Hòa thượng Thích Phước Sơn: Cuộc Đời và Sự Nghiệp

ht thich phuoc son 1937 2020
× 🎁 Ưu đãi Shopee hôm nay – Nhấn nhận ngay!
🔥 Ưu đãi Shopee - Bấm để xem ngay!
0
(0)

Từ một gia đình thấm nhuần tín tâm, Hòa thượng Thích Phước Sơn đã lựa chọn con đường xuất gia từ năm 20 tuổi, khởi đầu hành trình học đạo sâu sắc tại Nha Trang. Với trí tuệ và sự chuyên tâm, Ngài đã lần lượt vượt qua các bậc giới luật, gặt hái thành tựu trong học vấn Phật học và Hán Nôm, mở rộng tầm nhìn triết học phương Đông, qua đó hé mở một sự nghiệp hoằng pháp đầy ý nghĩa tại chiasedaophat.com.

ht thich phuoc son 1937 2020

1. Thân thế và quá trình tu học ban đầu

Hòa thượng Thích Phước Sơn, húy Nguyên Hùng, pháp danh Phước Sơn, hiệu Thuận Tịnh, thế danh Đặng Thành Công, sinh ngày 25 tháng 9 năm 1938 (nhằm ngày mồng hai tháng tám năm Mậu Dần) tại làng Xuân Quang, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Ngài xuất thân trong một gia đình có tín tâm sâu sắc với Tam Bảo, thân phụ là cụ ông Đặng Uẩn và thân mẫu là cụ bà Đào Thị Thước.

Với nhân duyên sâu dày với Phật pháp, năm 20 tuổi, vào ngày vía Bồ tát Quan Âm (19 tháng 9 năm Mậu Tuất, PL.2502 – 1958), Hòa thượng đã phát nguyện xuất gia. Ngài được cố Trưởng lão Hòa thượng Thích Trí Thủ, lúc bấy giờ là Giám viện Phật Học viện Trung phần, thế độ và ban cho pháp danh Nguyên Hùng tại Phật học viện Hải Đức, Nha Trang.

Sau bốn năm chuyên tâm tu học, vào năm 1962, Hòa thượng được Bổn sư truyền thọ giới Sa-di, với pháp tự là Phước Sơn. Năm 1964, sau khi hoàn thành chương trình tú tài, theo lời chỉ dạy của Bổn sư, ngài đã đến trú xứ Quảng Hương Già Lam để theo học chương trình Cử nhân Phật học tại Viện Đại học Vạn Hạnh. Song song đó, ngài còn theo học Cử nhân Hán Nôm và các tín chỉ Triết học Phương Đông tại Đại học Văn Khoa Sài Gòn. Với sự nỗ lực và tinh cần không ngừng, đến năm 1968, Hòa thượng đã hoàn thành các chương trình đào tạo, nhận bằng Cử nhân Phật học, Hán Nôm cùng các tín chỉ triết học phương Đông.

2. Quá trình hành đạo và cống hiến

Mang chí nguyện tiếp dẫn hậu lai và báo đền ân đức của Phật, vào mùa hè năm 1968, với sự cho phép của Bổn sư, Hòa thượng trở về Phật học viện Hải Đức – Nha Trang. Tại đây, ngài đảm nhận chức vụ Hiệu trưởng trường Trung học Bồ Đề Nha Trang, phụ trách công tác giáo dục cho Tăng Ni và con em Phật tử tại địa phương.

Năm 1973, Hòa thượng thọ Cụ túc giới và được Bổn sư ban cho pháp hiệu Thuận Tịnh. Đến năm 1974, theo sự điều động của Tổng vụ Giáo dục thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, Hòa thượng trở lại Sài Gòn, cư trú tại chùa Thiên Quốc (Đào Duy Từ, quận Phú Nhuận). Tại đây, ngài đảm nhận vai trò trợ giảng môn Trung Bộ Kinh cho Cố Hòa thượng Viện trưởng Thích Minh Châu tại Đại học Vạn Hạnh.

Sau ngày đất nước thống nhất, vào năm 1976, Hòa thượng về Thiền viện Vạn Hạnh, chung tay phụ giúp Hòa thượng Thích Minh Châu trong các hoạt động Phật sự, nghiên cứu, phiên dịch và giảng dạy Tăng Ni, Phật tử tại Thiền viện. Trong vai trò Giám luật, ngài thường xuyên giáo giới cho chư tăng về việc thực hành đời sống phạm hạnh, đặc biệt là trong các mùa An cư kiết hạ.

Xem thêm: Hòa thượng Thích Hạnh Tuấn: Trọn đời phụng sự, đạo hạnh vang danh

Năm 1984, khi Trường Cao cấp Phật học Việt Nam Cơ sở II được thành lập tại Thành phố Hồ Chí Minh, Hòa thượng đã tham gia giảng dạy bộ môn Hán văn và Luật học cho Tăng Ni sinh ngay từ khóa đầu tiên cho đến khóa V. Từ năm 2004 đến 2016, ngài còn đảm nhiệm việc giảng dạy lớp Phiên dịch thuộc Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam.

Bên cạnh đó, Hòa thượng còn là một trong những vị giáo phẩm cố vấn cho Chương trình Phật học hàm thụ, do Báo Giác Ngộ phối hợp với Ban Hoằng pháp Trung ương GHPGVN tổ chức – tiền thân của Khoa Đào tạo từ xa thuộc Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP.HCM hiện nay.

Năm 1993, Hòa thượng đảm nhiệm chức vụ Trưởng ban Ban Phật giáo Việt Nam trực thuộc Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam. Sau đó, từ nhiệm kỳ VII (2012 – 2017), ngài được bổ nhiệm làm Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam. Tại Đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc nhiệm kỳ VIII (2017-2022), Hòa thượng được Giáo hội cung cử vào Ban Chứng minh Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam.

3. Sự nghiệp phiên dịch và trước tác

Ngoài các Phật sự, dấu ấn quan trọng nhất trong cuộc đời hoằng pháp của Hòa thượng là việc dành phần lớn thời gian cho công tác nghiên cứu và phiên dịch. Ngài đã để lại cho hậu học nhiều bộ luận giá trị, các bản dịch và công trình khảo cứu sâu sắc về Phật học.

Các tác phẩm đã dịch:

Tìm hiểu thêm: Hòa thượng Thích Hộ Giác: Người Kế Thừa Tinh Hoa Phật Giáo Nguyên Thủy

  • Tam Tổ thực lục (1995)
  • Phương pháp khoa học của Duy thức (dịch, 2000)
  • Truyện cổ sự tích cứu vật phóng sinh (dịch, 2001)
  • Luật Ma-ha Tăng-kỳ (dịch, 4 tập, 2003)
  • Ấn Độ Phật giáo nguyên lưu giảng lược (dịch, 2008)
  • Lịch sử phiên dịch Hán tạng (dịch, 2008)
  • Sắc tu Bách Trượng thanh quy (đồng dịch giả, 2 tập, 2008)
  • Lịch sử biên tập Thánh điển Phật giáo Nguyên thủy (đồng dịch giả, 2 tập, 2015)
  • Tu tập Chỉ Quán tọa thiền pháp yếu (dịch, 2012)

Các tác phẩm biên soạn:

  • Thơ thiền Việt Nam (2002)
  • Giải trình ý nghĩa Vu lan (2004)
  • Luật học tinh yếu (2006)
  • Một số vấn đề về Giới luật (2006)
  • Thanh tịnh đạo luận toát yếu (2006)
  • Phật học khái yếu (2010)
  • Tính chất trí tuệ và nhân bản của đạo Phật (2013)

Ngoài ra, Hòa thượng còn có nhiều bài viết nghiên cứu về Phật học và văn hóa dân tộc, được đăng tải trên các ấn phẩm như Tập san Ban Văn hóa GHPGVN, Báo Giác Ngộ, Kiến thức Ngày nay từ những năm 1990, cùng nhiều tạp chí và kỷ yếu hội thảo trong và ngoài nước.

Trong suốt 62 năm phụng sự Đạo pháp, Hòa thượng luôn giữ gìn giới luật nghiêm minh, nỗ lực làm sáng tỏ Chánh pháp và dìu dắt các thế hệ Tăng Ni. Nhiều môn đồ đệ tử của ngài nay đã trưởng thành, kế thừa sự nghiệp giáo dục và đào tạo Tăng Ni tại các học viện, trường cao đẳng, trung cấp Phật học trên cả nước. Những ai từng có duyên được gần gũi Hòa thượng đều cảm nhận được sự thanh tịnh, nghiêm túc, cẩn mật nhưng không kém phần khiêm cung trong phong thái của một bậc chân tu.

4. Những ngày tháng cuối đời và viên tịch

Sau bao năm tháng tinh cần tu học, trang nghiêm giới hạnh và thể nhập trí tuệ Phật đà, khi nhận thấy thân tứ đại suy yếu, Hòa thượng vẫn giữ tâm an lạc, không để bệnh tật chi phối. Thời gian còn lại, ngài luôn sống trong chánh niệm, lắng nghe những lời dạy của Đức Phật qua các bài kinh Trung bộ mà ngài yêu thích, được thị giả đọc cho nghe mỗi ngày.

Vào lúc 2 giờ 56 phút ngày 7 tháng 6 năm 2020 (nhằm ngày 16 tháng 4 nhuận năm Canh Tý, PL.2563), giữa không gian tĩnh lặng của căn phòng tại Thiền viện Vạn Hạnh, trong khi đang lắng nghe âm thanh trang nghiêm của bài kinh Đại Phương Quảng trong Trường Bộ Kinh, Hòa thượng đã an nhiên xả bỏ báo thân. Ngài thuận tịch theo ánh sáng Chánh pháp vô trước của Đức Phật, trụ thế 84 năm với 47 hạ lạp.

Khám phá: Vũ Chầm: Vẫn tràn đầy tâm thiện và nhiệt huyết ở tuổi 88

Thực hiện theo di nguyện của Hòa thượng về tang lễ, môn đồ đệ tử đã kính cẩn thu thập xá lợi, nhập tháp phụng thờ tại Tam Bảo tháp, Quảng Hương Già Lam – nơi ngài đã khai kiến.

Cuộc đời Hòa thượng Thích Phước Sơn là một tấm gương sáng ngời về hạnh nguyện phạm hạnh, là người thầy mô phạm trong sự nghiệp hoằng pháp, là nguồn cảm hứng cho Tăng Ni và Phật tử Việt Nam. Dù nhục thân đã không còn, nhưng đạo hạnh và sự nghiệp giáo dục của ngài sẽ mãi là áng hương thơm lan tỏa trong tâm khảm của môn đồ pháp quyến cùng Tăng Ni, Phật tử.

Nam-mô Tân viên tịch tự Lâm Tế chánh tông tứ thập tứ thế húy thượng Nguyên hạ Hùng, tự Phước Sơn, hiệu Thuận Tịnh Trưởng lão Hòa thượng Giác linh.

(HT. Thích Nguyên Giác phụng soạn)

Để hiểu rõ hơn về cuộc đời và sự nghiệp của các bậc chân tu, mời quý vị cùng khám phá thêm trong chuyên mục Tiểu sử.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang