Hòa thượng Thích Giải Quảng: Tiểu sử và Di sản

HT Giai Quang
× 🎁 Ưu đãi Shopee hôm nay – Nhấn nhận ngay!
🔥 Ưu đãi Shopee - Bấm để xem ngay!
0
(0)

Từ một cậu bé hiếu thảo trải qua nhiều biến cố trong cuộc đời, hành trình tâm linh của Hòa thượng Thích Giải Quảng đã bắt đầu từ những năm tháng tuổi thơ được gieo duyên lành tại ngôi chùa gần nhà. Mất cả song thân khi còn rất trẻ, Ngài đã tìm thấy sự an ủi và định hướng trên con đường giải thoát, khởi đầu cho một cuộc đời phụng sự đạo pháp mà bạn có thể tìm hiểu thêm tại Website Chia sẻ Đạo Phật.

HT Giai Quang

Tiểu Sử
Hòa Thượng THÍCH GIẢI QUẢNG
(Thế danh Trương Đình Ân)

Khai sơn: Chùa Quảng Hiệp, Xã Tân Hiệp, Huyện Long Thành, Tỉnh Đồng Nai, và Chùa Quảng Phước, xã Phước Thái, Huyện Long Thành, Tỉnh Đồng Nai.

 

Hòa Thượng Thích Giải Quảng, thế danh Trương Đình Ân, sinh ngày 27 tháng 1 năm 1944 (nhằm ngày 3 tháng giêng năm Giáp Thân), tại xã Bình Yến, huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Ngài là con trai út trong một gia đình có tám người con. Thân phụ là cụ ông Trương Hiển, pháp danh Như Tuệ, và thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Hãnh, pháp danh Như Nguyện.

Thuở thiếu thời, Hòa Thượng là một người con hiếu thảo, thông minh và ham học. Ngài thường cùng cha mẹ đến chùa Hải Lâm, ngôi chùa do cố Đại lão Hòa Thượng Thích Khánh Tín khai sơn năm 1928. Ngôi chùa gần nhà đã gieo duyên lành, hướng Ngài đến con đường tâm linh.

Cuộc đời Ngài trải qua nhiều biến cố. Năm chưa đầy 10 tuổi (1954), thân phụ Ngài qua đời. Vài năm sau, khi Ngài 14 tuổi (1958), thân mẫu cũng từ giã cõi đời, để lại Ngài bơ vơ trong cảnh mồ côi.

Năm 1958, cơ duyên đưa Ngài gặp cố Đại lão Hòa Thượng Thích Khánh Tín. Được sự đồng ý của gia đình, Ngài xin xuất gia tại Tổ Đình Thọ Sơn, Quảng Ngãi, phát tâm công quả và tu học. Tại đây, Ngài thọ Tam Quy Ngũ Giới và được Hòa Thượng Thích Khánh Tín ban cho pháp danh Như Nghĩa. Với niềm yêu thích Phật pháp, Ngài thường dùng pháp danh thay cho thế danh.

Tìm hiểu thêm: Trần Ngọc Ninh: Dấu ấn Vạn Hạnh, Thầy là ngọn đèn soi rọi

Sau ba năm tinh tấn tu học và công quả, vào ngày Vía Bồ Tát Quán Thế Âm, ngày 19 tháng 2 năm Tân Sửu (1961), Ngài chính thức được thế phát xuất gia dưới sự chỉ dạy của Hòa Thượng Thích Khánh Tín. Cùng thời gian này, Ngài hoàn tất chương trình tú tài toàn phần tại trường tỉnh, trở thành niềm tự hào của quê hương Lý Sơn với bằng cấp thế học.

Từ năm 1965 đến 1969, Ngài lưu trú tại chùa Tịnh Quang, Đà Nẵng, tham học Phật pháp dưới sự giúp đỡ của Hòa Thượng Thích Tịnh Giác.

Ngày 1 tháng 8 năm 1969 (PL 2513), tại Giới đàn Sa Di do Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tỉnh tổ chức, Ngài được Hòa Thượng Thích Khánh Tín làm Đàn Đầu. Với trí thông minh và kiến thức Phật học sâu sắc, Ngài đã đậu thủ khoa trong kỳ thi sát hạch giới tử, được ban cho pháp tự Giải Quảng.

Trong ba ngày 14, 15, 16 tháng 10 năm 1973 (PL 2017), tại Đại Giới Đàn Phước Huệ, Nha Trang, Ngài được đăng đàn thọ cụ túc giới, chính thức trở thành một vị Tỳ Kheo.

Từ năm 1973 đến 1975, Ngài theo học Phật học tại Viện Đại học Vạn Hạnh và được Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Trí Thủ cho phép nhập chúng tu học tại Tu Viện Quảng Hương Già Lam.

Tháng 6 năm 1975, Ngài trở về Tổ Đình Thọ Sơn. Ngày 8 tháng 11 năm 1975 (mồng 6 tháng 10 năm Ất Mão), Ngài được bổ nhiệm làm Phó Trụ trì chùa Hải Lâm tại quê nhà Lý Sơn.

Do hoàn cảnh đất nước sau chiến tranh, từ năm 1979 đến 1981, Ngài được đưa đi xây dựng kinh tế mới tại vùng núi Thọ An, Quảng Ngãi. Dù trong hoàn cảnh khó khăn, Ngài vẫn tìm cách chia sẻ Phật pháp, dạy học cho trẻ em và giúp đỡ những người xung quanh.

Năm 1981-1984, Ngài trở lại Tu Viện Quảng Hương Già Lam, tiếp tục tu học dưới sự hướng dẫn của Ôn Tuệ Sỹ và Giáo sư Lê Mạnh Thát.

Khám phá: Hòa thượng Thích Đức Nhuận: Vị Bồ Tát Giữa Đời Thường, Di Sản Vô Giá Của Đạo Pháp

Ngày 8 tháng 5 năm 1984, Ngài rời Sài Gòn về xã Phước Thái, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Tại đây, Ngài mua một mảnh đất nhỏ và bắt đầu gây dựng Tịnh Thất Quảng Phước.

Ngày 20 tháng 8 năm 1984 (24 tháng 7 năm Giáp Tý), theo lời mời của các Phật tử tại ấp 3, xã Tân Hiệp, huyện Long Thành, Ngài về hướng dẫn tu học, và từ đó ngôi Chùa Quảng Hiệp được hình thành. Ban đầu, chùa chỉ vỏn vẹn với một mảnh đất nhỏ và một ngôi chánh điện tạm bợ. Ngài đã sống trong một căn nhà nhỏ đơn sơ, chịu đựng mọi khó khăn của thời tiết.

Từ năm 1986 đến năm 2015, Ngài đảm trách giảng dạy bộ môn Hán Ngữ Cổ Đại và Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam, Ấn Độ, Trung Hoa tại các trường Cao Trung Phật học thuộc tỉnh Đồng Nai và Bà Rịa Vũng Tàu. Ngài còn là Giáo thọ sư của nhiều tự viện và hạ trường trong và ngoài tỉnh.

Với tâm huyết phụng sự đạo pháp, ngày 21 tháng 11 năm 1993 (mồng 8 tháng 10 năm Quý Dậu), Ngài chính thức đặt viên đá xây dựng chánh điện chùa Quảng Hiệp. Trải qua nhiều gian lao, vất vả, ngày 7 tháng 1 năm 1996 (17 tháng 11 năm Ất Hợi), lễ khánh thành ngôi bảo điện chùa Quảng Hiệp đã được tổ chức, đánh dấu một nỗ lực lớn lao của Ngài và các Phật tử.

Dù chùa còn nhiều khó khăn, Ngài luôn ưu tiên việc đào tạo Tăng Ni. Đến nay, Ngài có hơn 20 đệ tử xuất gia, nhiều vị đã trưởng thành và trụ trì các tự viện. Hàng Phật tử tại gia cũng luôn gắn bó và sinh hoạt tại chùa.

Trong suốt 40 năm gắn bó với vùng đất Đồng Nai, Hòa Thượng đã mang lại lợi lạc cho vô số Phật tử và Tăng Ni. Ngài cũng đặc biệt quan tâm đến việc giáo dục thế hệ tương lai thông qua Gia Đình Phật tử.

Bên cạnh các Phật sự, Ngài còn dành thời gian biên soạn và phiên dịch nhiều tài liệu Phật học quan trọng như: Giáo Trình Lịch Sử Phật Giáo Ấn Độ, Giáo Trình Lịch Sử Phật Giáo Trung Hoa, Giáo Trình Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam, Trung Đẳng Phật Giáo Khoa Thư.

Cuộc đời Ngài là tấm gương về lối sống “An Bần Lạc Đạo”, với tâm hiếu đạo, chân thành, nhẫn nại, khiêm cung, thiểu dục tri túc. Ngài sống một cuộc đời giản dị, không màng vật chất.

Trong suốt 40 năm khai sơn kiến tạo chùa Quảng Hiệp, dù xa quê hành đạo, Ngài vẫn luôn hướng về quê nhà và tôn sư. Sau khi Sư Ông Thích Khánh Tín viên tịch, Ngài không bỏ lỡ ngày húy nhật của Sư Ông và các bậc tôn sư trong môn phong Thọ Sơn, thường xuyên về thăm viếng bằng phương tiện giản dị.

Xem thêm: Ni trưởng Diệu Không: Bước Xuất Ly Kinh Thành, Vạn Dặm Phụng Sự

Đạo phong của Ngài thể hiện qua sự niệm Phật chân thật, trì chú Đại bi Chuẩn đề và thiền định, giúp Ngài luôn giữ được tâm thái an lạc, tự tại trước mọi nghịch cảnh.

Trong những tháng cuối đời, dù mang nhiều trọng bệnh, Ngài vẫn an nhiên. Trước khi viên tịch vài giờ, Ngài vẫn minh mẫn, gọi tên từng học trò và những người thân cận.

Hạnh nguyện viên mãn, đúng 0 giờ 0 phút ngày 15 tháng 11 năm 2024 (ngày rằm tháng 10 năm Giáp Thìn), Hòa Thượng Thích Giải Quảng đã an nhiên thị tịch, trụ thế 81 năm, 66 năm tuổi đạo, 52 năm tuổi hạ.

Sự viên tịch của Ngài là một mất mát lớn lao cho Phật giáo, để lại niềm tiếc thương vô hạn cho Tăng Ni, Phật tử. Đức hạnh và công hạnh của Ngài sẽ là tấm gương sáng cho các thế hệ hậu bối noi theo.

Nam Mô Từ Lâm Tế Chánh Tông, Tứ Thập Nhất Thế, Chúc Thánh Pháp Phái, Khai kiến Quảng Hiệp, Quảng Phước Nhị Tự, húy thượng Như hạ Nghĩa, tự Giải Quảng, Trương Công Hòa Thượng Giác Linh, thùy từ chứng minh.

Tân Hiệp, ngày 15 tháng 11 năm 2024

Môn Đồ Pháp Quyến phụng soạn

Cuộc đời và sự nghiệp của Hòa thượng Thích Giải Quảng là một hành trình đầy ý nghĩa, mang lại nhiều lợi lạc cho đạo pháp. Để hiểu sâu hơn về thân thế và công hạnh của Ngài, mời quý độc giả cùng khám phá thêm trong chuyên mục Tiểu sử.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang