Hòa thượng Thích Minh Châu: Tiểu sử và Di sản

minh chau
0
(0)

Khám phá cuộc đời và di sản vĩ đại của Hòa thượng Thích Minh Châu, một bậc chân tu đã dành trọn đời cho sự nghiệp hoằng pháp và giáo dục Phật giáo Việt Nam. Từ nền tảng Nho học vững chắc đến hành trình xuất gia và du học uyên bác, Ngài đã để lại một kho tàng đồ sộ các bản dịch Kinh điển Pāli và các tác phẩm giá trị, góp phần lan tỏa Chánh pháp.

Tìm hiểu thêm về vị cao Tăng này tại Chiasedaophat.

Hòa thượng Thích Minh Châu

Hòa thượng Thích Minh Châu, thế danh Đinh Văn Nam, sinh ngày 20 tháng 10 năm 1918 (Mậu Ngọ) tại làng Kim Thành, Quảng Nam. Thân phụ là cụ Đinh Văn Chấp và thân mẫu là cụ bà Lê Thị Đạt. Ngài là người con thứ tư trong một gia đình đông anh em, xuất thân từ một gia tộc Nho học danh tiếng tại làng Kim Khê, Xã Nghi Long, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Cha của Ngài, cụ Đinh Văn Chấp, đỗ Tiến sĩ Hoàng Giáp vào năm 21 tuổi (khoa Quý Sửu 1913, niên hiệu Duy Tân thứ 7). Nền giáo dục Nho học ảnh hưởng sâu sắc từ thân phụ đã hun đúc nên đức tính cần mẫn, chăm chỉ học hành và trí tuệ phát triển sớm nơi Ngài.

Năm 1939, Ngài hoàn thành chương trình Cao đẳng Tiểu học Đông Dương. Đến năm 1940, Ngài đỗ Tú tài Toàn phần tại trường Khải Định – Huế (nay là trường Quốc Học). Cùng thời gian đó, Ngài được bổ nhiệm làm Thư ký tòa Khâm sứ tỉnh Thừa Thiên. Tuy nhiên, sau một năm làm việc, nhận thấy nhiều bất công trong hệ thống xét xử và bất lực trước những oan sai của người dân, Ngài đã xin thôi việc.

Tìm hiểu thêm: Hòa thượng Thích Tố Liên: Vị Tổ Sư Chấn Hưng Đạo Pháp Và Dân Tộc

Từ đó, Hòa thượng dành trọn tâm huyết cho các phong trào thanh niên Phật giáo, mong muốn góp sức xây dựng một xã hội lành mạnh và phát huy Chánh pháp mà Ngài tin tưởng. Vào cuối thập niên 1930 đến đầu thập niên 1940, Ngài là một trong những người đồng sáng lập Đoàn Phật học Đức dục và Gia đình Phật hóa phổ (tiền thân của Tổ chức Gia đình Phật tử Việt Nam).

Năm 1946, với nhân duyên học đạo viên mãn, Ngài cầu pháp với Hòa thượng húy thượng Trừng hạ Thông, tự Chơn Thường hiệu Tịnh Khiết (Đức Đệ nhất Tăng thống GHPGVNTN) tại Tổ đình Tường Vân, Huế. Tại đây, Ngài được Bổn sư ban cho pháp danh Tâm Trí. Năm 1949 (Kỷ Sửu), Ngài được Hội đồng Thập sư đặc cách cho thọ Tam Đàn cụ túc. Bổn sư tiếp tục ban cho Ngài pháp tự Minh Châu và pháp hiệu Viên Dung.

Sau khi xuất gia, Hòa thượng vẫn tiếp tục tham gia tích cực vào Hội Phật học Trung phần. Ngài chuyên cần diễn giảng Phật pháp tại các chùa, hướng dẫn các thanh thiếu niên thuộc Gia đình Phật tử, và đóng góp bài viết cho các tạp chí Phật giáo như Viên Âm, Từ Quang, Liên Hoa. Ngài còn là Chủ bút tạp chí Tư Tưởng Vạn Hạnh. Năm 1951, khi Hội Phật học thành lập trường Trung học Bồ Đề đầu tiên tại Huế, Ngài được mời giữ chức vụ Hiệu trưởng.

Từ năm 1952 đến 1961, Hòa thượng xuất dương du học và đạt bằng Tiến sĩ Pàli và Phật học tại Đại học Phật giáo Nalanda, Ấn Độ. Sau 14 năm học tập ở nước ngoài, Ngài trở về Việt Nam và đảm nhiệm chức vụ Viện Trưởng Viện Đại học Vạn Hạnh từ năm 1964 đến 1975. Trong giai đoạn này, Ngài tập trung vào sự nghiệp giáo dục và phiên dịch Kinh Tạng Pàli, đóng góp tích cực vào công cuộc đào tạo Tăng tài cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Khám phá: Thích Minh Niệm: Người Thầy Đạo Hạnh, Giảng Giải Đời Đạo Bằng Cả Trái Tim

Sau năm 1975, khi Viện Đại học Vạn Hạnh bị trưng dụng, Hòa thượng đã sử dụng cơ sở Phân khoa Khoa học Ứng dụng tại Phú Nhuận để thành lập Viện Phật học Vạn Hạnh vào năm 1976. Những năm tiếp theo, Ngài tham gia vào Giáo hội Phật giáo Việt Nam (từ năm 1981). Với tâm nguyện không ngừng nghỉ cho sự nghiệp giáo dục, Ngài đã lần lượt thành lập và đảm nhận vai trò Hiệu trưởng, Viện trưởng tại các cơ sở đào tạo Phật giáo quan trọng như:

  • Trường Cao Cấp Phật Học Việt Nam, cơ sở I tại Hà Nội (1981).
  • Trường Cao Cấp Phật Học Việt Nam, cơ sở II tại Sài Gòn (1984).
  • Viện Nghiên Cứu Phật Học VN (1989).
  • Hội Đồng Phiên Dịch Đại Tạng Kinh VN (1991).

Dù bận rộn với nhiều Phật sự và công tác giáo dục Tăng Ni, Hòa thượng vẫn luôn dành thời gian cho việc dịch thuật và biên soạn kinh sách nhằm truyền bá lời Phật dạy. Cho đến nay, Ngài đã để lại trên 30 tác phẩm, bao gồm các bản dịch và biên soạn quan trọng:

Những Dịch Phẩm, Kinh Tạng Pàli

  • Kinh Trung Bộ
  • Kinh Tăng Chi Bộ
  • Kinh Tiểu Bộ
  • Kinh Trường Bộ
  • Kinh Tương Ưng Bộ
  • Kinh Pháp Cú
  • Kinh Phật Tự Thuyết
  • Kinh Phật Thuyết Như Vậy
  • Kinh Tập
  • Trưởng Lão Tăng Kệ
  • Trưởng Lão Ni Kệ
  • Bổn Sanh (2 tập)

Dịch Từ Abhidhamma

  • Thắng Pháp Tập Yếu Luận (Abhidhamma Atthasangaha)

Tác Phẩm Tiếng Anh

  1. Hsuan T’sang, The Pilgrim and Scholar (Huyền Trang nhà Chiêm bái và học giả – do HT. Trí Hải dịch ra Việt văn)
  2. Fa-Hsien, The Unassuming Pilgrim (Pháp Hiển nhà Chiêm bái khiêm tốn – do HT. Trí Hải dịch ra Việt văn)
  3. Milindapannha And Ngasenabhikhustra – A comparative study (do Cư sĩ Nguyên Tâm – Trần Phương Lan dịch ra Việt văn)
  4. The Chinaese Madhyama gama and The Pli Majjhima Nikaya (A comparative study) – Luận án Tiến sĩ Phật học (do HT. Trí Hải dịch ra Việt văn)
  5. Some Teachings Of Lord Buddha On Peace, Harmony And Humadignity

Sách Viết Bằng Tiếng Việt

  1. Phật pháp (đồng tác giả)
  2. Đường về xứ Phật (đồng tác giả)
  3. Những ngày và những lời dạy cuối cùng của Đức Phật
  4. Đại thừa và sự liên hệ với Tiểu thừa (dịch)
  5. Sách dạy Pāli
  6. Dàn bài Kinh Trung bộ (chưa in)
  7. Toát yếu Kinh Trường bộ (chưa in)
  8. Toát yếu Kinh Trung bộ (chưa in)
  9. Chữ Hiếu trong đạo Phật (đồng tác giả)
  10. Hành thiền
  11. Lịch sử Đức Phật Thích ca
  12. Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi
  13. Chánh pháp và hạnh phúc
  14. Đạo đức Phật giáo và hạnh phúc con người (2002)
  15. Những mẫu chuyện đạo (2004)
  16. Đức Phật nhà đại giáo dục (2004)
  17. Đức Phật của chúng ta (2005)
  18. Mở từ mở ra, khổ đau khép lại (2006)
  19. Những gì Đức Phật đã dạy (2007)
  20. Hiểu và hành Chánh pháp (2008)
  21. Chiến thắng ác ma (2009)

Trên hành trình phát triển nền Phật học Việt Nam, Hòa thượng luôn chủ trương truyền bá tư tưởng Phật học của ba bộ phái lớn: Thượng Tọa Bộ, Nhất Thiết Hữu Bộ và Đại Thừa. Ngài chú trọng phần giáo lý Phật giáo căn bản chung cho các bộ phái, nhằm thiết lập sự thống nhất về mặt tư tưởng Phật học.

Vào lúc 9 giờ sáng ngày 01 tháng 09 năm 2012 (nhằm ngày 16 tháng 7 năm Nhâm Thìn), Hòa thượng đã thâu thần viên tịch tại Thiền viện Vạn Hạnh, trụ thế 95 năm, với 64 hạ lạp.

Xem thêm: Thích Trí Quảng: Vị Hòa thượng Tầm ảnh hưởng và những Bài Pháp Thoại Sâu Sắc

Cuộc đời và đạo nghiệp của Ngài là tấm gương sáng về một bậc Cao Tăng Thạc Đức, đã hiến dâng trọn đời mình cho sự nghiệp giáo dục Phật giáo, dịch Kinh, viết sách. Những đóng góp của Ngài đã góp phần làm cho Pháp Luân thường chuyển, hoằng pháp lợi sanh, mang lại an lành, hạnh phúc và hướng thượng giải thoát cho nhân sinh. Sự ra đi của Ngài là niềm kính tiếc lớn lao đối với cộng đồng Phật giáo đồ trong và ngoài nước.

Chúng tôi thành kính cầu nguyện Giác linh Cố Hòa thượng cao đăng Phật quốc và sớm hồi nhập Ta Bà, tiếp tục sự nghiệp hoằng pháp lợi sinh.

Nam mô Từ Lâm Tế Chánh Tông, Tứ Thập Tam thế, Xuân Kinh Tường Vân Tổ Đình Trú Trì, Vạn Hạnh Thiền Viện Khai Sơn, húy thượng Tâm hạ Trí, tự Minh Châu, hiệu Viên Dung Trưởng Lão Hòa Thượng Giác linh thùy từ chứng giám.

Tưởng niệm Hòa thượng Thích Minh Châu (1918-2012)

Hòa thượng Thích Minh Châu đã cống hiến trọn đời cho sự nghiệp hoằng pháp và giáo dục Phật giáo, để lại một di sản đồ sộ các bản dịch kinh điển và tác phẩm giá trị. Để tìm hiểu sâu hơn về cuộc đời và những đóng góp của Ngài, bạn đọc có thể khám phá thêm trong chuyên mục Tiểu sử.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang