Hòa thượng Thích Giác Hạnh: Cuộc đời và Di sản

hoa thuong van phuoc
× 🎁 Ưu đãi Shopee hôm nay – Nhấn nhận ngay!
🔥 Ưu đãi Shopee - Bấm để xem ngay!
0
(0)

Xuất thân từ một gia đình nông dân tại Quảng Trị, Hòa thượng Thích Giác Hạnh đã sớm thể hiện lòng hướng Phật và trí tuệ xuất chúng từ thuở thiếu thời. Hành trình tu học của Ngài bắt đầu từ năm 17 tuổi, vượt qua những thử thách để tinh thông kinh điển, lập nên những dấu ấn sâu đậm trong lịch sử Phật giáo, khám phá thêm về cuộc đời và di sản của Ngài tại chiasedaophat.com.

Tiểu sử Hòa thượng Thích Giác Hạnh

(1880 – 1981)

Hòa thượng Thích Giác Hạnh, thế danh Nguyễn Đức Cử, thuộc dòng Lâm Tế Thiền Tông đời thứ 43, sinh ngày 13 tháng 6 năm Canh Thìn (1880) tại làng Ái Tử, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Ngài là trưởng tử trong một gia đình trung nông gồm chín người con, thân phụ là cụ ông Nguyễn Đức Uẩn và thân mẫu là cụ bà Lê Thị Lộc.

Từ thuở thiếu thời, Ngài đã sớm bộc lộ tư chất thông minh và tấm lòng hướng Phật. Sau khi theo học Nho văn, Ngài luôn trăn trở về ý nghĩa cuộc đời, mong muốn xuất gia học đạo. Năm 17 tuổi (1897), Ngài được xuất gia tại Tổ đình Từ Hiếu (Huế).

Sau hai năm tu học, với ý chí kiên định, tính tình hoan hỷ và nhẫn nại, vào năm Kỷ Hợi (1899), Ngài thọ giới Sa Di tại Tổ đình Từ Hiếu, được ban pháp danh là Tâm Cảnh và pháp tự Thiện Quyên. Đến ngày 08 tháng 3 năm Canh Tuất (1909), Ngài chính thức thọ Cụ Túc giới tại Đại giới đàn Phước Lâm (Quảng Nam).

Với chí nguyện cầu đạo giải thoát, Ngài đã đến học đạo tại chùa Tây Thiên. Qua thời gian dài nghiên cứu, Ngài đã tinh thông Tam tạng kinh, luật, luận, đặc biệt là giới luật được Ngài nghiêm trì cẩn mật. Nhờ sở học uyên thâm và tuệ căn mẫn tiệp, danh tiếng của Ngài không chỉ lan tỏa trong giới tu hành mà còn được đông đảo tín hữu biết đến.

Năm Ất Mão (1915), ở tuổi 36, Ngài được cung thỉnh làm trú trì Phổ Phúc Am, một ngôi am nhỏ tọa lạc trên đồi Bình An (Nam Giao, Huế), do ông bà Hiệp Tá Đại Học Sĩ Nguyễn Đình Hòe lập nên. Khi tiếp nhận, Ngài nhận thấy nếp sinh hoạt tại đây còn nhiều điểm chưa phù hợp với thanh quy thiền môn, nên Ngài đã quyết tâm chấn chỉnh, từng bước xây dựng nếp sống thanh tịnh.

Xem thêm: Nguyễn Đăng Thục: Vị Trí Khai Sáng Giữa Dòng Chảy Tri Thức Việt

Nhờ công hạnh hoằng hóa và ý chí tiến tu, vào ngày 14 tháng giêng năm Bính Dần (1926), Ngài được Hòa thượng Tâm Tịnh ban Đạo hiệu là Giác Hạnh, chính thức kế thừa dòng Lâm Tế Thiền Tông đời thứ 43. Cùng năm đó, Ngài trùng tu chánh điện và đổi tên Am Phổ Phúc thành chùa Vạn Phước tại Huế.

Năm 1932, Ngài được cung thỉnh làm Chứng minh Đạo sư của hội An Nam Phật Học khi hội này ra đời. Năm 1933, để tạo điều kiện cho Tăng Ni tham học, Ngài đã dành những ngôi nhà hai bên chùa Vạn Phước làm cơ sở vật chất cho trường tiểu học Phật giáo do Pháp sư Mật Khế sáng lập và chủ giảng.

Trong năm Nhâm Ngọ (1941), Ngài đảm nhiệm vai trò Yết Ma Hòa thượng tại Đại giới đàn chùa Hưng Khánh (Bình Định). Hòa thượng Thích Giác Hạnh luôn quan tâm sâu sắc đến việc hoằng hóa độ sinh. Ngài từng cố vấn đạo hạnh cho hai tổ chức Phật giáo lớn đương thời là Giáo hội Tăng Già Trung Việt và Hội An Nam Phật Học. Bên cạnh đó, Ngài còn tích cực tham gia các hoạt động giáo dục, xã hội và hóa đạo, đồng thời đóng góp tài chính cho việc duy trì báo Viên Âm và sau này là báo Liên Hoa.

Khám phá: Đại Lão Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết: Vị Tăng Thống Đệ Nhất, Danh Nhân Bất Diệt Của Phật Giáo Việt Nam

Là người luôn ghi nhớ công ơn sinh thành, năm Mậu Tuất (1958), Ngài trở về quê hương Quảng Trị. Cùng với chư vị Trưởng lão tại làng Ái Tử, Ngài đã trùng tu chùa chiền và xây dựng trụ sở, thể hiện lòng hiếu hạnh của người con Phật.

Năm 1963, Ngài tham gia vận động đòi thực thi năm nguyện vọng của Phật giáo Việt Nam. Đến năm Ất Tỵ (1965), nhận thấy tuổi cao sức yếu không thể đảm đương Phật sự, Ngài đã trao lại chức trú trì chùa Vạn Phước cho đệ tử kế pháp là Hòa thượng Thích Tâm Hướng. Cùng năm, Ngài được mời làm Tôn chứng A Xà Lê cho các giới đàn tại Huế.

Năm 1967, Ngài vào miền Nam, tiếp nhận chùa Tuệ Quang và cho xây dựng lại ngôi chùa này vào năm 1970. Năm 1971, Ngài cho đúc một đại hồng chung, sau đó đổi hiệu chùa là Vạn Phước (tại địa chỉ số 55 đường Tuệ Tỉnh, Quận 11, Sài Gòn) vào năm 1973.

Tìm hiểu thêm: Thiên Thu Vọng Nguyệt: Bài Thơ Về Hòa Thượng Thích Trí Thủ Dưới Ngòi Bút Thượng Thừa

Năm 1973, Ngài được cung thỉnh làm thành viên Hội Đồng Trưởng Lão Viện Tăng Thống thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất. Khoảng thời gian này, Ngài cũng chỉ đạo cho Hòa thượng Tâm Hướng đúc đại hồng chung và trùng tu chùa Tịnh Độ, nằm cạnh chùa Vạn Phước, đường Lam Sơn (Huế).

Suốt cuộc đời hành đạo, dù ở miền Trung hay du hóa phương Nam, Hòa thượng Thích Giác Hạnh luôn tâm niệm và thực hành phương châm: “Lợi sanh vi sự nghiệp, hoằng hóa thị gia vụ” (Lợi ích chúng sanh là sự nghiệp, hoằng dương Phật pháp là việc nhà). Ngài đã viên mãn sứ mệnh của một bậc trưởng tử Như Lai.

Hòa thượng an nhiên mãn phần vào giờ Tý ngày 10 tháng 7 năm Tân Dậu (nhằm ngày 09 tháng 8 năm 1981), trụ thế 102 năm, với 72 hạ lạp. Nhà bia và bảo tháp của Ngài hiện được tôn trí tại khuôn viên chùa Vạn Phước, đường Lam Sơn, Huế.

Hòa thượng Thích Giác Hạnh đã để lại một cuộc đời trọn vẹn cống hiến cho đạo pháp và nhân sinh. Nếu bạn muốn tìm hiểu sâu hơn về những bậc chân tu, hãy khám phá thêm trong chuyên mục Tiểu sử.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang