghi thức truyền giới và thuyết giới. “Đàn” ở đây chỉ một khu vực được tôn cao hơn mặt đất trong giới trường. Về bản chất, Giới đàn không nhất thiết phải xây dựng nhà cửa kiên cố, chỉ cần kiết giới (lập ranh giới) và làm dấu tại một khoảng trống là đủ. Tuy nhiên, để phòng tránh các yếu tố thời tiết như gió mưa, các nghi thức có thể được cử hành trong chùa. Theo truyền thống, Ấn Độ xưa thường thực hiện các nghi lễ này ngoài trời mà không cần lập đàn riêng.

Theo ghi chép trong Thích Thị Yếu Lãm, Bồ Tát Lâu Chí từng xin Đức Phật xây dựng một Giới đàn ở phía Đông Nam Tịnh xá Kì Viên để truyền giới cho các Tỳ kheo. Về hình thức, Giới đàn chùa Nalanda ở Ấn Độ, được mô tả trong Đại Đường Tây Vực Cầu Pháp Cao Tăng Truyện của ngài Nghĩa Tịnh, có kích thước “vuông vức mỗi bề hơn 3m”, bao quanh là tường gạch cao khoảng 0,60m, với chỗ ngồi bên trong cao khoảng 0,15m.

Tương truyền, Giới đàn sớm nhất tại Trung Quốc được xây dựng bởi ngài Đàm-ca-ca-la tại Lạc Dương, trong khoảng thời gian từ năm 249 đến 256. Từ đời Tấn, Tống trở về sau, nhiều Giới đàn được lập ở phương Nam, nhưng hình thức của chúng không còn được ghi chép đầy đủ.

Đến năm 667, đời Đường, Luật sư Đạo Tuyên đã lập Giới đàn tại chùa Tịnh Nghiệp, ngoại ô Trường An. Giới đàn này có chiều cao 2,7m, gồm ba tầng: tầng dưới dài 9m, cao 0,9m; tầng giữa dài 7m, cao 1,2m; và tầng trên cùng vuông vức 2,1m, cao 0,6m. Mỗi tầng đều được chạm khắc hình tượng sư tử thần vương ở xung quanh. Sau này, ngài Đạo Tuyên đã dựa vào “Giới Đàn Đồ Kinh” để trình bày chi tiết về nguồn gốc, tên gọi và hình dáng của Giới đàn, từ đó định hình nên cấu trúc nhất định cho các Giới đàn sau này.

Năm 765, Vua Đại Tông ban sắc lệnh lập Giới đàn Phương Đẳng tại chùa Đại Hưng Thiện, đồng thời chỉ định mỗi bên Tăng và Ni tại kinh thành cử ra 10 vị Đại đức tham gia đàn lễ, gọi là Tam sư thất chứng. Giới đàn Phương Đẳng thuộc hệ Đại thừa, pháp đàn tuy dựa trên các bộ luật, nhưng yêu cầu người thọ giới phải phát tâm Bồ đề rộng lớn, đây là điểm khác biệt nổi bật so với các Giới đàn Tiểu thừa.

Năm 754, Hòa thượng Giám Chân, một cao tăng người Trung Quốc, đã đến Nhật Bản và xây dựng Giới đàn trước điện Đại Phật của chùa Đông Đại. Đây là Giới đàn đầu tiên tại Nhật Bản, được xây dựng dựa trên bộ “Giới Đàn Đồ Kinh” của ngài Đạo Tuyên.

Theo: Tứ phần luật hành sự sao tư trì ký, thượng 2, phần 1; Phật Tổ Thống Ký 36, 39; Phật Tổ Lịch Đại Thông Tải 18; Đại Tống Tăng Sử Lược, hạ; Thích Thị Kê Cổ Lược 3, 4; Đạo Tuyên Luật Sư Cảm Thông Lục.

Ý nghĩa Cam Lộ [2]

A. Cam Lộ:

  • Sanskrit: Amrta.
  • Pali: Amata.
  • Hán âm: A-mật-lí-đa, A-mật-lật-đa.
  • Nghĩa Hán Việt: Bất tử, Bất tử dịch, Thiên tửu.

Cam lồ được hiểu là sương ngọt, tượng trưng cho giáo lý của Phật có khả năng nuôi dưỡng thân tâm chúng sinh. Trong Mật giáo, nước quán đảnh bất nhị của hai bộ chân ngôn được gọi là cam lồ bất tử.

Theo Duy Ma Cật Kinh Chú (Đại 38, 395 thượng), ngài La Thập giải thích rằng chư thiên dùng các vị thuốc quý luyện thành cam lồ, khi ăn vào sẽ trường sinh bất tử. Ngài Đạo Sinh thì cho rằng cam lồ là thức ăn của trời, giúp kéo dài tuổi thọ.

Kinh Vô Lượng Thọ, thượng, phần đầu (Đại 12, 271 thượng) miêu tả: “Nước tám tính chất, trong suốt đầy tràn, sạch sẽ thơm tho, vị như cam lồ”.

Theo: Kim Quang Minh Kinh Văn Cú 5; Đại Nhật Kinh Sớ 13; Đại Nhật Kinh Sớ Diễn Áo Sao 11; Huyền Ứng Âm Nghĩa 22.

B. Cam Lộ:
Là một trong ba danh hiệu (Vô Lượng Thọ, Vô Lượng Quang, Cam Lộ) của Phật A Di Đà. Mật giáo còn gọi Phật A Di Đà là Cam Lộ Vương.

Ý nghĩa của từ Giác Ngộ

Để tưởng nhớ công hạnh tu hành và sự nghiệp hoằng hóa của các vị Tổ sư, cao tăng thạc đức trong Phật giáo, các Đại Giới đàn thường được đặt tên theo vị Tổ sư hoặc cao tăng tiêu biểu của địa phương đó.

Theo truyền thống của Thiền môn BTS Phật giáo Gia Lai, Ban Kiến Đàn đã lấy Pháp hiệu của một vị Hòa thượng viên tịch trong thời cận đại để đặt tên cho Giới Đàn. Giới Đàn đầu tiên được tổ chức tại Gia Lai vào năm 2010, mang tên Giới Đàn Cam Lộ. Lần tổ chức năm 2015 được bổ sung thêm tên Giác Ngộ, trở thành Cam Lộ Giác Ngộ. Nếu có đủ duyên lành, BTS Phật giáo Gia Lai sẽ tiếp tục tổ chức Giới Đàn lần thứ ba vào 5 năm tới, vẫn giữ tên Cam Lộ đi kèm với Pháp hiệu của một vị Hòa thượng cao tăng khác.

Khái niệm “Cam Lộ” đã được giải thích rõ ràng qua định nghĩa trong “Từ điển Phật học Huệ Quang”.

Ý nghĩa Đại Giới đàn Cam lộ Giác ngộ 2
 

Vài nét tiểu sử Hòa thượng Thích Giác Ngộ (1924 – 2010)

Ngài sinh ra tại tỉnh Bình Định, thuộc dòng họ Nguyễn, tên hú là Hộ. Ngài vốn thông minh, tướng mạo phúc hậu, từ sớm đã có chí hướng xuất trần. Năm 14 tuổi, Ngài xuất gia, tôn Hòa thượng Tường Quang tại chùa Phước Sơn, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định làm thầy, được ban pháp danh là Thị Hớn.

Năm 19 tuổi, Ngài được thầy cho thọ giới Sa di tại Giới đàn Tổ đình Thiên Đức, Tuy Phước, Bình Định, do Hòa thượng Thích Huệ Chiếu làm đường đầu. Nhận thấy Ngài là bậc pháp khí Đại thừa, Hòa thượng Bổn Sư đã cho Ngài y chỉ tu học với Hòa thượng Huệ Chiếu tại Tổ đình Thiên Phước, xã Phước Hưng, Tuy Phước, Bình Định. Tại đây, Ngài được Hòa thượng Huệ Chiếu tiếp nhận và ban cho pháp danh là Nguyên Uyên, tự Chí Đạt, hiệu Giác Ngộ.

Năm 28 tuổi, Ngài thọ Cụ túc giới tại Đại Giới đàn Tổ đình Thiên Bình (xã Nhơn Phong, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định). Giới đàn này có Hòa thượng Thích Huệ Chiếu (Tổ đình Thập Tháp) làm đường đầu, Hòa thượng Thích Phúc Hộ làm Yết Ma A Xà Lê, và Hòa thượng Thích Tâm Đạt, viện chủ Tổ đình Thiên Bình, làm Giáo thọ.

Trong quá trình hành đạo, Ngài đã đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng:

  • Năm 1953: Được Tỉnh hội Phật giáo tỉnh Bình Định đề cử làm Chánh Thư ký Phật giáo Cứu quốc xã Phước Hưng.
  • Năm 1954: Trụ trì chùa Thiên Trúc, thôn Bình Lâm, xã Phước Hòa, Tuy Phước, Bình Định.
  • Năm 1957: Giao chùa Thiên Trúc cho Thượng tọa Thích Quảng Cố trông nom, Ngài lên Huế tham gia các lớp nghiên cứu Phật học tại Phật học đường Báo Quốc.
  • Năm 1961: Trở về chùa Thiên Trúc tiếp tục sứ mệnh tiếp tăng độ chúng và tham gia công tác Phật sự tại Tỉnh hội Phật giáo tỉnh Bình Định.
  • Năm 1964: Được bổ nhiệm trụ trì chùa Pháp Lâm ở Đà Nẵng, hướng dẫn Phật tử tu tập.
  • Năm 1966: Ban Đại diện Phật giáo tỉnh Bình Định mời Ngài về Tổ đình Long Khánh tham gia công tác giáo dục, đào tạo tăng tài, kiêm chức vụ Đặc ủy Văn hóa Phật giáo tỉnh Bình Định. Ngài còn giữ chức Giám luật tại Phật học viện Nguyên Thiều, huyện Tuy Phước.
  • Năm 1970: Được mời làm Giám luật Phật học viện Phước Huệ (Tổ đình Thập Tháp, Bình Định).
  • Năm 1972: Viện Hóa Đạo GHPGVNTN cử Ngài nhận lãnh trách nhiệm Hoằng pháp Cao nguyên, bổ nhiệm Ngài trụ trì chùa Bửu Thắng (Tỉnh hội Phật giáo Pleiku).
  • Ngày 08/03/1974: Chính thức nhận chức vụ trụ trì chùa Bửu Thắng. Từ đây, Ngài bắt tay vào việc chỉnh đốn quy củ thiền môn, tiếp tăng độ chúng và hướng dẫn quần chúng Phật tử tu học.

Sau năm 1975, tỉnh Pleiku sáp nhập với tỉnh Kon Tum thành Gia Lai – Kon Tum. Với địa giới mở rộng, hoạt động Phật giáo đòi hỏi nhiều sự hy sinh và dấn thân phụng sự. Là một cao tăng trụ trì chùa tỉnh hội, trách nhiệm Phật sự của Ngài đối với Giáo hội và quần chúng Phật tử càng trở nên lớn lao.

Tại Đại hội Toàn quốc nhiệm kỳ V (2002-2007), Ngài được tấn phong lên hàng giáo phẩm Hòa thượng và được suy tôn vào Hội đồng Chứng minh Trung ương GHPGVN.

Năm 2006, nhận thấy tuổi cao sức yếu, Ngài phó chúc cho Thượng tọa Thích Tâm Tường thay thế Ngài giữ chức vụ trụ trì chùa Bửu Thắng. Ban Trị sự và Tăng Ni Phật tử Gia Lai nhất tâm suy tôn Ngài lên ngôi vị Viện chủ chùa Bửu Thắng, để tiếp tục là bóng mát bồ đề, là chỗ nương tựa cho hàng tứ chúng.

Theo quy luật vô thường, ngày 14 tháng 10 năm Canh Dần (nhằm ngày 19/11/2010), tại chùa Bửu Thắng, TP. Pleiku, Ngài đã an nhiên thị tịch giữa lời kinh tiếng kệ của bốn chúng đệ tử, trong niềm kính tiếc vô biên. Ngài trụ thế 86 năm, 59 hạ lạp.

Ngài là một tòng lâm thạch trụ của Phật giáo, đã chèo lái con thuyền Phật giáo Gia Lai vượt qua những giai đoạn khó khăn nhất. Ngài luôn tổ chức trường hạ hàng năm cho Tăng Ni Phật tử Gia Lai an cư tu tập để gìn giữ mạng mạch Phật pháp, đồng thời luôn ủng hộ việc xây dựng, trùng tu các chùa trong và ngoài tỉnh cả về tinh thần lẫn vật chất. Ngài có một lời dạy rất nổi tiếng: “Tôi muốn các chùa ở vùng sâu vùng xa được xây mới, trùng tu trước, còn chùa tỉnh hội nơi tôi đang trụ trì thì trùng tu sau. Bởi vì nếu tôi trùng tu trước, tôi kêu gọi các giới Phật tử sẽ hưởng ứng đông đảo và đóng góp nhiều. Do vậy, khi các chùa vùng sâu vùng xa kêu gọi đóng góp trùng tu xây dựng sẽ gặp khó khăn. Các giới Phật tử và nhà hảo tâm sẽ cúng dường ít lại, khiến các công trình trùng tu xây dựng chùa ở vùng sâu vùng xa khó hoàn thành. Chính vì lý do đó, tôi chưa có ý định trùng tu chùa tỉnh hội.”

HT. Thích Giác Ngộ (Gia Lai) trích trong “Những lời dạy của các Cao Tăng Phật giáo Việt Nam”.

Để Đại Giới đàn được mở ra và thành tựu viên mãn, Ban kiến đàn Đại Giới đàn Cam Lộ – Giác Ngộ thành tâm đảnh lễ mười phương chư Phật hộ trì, liệt vị Tổ sư gia hộ, tri ân chư tôn giáo phẩm Hội đồng Chứng minh, Hội đồng Trị sự T.Ư GHPGVN, chư tôn Hòa thượng trong Hội đồng Thập sư, chư tôn Hòa thượng, Thượng tọa trong Ban Chứng minh, BTS Phật giáo Gia Lai, tứ vị dẫn thỉnh, nhị vị Giám đàn.

Chúng tôi cũng tri ân các vị lãnh đạo chính quyền các cấp, cùng tất cả chư tôn đức Tăng Ni, Đàn na tín thí đã ủng hộ công quả tài vật cho Giới đàn, cả trong và ngoài tỉnh. Đặc biệt là Thượng tọa Thích Tâm Mãn, trụ trì chùa Minh Thành, Ni trưởng Thích Nữ Hạnh Nguyện chùa Bửu Sơn, cùng Tăng chúng và Ni chúng của hai chùa đã hết lòng yểm trợ, cung phụng, trợ duyên cho Giới đàn Cam Lộ – Giác Ngộ.

Nguyện đem công đức của Pháp hội Đại Giới Đàn này cầu nguyện cho thế giới hòa bình, chúng sinh an lạc.

Khể thủ.

Ban kiến đàn Đại Giới Đàn Cam Lộ – Giác Ngộ
Nguồn: http://chuabuuminh.vn/thoi-su/pg-viet-nam/7BE608_y_nghia_dai_gioi_dan_cam_lo__giac_ngo.aspx

  • Dẫn chiếu:

[1] Từ điển Phật học Huệ Quang (Nhà xuất bản Tổng hợp TP.HCM năm 2010). Mục Giới Đàn, trang 1712 – 1713.
[2] Từ điển Phật học Huệ Quang (Nhà xuất bản Tổng hợp TP.HCM năm 2010). Mục Cam Lộ, trang 651 – 652.

Xem thêm: Hành trình khai mở tuệ giác: Tìm về bản chất vạn pháp trong từng trải nghiệm

Tìm hiểu thêm: Lậu Tận Thông: Bí mật giải thoát phiền não và dấu hiệu nhận biết

Khám phá: Tâm Trí Bình An: Nghệ Thuật Kiến Tạo Cuộc Sống An Nhiên Từ Ý Thức

Hy vọng những chia sẻ về ý nghĩa sâu sắc của Đại Giới đàn Cam lộ Giác ngộ sẽ giúp quý độc giả thêm phần hiểu biết và trân quý con đường tu hành của mình; đồng thời, quý vị có thể tìm hiểu thêm nhiều thông tin hữu ích khác trong chuyên mục Đạo Phật.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang