Xuất thân từ một gia đình có truyền thống tâm linh sâu sắc, con đường tu tập của Hòa thượng Thích Minh Cảnh đã sớm được định hình từ thuở thiếu thời. Bối cảnh lịch sử nhiều biến động đã phần nào gián đoạn hành trình học vấn ban đầu, nhưng cũng mở ra những ngã rẽ mới cho tâm nguyện phụng sự Phật pháp. Khám phá cuộc đời và di sản của Ngài tại chiasedaophat.com.

Tiểu sử Hòa thượng Thích Minh Cảnh
(1937-2018)
1. Thân thế và Gia đình
Hòa thượng Thích Minh Cảnh, thuộc đời thứ 40 dòng Lâm Tế Chánh Tông, thế danh Nguyễn Hữu Danh, sinh ngày 12 tháng 11 năm Đinh Sửu (1937) tại làng Mỹ Thọ, quận Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Minh Biện (Minh Chiếu) và thân mẫu là cụ bà Trần Thị Mậu (Diệu Thiệt). Hòa thượng là người con út trong một gia đình có chín anh chị em, trong đó có bốn người đã sớm xuất gia tu học.
- Hòa thượng Thích Huệ Hưng (anh hai), nguyên trụ trì Tổ đình Kim Huê – Sa Đéc, khai sơn Tu viện Huệ Quang tại TP.HCM (viên tịch năm 1990).
- Hòa thượng Thích Huệ Viên (anh thứ năm), nguyên trụ trì chùa Sơn Bửu – Vũng Tàu (viên tịch năm 2011).
- Ni sư Thích nữ Như Trí (chị thứ sáu), nguyên trụ trì Tu viện Diệu Đức (viên tịch năm 1978).
- Ni trưởng Thích nữ Như Diệu (chị thứ chín), trụ trì Tu viện Diệu Đức, quận Bình Thạnh, TP.HCM.
2. Hành trình tu học và phụng sự
Sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống kính tin Tam bảo và có nhiều người thân xuất gia, Hòa thượng sớm bén duyên với Phật pháp từ thuở thiếu thời.
Năm 1945, do hoàn cảnh thời cuộc, việc học tại trường bị gián đoạn. Trong thời gian này, anh trai của Hòa thượng là Hòa thượng Thích Huệ Hưng về thăm nhà. Với chí hướng học Phật, Hòa thượng đã theo anh trai đến chùa Tổ ở rạch Cái Bèo để được dạy dỗ, sau đó tiếp tục học với Hòa thượng Hành Trụ tại chùa Long An, Sa Đéc. Nhờ tư chất thông minh, Hòa thượng đã sớm học thuộc các kinh điển như Minh tâm bảo giám và Sa-di luật giải bằng chữ Hán, dù mới 9 tuổi.
Năm 1947, Hòa thượng thọ giới Sa-di tại chùa Kim Huê (Sa Đéc) dưới sự chứng minh của Hòa thượng Chánh Quả.
Đầu năm 1948, Hòa thượng theo chân anh cả lên Sài Gòn nhập học tại Phật học đường Liên Hải, tọa lạc tại chùa Vạn Phước, Bình Trị Đông (nay thuộc quận Tân Bình). Tại đây, Hòa thượng chính thức được cố Hòa thượng Thích Trí Tịnh nhận làm đệ tử và nhận được sự dạy bảo tận tình từ ân sư. Hòa thượng theo học tại đây cho đến năm 1950.
Năm 1951, Hòa thượng theo hầu Hòa thượng Thích Trí Tịnh tại Linh Sơn cổ tự (Vũng Tàu). Tuy có cơ hội học hỏi sâu sắc từ thầy, nhưng với tâm nguyện tiếp tục con đường học vấn, năm 1953, Hòa thượng xin phép ân sư trở lại trường để hoàn thành khóa học.
Từ 1953 đến 1954, Hòa thượng tu học tại Phật học đường Nam Việt, chùa Ấn Quang (Quận 10, Sài Gòn). Giai đoạn này, Hòa thượng có cơ duyên học tập và nhận được nhiều cảm hứng từ Hòa thượng Thích Nhất Hạnh, người thầy đã định hình con đường học tập và phụng sự sau này của Ngài.
Sau khi hoàn thành khóa học tại chùa Ấn Quang (1954-1959), theo xu hướng chung, Hòa thượng cùng các bạn đồng môn tiếp tục theo đuổi con đường thế học còn dang dở.
Mùa hè năm 1960, theo lời khuyến khích của Hòa thượng Thích Nhất Hạnh, Hòa thượng ra Huế, trú tại chùa Từ Hiếu để theo học tại trường Quốc Học và học chữ Hán với Hòa thượng Quy Thiện. Tuy nhiên, do điều kiện học tập và khí hậu khắc nghiệt, Hòa thượng đã trở về miền Nam vào cuối năm đó.
Từ 1960 đến 1961, Hòa thượng tu học tại chùa Tập Thành cùng thân mẫu (đã xuất gia) và các anh chị em trong gia đình.
Trong giai đoạn 1961-1965, Hòa thượng tiếp tục con đường học vấn tại các trường Chi Lăng và Phan Sào Nam, sau đó tốt nghiệp Đại học Sư phạm và Đại học Văn khoa. Nền tảng học vấn này đã trở thành hành trang quý báu cho sự nghiệp giảng dạy của Hòa thượng sau này.
Sau khi tốt nghiệp Đại học Sư phạm (1965-1968), Hòa thượng được phân công về dạy học tại trường Thoại Ngọc Hầu ở Long Xuyên.
Từ 1968 đến 1975, Hòa thượng vừa giảng dạy, vừa làm việc tại Đại học Vạn Hạnh (đường Lê Văn Sỹ).
Năm 1969, Hòa thượng chính thức thọ giới Tì-kheo tại chùa Huệ Nghiêm, với sự chứng minh của các bậc cao Tăng: Hòa thượng Hải Tràng (Hòa thượng đàn đầu), Hòa thượng Thích Trí Tịnh (Tuyên luật sư), Hòa thượng Hành Trụ (Yết-ma a-xà-lê) và Hòa thượng Huệ Hưng (Giáo thọ a-xà-lê).
Năm 1970, Hòa thượng bắt đầu tu học tại Tu viện Huệ Quang.
Từ 1971 đến 1974, dù cư trú tại Tu viện Huệ Quang, Hòa thượng vẫn đảm nhiệm vai trò Hiệu trưởng trường Bồ-đề Long Khánh, mỗi ngày di chuyển hai buổi bằng xe đò.
Năm 1980, theo sự ủy thác của cố Hòa thượng Thích Huệ Hưng, Hòa thượng kế thế trụ trì Tu viện Huệ Quang và duy trì cho đến ngày viên tịch.
Trong các năm 1984-1988 và 2002-2006, Hòa thượng giữ chức vụ Chánh Đại diện Giáo hội Phật giáo quận Tân Bình, đồng thời sáng lập lớp Sơ cấp Phật học cho quận này.
Từ 1984 đến 1991, Hòa thượng là giáo thọ cho các lớp Cao cấp Phật học Khóa I và II.
Năm 1991, với trăn trở về giáo dục nội điển và tâm nguyện phiên dịch bộ Đại tạng kinh sang tiếng Việt, Hòa thượng đã khai giảng lớp Hán Nôm tại trường Đại học Doanh Thương Trí Dũng.
Khi lớp Hán Nôm tại trường Đại học Doanh Thương Trí Dũng không còn duyên tiếp tục, năm 1992, Hòa thượng đã khai giảng lớp Phiên dịch Hán Nôm Huệ Quang khóa I ngay tại Tu viện Huệ Quang. Ba năm sau, khi việc giáo dục gián đoạn, Hòa thượng cùng các học viên bắt tay vào công trình phiên dịch và biên soạn bộ Từ điển Phật học Huệ Quang. Công trình đồ sộ này kéo dài suốt 10 năm, đánh dấu bước khởi đầu quan trọng cho công tác phiên dịch sau này của Hòa thượng. Trong giai đoạn này, Hòa thượng còn phiên dịch và đăng trên tuần báo Giác Ngộ bộ truyện Tế Điên hòa thượng dưới bút hiệu Đồ Khùng, sau đó được xuất bản thành ba tập.
Đến năm 1999, Hòa thượng tiếp tục khai giảng lớp Phiên dịch Hán Nôm Huệ Quang và duy trì liên tục 15 khóa học. Dù học viên không nhận được bằng cấp chính quy, nhưng với hệ thống giáo dục nội điển chuyên sâu, họ đều có đủ khả năng giảng dạy các môn kinh, luật, luận Hán cổ tại các trường Phật học trên cả nước.
Năm 2007, Hòa thượng được đề cử làm Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam và thành lập Ban Dịch thuật Hán Nôm Huệ Quang (sau đổi tên thành Trung tâm Dịch thuật Hán Nôm Huệ Quang), trực thuộc Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, đặt tại Tu viện Huệ Quang. Với hơn 20 thành viên, trung tâm đã xuất bản nhiều tác phẩm giá trị như: Phật Tổ đạo ảnh, kinh Xuất diệu, Giác hổ tập, kinh Phật thuyết chúng hứa ma-ha-đế, kinh Pháp cú thí dụ, kinh Đại thừa lý thú lục bát-nhã ba-la-mật, kinh Đại Tát-già-ni-kiền tử sở thuyết, Truyện nhân duyên phú pháp tạng, Chặng đường tham học, Lời trong cõi mộng, Tham cứu Tịnh Độ… cùng nhiều tác phẩm đang trong quá trình biên tập và dịch thuật. Những đóng góp này thể hiện tâm nguyện sâu sắc của Hòa thượng đối với sự nghiệp đào tạo Tăng tài và hoằng pháp.
Từ 2002 đến 2012, Hòa thượng là Chứng minh Ban Trị sự GHPGVN quận Tân Bình, sau đó là Cố vấn chứng minh Ban Trị sự GHPGVN quận Tân Phú cho đến ngày viên tịch.
Trong các năm 2012-2017, Hòa thượng giữ chức vụ Phó Viện trưởng kiêm Giám đốc Trung tâm Dịch thuật Hán Nôm Huệ Quang, trực thuộc Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam. Ngài cũng là Phó Chủ tịch Hội đồng Phiên dịch và Ấn hành Đại tạng kinh Việt Nam.
Năm 2017, Hòa thượng được suy tôn làm Thành viên Hội đồng Chứng minh GHPGVN.
Trong những năm cuối đời, Hòa thượng còn đảm nhiệm vai trò Yết-ma tại nhiều Đại giới đàn ở chùa Phổ Quang (TP. HCM), Đại Tòng Lâm (Vũng Tàu), đặc biệt là chứng minh cho nhiều giới đàn do Tăng thân Làng Mai tổ chức tại Pháp và Thái Lan.
3. Viên tịch
Vào mùa an cư kiết hạ năm Mậu Tuất, sức khỏe của Hòa thượng suy giảm nghiêm trọng. Dù đã được môn đồ pháp quyến tận tình chăm sóc, nhưng quy luật vô thường đã đến. Vào khuya ngày mồng 03 tháng 09 năm Mậu Tuất, Hòa thượng hai lần cho biết sắp viên tịch. Lúc 13 giờ 35 phút, giữa sự hiện diện của các đệ tử đang quỳ hộ niệm, Hòa thượng chắp tay chào mọi người rồi nhẹ nhàng trút hơi thở cuối cùng, trên môi nở một nụ cười hoan hỷ, như bước vào một giấc ngủ an lành. Hòa thượng trụ thế 82 năm, với 50 hạ lạp.
Kính nguyện Giác linh Hòa thượng cao đăng Phật quốc.
Nam-mô Huệ Quang đường thượng tự Lâm Tế Chánh Tông tứ thập thế thượng Minh hạ Cảnh húy Chơn Đài, Nguyễn công Hòa thượng tân viên tịch.
Môn đồ pháp quyến đồng bái soạn
Khám phá sâu hơn về hành trình và những đóng góp ý nghĩa của các bậc cao Tăng trong Phật giáo qua chuyên mục Tiểu sử.
