Sau năm 1975, hệ thống Phật học viện gặp nhiều khó khăn, việc học tập chính quy gần như ngừng lại. Trong bối cảnh khan hiếm kinh sách, việc tìm được một cuốn sách quý giá trở thành một thử thách lớn. Liên quan đến giai đoạn này, bạn có thể tìm hiểu thêm tại Chiasedaophat.
Sau năm 1975, hệ thống Phật học viện trên cả nước đều ngừng hoạt động. Các tăng sinh trở về các ngôi tự viện cũ để tiếp tục con đường tu tập và học hỏi. Tuy nhiên, việc học tập chính quy gần như không còn, chủ yếu chỉ còn lại sự truyền dạy giữa thầy và trò trong phạm vi từng ngôi chùa. Những ngôi chùa có đất đai thì thầy trò tự túc canh tác để sinh sống. Hoạt động giáo dục và đào tạo tăng ni trẻ đã dần mai một.
Trong giai đoạn thập niên 70 của thế kỷ trước, việc tìm kiếm kinh sách để đọc là một thử thách lớn. Mỗi khi tìm được một cuốn sách, đặc biệt là sách Phật học hay các tác phẩm triết học Đông Tây, tôi đều đọc một cách say sưa. Kiến thức lúc bấy giờ thật khan hiếm và quý giá. Có lần, tôi đã mạnh dạn đến đảnh lễ Thượng tọa Bát Nhã (lúc đó Ngài chưa được tấn phong Hòa thượng) để xin mượn sách. Ngài đã cho tôi mượn bộ báo Viên Âm của Hội Nam Phật học Huế. Các tập báo được đóng lại, mỗi tập gồm khoảng 10 cuốn. Giấy in từ những năm 1930, 1940 đã ngả màu vàng úa, nhưng con chữ vẫn còn rõ ràng. Khi lần đầu tiên cầm bộ báo Viên Âm trên tay, tôi cảm nhận niềm vui sướng khôn tả và vội mang về phòng để đọc. Đến giờ, tôi vẫn còn nhớ mùi giấy cũ trong tủ, vừa có chút ẩm mốc, vừa phảng phất hương thơm đặc trưng của giấy để lâu ngày. Một lần khác, vài người bạn tìm được bộ Thiền Luận của Suzuki, do Tuệ Sỹ và Trúc Thiên dịch, cho tôi mượn. Họ còn đặt ra thời hạn phải trả lại để người khác cùng đọc. Cầm bộ Thiền Luận trên tay, lòng tôi mừng hơn được ai đó cho tiền bạc. Tôi đọc say sưa quên ngày tháng.
Hòa thượng Từ Quang và Thượng tọa Bát Nhã, vì thương quý anh em tăng sĩ trẻ, đã đích thân truyền dạy kinh luật cho chúng tôi tại chùa. Ân đức này sẽ mãi không phai nhạt trong tâm khảm những người học trò như chúng tôi, dù là đời này hay nhiều đời sau.
Người tu hành giữa cuộc đời giống như người đi trong đêm tối. Nếu có bước chân đi mà không có ánh đèn soi đường, rất dễ lạc lối, thậm chí rơi vào hầm hố lúc nào không hay. Ánh đèn ở đây chính là tri kiến Phật pháp, còn bước chân đi là sự thực nghiệm Chánh pháp của Đức Phật. Vì vậy, các bậc cổ đức thường dạy: “Tu mà không học là tu mù, học mà không tu là hòm sách”. Cầm đèn trên tay mà không đi thì không bao giờ thoát khỏi ba cõi. Đi mà không có đèn soi sáng thì lẩn quẩn trong vòng sinh tử luân hồi. Do đó, việc học Phật và thực hành Phật pháp là nhu cầu thiết yếu, bất kể hoàn cảnh, thời đại hay quốc độ nào.
Thảm họa lớn nhất đối với đạo Phật chính là sự bê trễ trong công tác giáo dục tăng ni. Tuy nhiên, giáo dục mà không hoàn thành tốt chức năng, không được thực hiện một cách nghiêm túc cũng là một thảm họa khác.
May mắn thay, Phật giáo Việt Nam thời cận đại vẫn còn tồn tại những nhà giáo dục chân chính. Trong số đó, Cố Đại lão Hòa thượng Thích Trí Thủ (sau đây xin được gọi là Ôn Già Lam) là một nhân vật tiêu biểu. Công lao của Ngài trong sự nghiệp giáo dục tăng ni thật hiếm có ai sánh bằng. Ngài không chỉ là người thầy giảng dạy tại các Phật học viện cho nhiều thế hệ tăng ni, mà còn là người sáng lập và phát triển mạnh mẽ hệ thống giáo dục Phật giáo, bao gồm các trường Bồ Đề (tiểu, trung học) và Viện Đại học Vạn Hạnh tại miền Nam. Đối với các Phật học viện, không thể không nhắc đến Phật học viện Báo Quốc ở Huế, Phật học viện Hải Đức ở Nha Trang, và Tu viện Quảng Hương Già Lam.
Vào giữa năm 1980, tôi nhận được thư của Thầy Thiện Tu từ Sài Gòn gửi ra. Trong thư, Thầy cho biết Ôn Già Lam đã mở một lớp học, vừa dạy Phật pháp, vừa hỗ trợ Thầy Tuệ Sỹ và Thầy Lê Mạnh Thát biên soạn bộ Bách Khoa Từ Điển Phật Giáo Việt Nam. Thầy khuyên tôi nên thu xếp để vào xin học. Thầy đề nghị tôi đảnh lễ Thượng tọa Bát Nhã, nhờ Ngài thưa với Sư ông Từ Quang viết thư giới thiệu với Ôn Già Lam, rồi mang vào Sài Gòn. Tôi đã làm theo lời khuyên của Thầy Thiện Tu và nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình từ Thượng tọa Bát Nhã cũng như Sư ông Từ Quang. Sau đó, tôi thu dọn hành lý và lên đường.
Tôi đi chuyến tàu chợ từ Phú Yên vào Sài Gòn, mất gần một ngày một đêm. Trên tàu vô cùng chật chội, người và hành lý chen chúc đến nỗi không còn chỗ đứng vững. Tôi phải thay phiên nhau đứng một chân, hoặc cố gắng chen ra đứng ở khoảng nối giữa hai toa xe lửa khi quá mỏi. Nơi đây tuy vắng người qua lại nhưng tiềm ẩn nguy hiểm, chỉ cần sơ sẩy là có thể rơi xuống đường ray. Đến ga Bình Triệu lúc 3 giờ sáng, tôi phải vào ngồi trong một quán nước ven đường để chờ trời sáng rồi mới vào thành phố.
Khi trời vừa sáng, tôi thuê xe vào thành phố, tìm đến Chùa Quan Âm của Thầy Thông Bửu tại Phú Nhuận để xin tá túc tạm thời. Tuy nhiên, chùa quá đông, không có chỗ nằm. Tôi đành ở phòng khách, ban ngày lang thang bên ngoài, tối đến thì giăng mùng ngủ giữa các chân ghế. Thầy Thiện Tu khi đến Chùa Quan Âm thấy hoàn cảnh của tôi, đã sang Chùa Từ Hiếu xin Thầy Nguyên Lý cho tôi ở tạm để tiện đi học. Thầy Nguyên Lý đã hoan hỷ chấp nhận. Tôi chuyển đến ở tại Chùa Từ Hiếu, Quận 8, bên kia cầu Chữ Y.
Tôi nhờ Thầy Thiện Tu dẫn lên Chùa Già Lam để đảnh lễ Ôn Già Lam và xin nhập học. Ngày tôi đến Già Lam, tôi nhớ Ôn đang nằm trên võng sau phòng khách. Thầy Thiện Tu đã trình bày sự việc với Ôn, còn tôi thì thành kính đảnh lễ. Ôn đọc thư của Hòa thượng Từ Quang rồi nói: “Học thì được, nhưng ở đây không có chỗ, con phải tự túc.” Nghe Ôn chấp thuận cho tôi được học, lòng tôi mừng khôn xiết. Cơ hội như vậy trong đời người thật hiếm hoi, nhất là trong hoàn cảnh khó khăn như bấy giờ!
Mỗi ngày, tôi đạp chiếc xe đạp mini từ Chùa Từ Hiếu (Quận 8) xuống Chùa Già Lam (Gò Vấp) hoặc Vạn Hạnh (Phú Nhuận) để theo học. Quãng đường này mất khoảng 45 đến 50 phút đạp xe. Vất vả nhất là những cơn mưa bất chợt, nước mưa bắn lên làm ướt đẫm vạt áo sau. Những ngày nắng gắt, đạp xe đến nơi người tôi ướt đẫm mồ hôi. Nhưng tuổi trẻ với lòng hăng say không hề biết mệt mỏi hay khổ sở. Mãi đến sau khi thi đậu và được nhận vào học chính thức, tôi mới được ở nội trú tại Già Lam, vào khoảng mùa hè năm 1981.
Trong thời gian đầu, các tăng sinh vẫn còn sang Vạn Hạnh để theo học hai môn của Ôn Minh Châu và Thầy Chơn Thiện. Tại Già Lam, chúng tôi học với Ôn Già Lam, Thầy Minh Tuệ, Thầy Tuệ Sỹ, Thầy Lê Mạnh Thát, Thầy Nguyên Giác, và Thầy Nguyên Hồng. Sau này, Ôn Minh Châu cũng về Già Lam để giảng dạy, nên quý thầy không còn phải di chuyển sang Vạn Hạnh nữa.
Ở gần gũi với Ôn Già Lam, tôi càng cảm nhận sâu sắc ân đức lớn lao của Ngài. Mỗi buổi sáng, vào khoảng 4 giờ 30, Ôn đều lên Chánh điện lạy Phật cùng quý thầy. Tuy nhiên, trước đó, Ôn đã thức dậy rất sớm để hành trì tại tịnh thất riêng. Không một ngày nào Ôn bỏ lễ, trừ những khi đi xa hoặc lâm bệnh. Nghi thức 108 lạy mà Ôn soạn thảo có thể nói là đúc kết toàn bộ tinh hoa văn học Phật giáo Hán ngữ, bao hàm cả cốt lõi tư tưởng Phật học. Mỗi vị đọc một câu rồi đồng loạt lạy xuống. Đó là một phương pháp tu tập thâm diệu và đầy tính khoa học. Thâm diệu bởi lẽ, khi một vị xướng lên, tất cả đều lắng nghe, ghi nhớ, thẩm thấu đạo lý uyên áo trong kinh văn, rồi hành động lạy xuống. Cái tôi, dù còn, cũng như núi lở thành bình địa khi tâm thức hòa nhập vào nhất tâm. Phương pháp này còn mang tính khoa học vì là một hình thức thể dục hiệu quả. Đứng lên, lạy xuống sát đất, lặp lại 108 lần vào buổi sáng sớm, với tâm thế thênh thang tự tại, mọi bệnh tật, phiền não và nghiệp chướng đều dần tiêu tan.
Có người nghe nói tu tập như vậy lại cho là đơn giản. Nhưng kỳ thực, không có pháp môn nào của Phật là đơn giản cả. Sự sâu sắc hay nông cạn phụ thuộc vào cách chúng ta dụng tâm. Cánh hoa của Thiên nữ đâu có nặng gì, thế nhưng có vị không bị dính, còn có vị lại phủi mãi không rơi!

Lễ Húy Kỵ Cố Hòa Thượng Thích Trí Thủ (Ôn Già Lam) tại Niệm Phật đường Fremont, Fremont – Hoa Kỳ
Tôi còn nhớ trong khóa an cư năm đó, Ôn Từ Đàm giảng kinh Pháp Hoa. Khi Ôn vào lớp, Ngài ngồi ở bàn giảng sư. Ôn Già Lam, chống gậy, lại ngồi ở hàng ghế cuối. Quý thầy thỉnh Ôn Già Lam lên ngồi chung bàn với Ôn Từ Đàm, nhưng Ôn đã từ chối. Ôn Từ Đàm bèn nói rằng: “Ngồi trên chưa chắc đã an lạc bằng ngồi dưới.” Hai vị đại trí đã thấu hiểu lẫn nhau. Quả thật, Ôn Già Lam vì tương lai Phật pháp, vì sự nghiệp giáo dục tăng ni mà hy sinh, gánh vác nhiều Phật sự trong thời buổi khó khăn. Ngài đã dùng chính thân mình để che chở cho thế hệ hậu tấn có nơi ăn chốn ở, có trường lớp để học tập và tu tập.
Khi nói về công nghiệp giáo dục và đào tạo tăng ni của Phật giáo Việt Nam trong những thập niên cuối thế kỷ 20, Ôn Già Lam là người đã có những đóng góp xứng đáng mà nhiều thế hệ tăng ni đều cảm nhận được. Điểm đặc biệt đáng ghi nhận là dù thuộc thế hệ trưởng thượng, Ôn Già Lam lại có thái độ cởi mở, khoan dung và thực tiễn đối với chư tăng ni trẻ trên con đường học vấn. Trong số các vị tôn túc cùng thế hệ, rất hiếm có ai cởi mở trong việc cho phép tăng ni trẻ theo đuổi con đường thế học. Chính Ôn Già Lam đã thành lập Tu viện Quảng Hương Già Lam để tăng ni có nơi cư trú ổn định, thuận tiện cho việc theo học các trường thế tục tại Sài Gòn vào những năm đầu thập niên 1960.
Biểu hiện rõ nét nhất cho tầm nhìn xa và tâm lượng khoáng đạt của Ôn Già Lam là đề xuất đường hướng và quy chế đào tạo tăng ni vào năm 1971, khi Ngài đang giữ chức Giám viện Phật học viện Nha Trang và Tổng Vụ trưởng Tổng vụ Hoằng pháp của GHPGVNTN. Có thể nói, đây là một quy chế hiếm thấy được soạn thảo cho công tác đào tạo tăng ni tại Việt Nam từ trước đến nay. Đề án này được Ôn Già Lam đặt tên là “Thử Vạch Một Quy Chế Cho Tăng Sĩ Và Một Chương Trình Đào Tạo Tăng Sinh Thích Ứng Với Nhu Cầu Của Giáo Hội Trong Hiện Tại Và Tương Lai Gần.”
Trong đề án này, Ôn Già Lam đã nhấn mạnh vai trò của các vị lãnh đạo Phật giáo như sau:
“Trong phạm vi Phật giáo, nhiệm vụ bất di bất dịch của cấp lãnh đạo là thừa kế Tổ đạo, truyền trì giới luật, hướng dẫn tăng đồ và tín đồ về mặt tinh thần, trụ trì các tự viện thuộc hệ thống của Giáo hội. Công tác lãnh đạo còn bao gồm cả việc gây giống, ươm mầm, đúc tạo tăng tài, để kế thừa Tổ đạo trong ngày mai.”
Để thực hiện sứ mệnh hoằng dương Chánh pháp và cứu khổ quần sinh, Ôn Già Lam đã nêu ra hai phương thức, cũng là mục đích cho một vị sứ giả Như Lai:
“Cấp thừa hành có nhiệm vụ bám sát cơ sở quần chúng, nhằm phát triển đạo pháp trên hai phương diện: 1. Củng cố tổ chức, dẫn đời vào đạo, 2. Tích cực nhập thế, đem đạo vào đời.”
Qua đó, chúng ta thấy Ôn Già Lam đã có tầm nhìn sâu sắc, quán triệt thời đại và nhu cầu phát triển của Phật giáo, nhằm vừa giữ gìn giềng mối Đạo trang nghiêm, vừa phát huy diệu lực thù thắng của giáo pháp Phật Đà trong xã hội. Vì vậy, Ôn Già Lam chủ trương một mặt là “giữ Đạo”, mặt khác là “đem đạo vào đời”. Giữ Đạo để làm gương đạo đức, thực chứng, củng cố đạo lực Tăng già và xây dựng tín tâm của các đệ tử Phật, từ đó hướng dẫn họ vào Đạo. Tích cực phổ biến tinh thần giải thoát giác ngộ của đạo Phật thông qua các hoạt động Phật sự thực tiễn về văn hóa, giáo dục, từ thiện xã hội để cứu giúp dân sinh và đóng góp vào việc xây dựng xã hội. Hai mục tiêu này đáp ứng được hai nhu cầu cấp thiết của Phật giáo Việt Nam: dẫn đời vào đạo và đem đạo vào đời. Đồng thời, chúng cũng giải quyết được nan đề làm thế nào để duy trì mạng mạch chính thống của Phật giáo và đưa đạo Phật hòa nhập vào xã hội một cách thành tựu. Cả hai mục tiêu này có thể được thực hiện đồng thời mà không gây trở ngại cho nhau.
Để cụ thể hóa phương thức thực hiện hai mục tiêu trên, Ôn Già Lam đã đề xuất giải pháp khả thi thông qua hai công tác chính yếu: Kiện nội và Hóa ngoại. Kiện nội nhằm đáp ứng mục tiêu “dẫn đời vào đạo”, còn Hóa ngoại là để “đem đạo vào đời”. Ôn Già Lam đã phân định rõ ràng vai trò và chức năng của mỗi mục tiêu như sau:
“Ngành Kiện nội, lo xây dựng bên trong tự viện. Đóng vai trò thân cận của cấp lãnh đạo. Đảm trách mọi công tác củng cố sinh hoạt tinh thần và vật chất của cơ sở.
Ngành Hóa ngoại phụ trách tổ chức tín đồ thuộc mọi tầng lớp xã hội, diễn giảng, hành chính, giao tế. Chính ngành này thực thi đường lối đối ngoại của Giáo hội, tương ứng với các cấp hành chính ở ngoài đời.
Ngành Văn hóa Giáo dục chuyên trách việc giảng huấn trong đạo và ngoài đời, từ mẫu giáo đến đại học. Một công tác khác không kém phần quan trọng của ngành này là phiên dịch và trước tác.
Ngành Công tác xã hội trực tiếp tham gia mọi sinh hoạt xã hội mà không trái với tinh thần giới luật, qua các hoạt động nghề nghiệp hợp với thế đế, để nhiếp hóa chúng sanh bằng tinh thần tứ nhiếp pháp và lo sinh tài cho Giáo hội.”
Điều đáng chú ý và thú vị nhất là việc Ôn Già Lam đã đặt tên cho các phẩm trật tăng ni phục vụ trong các lĩnh vực kiện nội và hóa ngoại bằng những danh hiệu rất phù hợp. Ngài đề xuất rằng:
“Chẳng hạn, tăng sĩ thuộc cấp lãnh đạo thì gọi là Trụ trì tăng. Trong ngành Kiện nội gọi là Công đức tăng. Trong ngành Hóa ngoại gọi là Thiệp thế tăng. Trong ngành Văn hóa giáo dục gọi là Giảng huấn tăng. Trong ngành Công tác xã hội gọi là Nhiếp hóa tăng.
Để được sung vào một trong năm ngành nói trên, tăng sĩ phải trải qua một thời gian tu học tại các Phật học viện theo đúng chương trình sẽ quy định ở một đoạn sau.”
Việc quan tâm đến phẩm chất và nội hàm của tăng ni khi phục vụ đạo pháp trong các tổ chức Phật giáo cũng như ngoài xã hội là vô cùng quan trọng trong thời đại ngày nay. Nếu không, người hành đạo sẽ không thể mang tinh hoa của Phật pháp để truyền đạt cho người khác, cũng như không có nội lực đủ để nhiếp hóa xã hội. Qua đó, Ôn Già Lam đã đề xuất các tiêu chuẩn về trình độ kiến văn Phật pháp và thế học mà một vị tăng ni cần có khi phục vụ Giáo hội và xã hội. Ngài cũng đã đề xuất chương trình học Phật pháp đầy đủ cho cấp Trung Đẳng và Cao Đẳng Phật học, dành cho những vị lãnh đạo Phật giáo ở bậc trung cấp và cao cấp trong tương lai.

Một điều vừa lý thú vừa thiết thực hơn nữa là việc Ôn Già Lam đề xuất thành phần tăng ni tham gia các công tác xã hội chỉ nên thọ Sa Di Bồ Tát Giới và không có giáo phẩm. Đề xuất này thể hiện tầm nhìn xa rộng và tính thực tiễn của Ngài. Bản thân người tăng ni khi đi vào xã hội để nhiếp hóa quần chúng, nếu thọ trì Cụ Túc Giới của Tỳ Kheo hoặc Tỳ Kheo Ni sẽ gặp nhiều bất tiện, đặc biệt là những ràng buộc của Giới Cụ Túc đối với công tác xã hội mang nặng tính thế tục. Do đó, nếu tăng ni chỉ thọ Sa Di Bồ Tát Giới, sẽ giúp bản thân vị tăng ni uyển chuyển hơn trong mọi hoàn cảnh, đồng thời tránh tạo ảnh hưởng thiếu trang nghiêm đối với các vị Tăng Bảo đang thọ trì Cụ Túc Giới. Đây chính là điểm cụ thể để đưa Phật giáo vào xã hội mà vẫn có thể giữ được bản thể thanh tịnh của hàng Tăng Bảo trang nghiêm.
Một nhà giáo dục hoàn thiện là người thể hiện việc giáo dục một cách đầy đủ trên cả ba phương diện: ý giáo, khẩu giáo và thân giáo. Phải có đại nguyện rộng lớn và bền vững đối với sứ mệnh giáo dục, mới có thể biến công tác giáo dục thành tâm ý, luôn xem giáo dục là mục tiêu hàng đầu, sẵn sàng hy sinh tất cả vì giáo dục, vì các thế hệ con em, nỗ lực không ngừng kiến tạo thuận duyên cho giáo dục dù sống trong bối cảnh xã hội đầy nghịch duyên. Từ đại nguyện giáo dục ấy, thể hiện qua hai hình thái thân giáo và khẩu giáo. Đặc biệt đối với các vị tăng ni Phật giáo, thân giáo đóng vai trò vô cùng quan trọng, vì đó là tấm gương không chỉ trong lĩnh vực giáo dục mà còn trong lĩnh vực thực chứng giáo pháp của Đức Phật. Đúng như lời Phật dạy: Như Lai là nói và làm như nhau, giáo thuyết và hành trì như nhau. Ôn Già Lam là vị tôn túc, nhà giáo dục có đầy đủ những phẩm chất đó: giới đức tinh nghiêm, đạo hạnh thanh tịnh, kiến thức uyên bác, nguyện lực sâu rộng, dấn thân trọn vẹn vào con đường giáo dục tăng ni qua bao thập niên, bao hoàn cảnh xã hội, bao nghịch duyên từ trong ra ngoài. Ôn Già Lam thực sự là một nhà giáo dục vĩ đại của Phật giáo Việt Nam thời cận đại.
Ân đức giáo dục của Ôn Già Lam sẽ còn mãi trong đáy sâu tâm thức của những người đã từng may mắn được thọ nhận. Công hạnh giáo dục tăng ni của Ngài sẽ còn mãi trong lịch sử Phật giáo Việt Nam.
Con xin cúi đầu nhất tâm đảnh lễ Giác Linh Cố Đại lão Hòa thượng Thượng Trí Hạ Thủ.
Để hiểu rõ hơn về cuộc đời và những đóng góp to lớn của các bậc tiền bối trong sự nghiệp hoằng dương Chánh pháp, mời quý độc giả khám phá thêm trong chuyên mục Tiểu sử.
