Hòa thượng Thích Tâm Châu: Cuộc đời và Di sản

ht thich tam chau
× 🎁 Ưu đãi Shopee hôm nay – Nhấn nhận ngay!
🔥 Ưu đãi Shopee - Bấm để xem ngay!
0
(0)

Hành trình giác ngộ của bậc xuất chúng bắt đầu từ vùng đất Ninh Bình, nơi một tâm hồn trẻ sớm tìm thấy sự bình yên nơi cửa Phật. Dù xuất thân từ một gia đình có gốc rễ sâu xa với đạo pháp, nhưng chính ý chí tự thân đã thôi thúc Ngài dấn thân vào con đường tu hành từ thuở thiếu thời, khát khao tìm cầu chân lý thông qua việc học hỏi không ngừng. Hãy cùng khám phá con đường sự nghiệp và những đóng góp ý nghĩa của Ngài qua Chia sẻ Đạo Phật.

ht thich tam chau

TIỂU SỬ
ĐỨC TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH TÂM CHÂU
THƯỢNG THỦ GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM TRÊN THẾ GIỚI

I. THÂN THẾ VÀ QUÁ TRÌNH XUẤT GIA

Đức Trưởng lão Hòa thượng Thích Tâm Châu, thế danh Đoàn Văn Hoành, sinh ngày 02 tháng 11 năm 1921 (Tân Dậu) tại tỉnh Ninh Bình, trong một gia đình có truyền thống nhiều đời về căn lành Phật pháp. Ngài là con trai út trong gia đình có bốn anh em trai.

Với nhân duyên sâu dày với Phật pháp, ngay từ khi mới 11 tuổi, Ngài đã phát tâm xuất gia, quy y Tam bảo và được Sư Tổ Thích Thanh Kính, tự Linh Quang, thuộc Tổ đình Phượng Ban (Ninh Bình) nhận làm thầy tế độ. Tuy còn nhỏ tuổi, Ngài đã sớm bộc lộ chí hướng tinh tấn tu học. Không lâu sau đó, Ngài được bổn sư cho thọ giới Sa Di tại Tổ đình Đồng Đắc (Kim Sơn, Ninh Bình). Đến năm 20 tuổi, Ngài chính thức đăng đàn thọ giới Tỳ Khưu tại chùa Bát Long (Ninh Bình). Tiếp đó, Ngài còn được thọ giới Bồ Tát dưới sự chứng minh của Sư Tổ Thích Đức Nhuận, vị Đệ nhất Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Sau khi hoàn mãn giới pháp, với chí nguyện cầu học rộng sâu, Ngài đã du phương tham học tại nhiều chốn Tổ danh tiếng thời bấy giờ, bao gồm chùa Đồng Đắc, chùa Phúc Chỉnh, chùa Phù Lãng và chùa Quán Sứ.

II. HÀNH ĐẠO VÀ CỐNG HIẾN

1. Hoằng dương Phật pháp tại quê nhà

Sau thời gian du phương học Đạo, Ngài trở về quê nhà để hoằng dương Phật pháp. Ngài đã đảm nhận các vai trò quan trọng như Tri khách, Duy na (Tri sự) tại Tổ đình Đồng Đắc và Phượng Ban. Bên cạnh đó, Ngài còn thường xuyên đi diễn giảng và hành lễ tại nhiều tỉnh miền Bắc như Ninh Bình, Nam Định, Quảng Ninh.

Theo sự chỉ dạy của Thầy Tổ, Ngài đã nhận lãnh trách nhiệm trụ trì chùa Phúc Điền (Kim Sơn, Ninh Bình). Đặc biệt, Ngài còn là người khai sáng chùa Quang Nghiêm tại phường Hà Tu, thành phố Hạ Long.

Với tinh thần dấn thân và trách nhiệm trong mọi Phật sự, Ngài đã nhận được sự kính ngưỡng của Phật tử và sự quý mến của đồng đạo. Năm 1951, Ngài vinh dự được đề cử tham gia đoàn đại biểu Phật giáo Bắc Việt dự đại hội thành lập Tổng hội Phật giáo Việt Nam tại chùa Từ Đàm – Huế. Đây là sự kiện lịch sử, đánh dấu sự thống nhất đầu tiên của Phật giáo Việt Nam sau nhiều biến động. Tại Đại hội này, Ngài được giao trọng trách Ủy viên Nghi lễ của Hội đồng Trị sự Tổng hội Phật giáo Việt Nam.

Song song với các Phật sự được Giáo hội giao phó, Ngài còn tích cực tham gia vào phong trào chấn hưng Phật giáo. Năm 1952, Ngài được đề cử tham dự đại hội thành lập Giáo hội Tăng già Việt Nam tại chùa Quán Sứ – Hà Nội. Sau bảy ngày làm việc, Giáo hội Tăng già Việt Nam chính thức được thành lập vào ngày 14 tháng 09 năm 1952. Tại đây, Ngài đảm nhận chức vụ Trị sự phó kiêm Tri tạng. Trong Đại hội này, Trưởng lão Hòa thượng Tuệ Tạng được suy tôn ngôi vị Thượng Thủ, còn Trưởng lão Hòa thượng Trí Hải giữ chức Trị sự trưởng.

Khi Tổng hội Phật giáo được thành lập và Giáo hội Tăng già hình thành, với tâm huyết của tuổi trẻ, Ngài đã cống hiến hết mình cho Đạo pháp và quê hương, với mong muốn chấn hưng Phật giáo và làm rạng danh dân tộc. Tuy nhiên, trước những biến động của thời cuộc, đất nước bị chia cắt, năm 1954, Ngài cùng hơn 100 vị Tăng Ni đã ngậm ngùi chia tay Thầy Tổ, rời xa quê hương để vào Nam hành Đạo.

2. Phát triển Phật giáo tại miền Nam và hải ngoại

Ngay khi đặt chân đến miền Nam, Ngài đã kiến tạo chùa Giác Minh, trở thành nơi cư trú và hành Đạo cho các Tăng Ni miền Bắc di cư. Ngài giữ vai trò viện chủ đầu tiên của ngôi chùa này. Tại chùa Giác Minh, Ngài cùng chư tôn đức Tăng Ni đã thành lập Giáo hội Tăng già Bắc Việt tại miền Nam và Ngài được tín nhiệm giữ chức vụ Chủ tịch đầu tiên.

Cùng năm đó, Ngài cùng Hòa thượng Thích Độ Lượng đã lên Buôn Mê Thuột xây dựng chùa Phổ Minh, tạo điều kiện cho đồng bào Phật tử di cư có nơi sinh hoạt tâm linh và tu tập.

Nhận thấy nhu cầu tu học ngày càng tăng của Phật tử, Ngài đã tiếp tục kiến tạo chùa Từ Quang và thành lập Hội Quan Âm Phổ Chiếu. Qua đó, Ngài hướng dẫn Phật tử thực hành hạnh nguyện từ bi, cứu khổ độ sinh theo gương hạnh Bồ Tát Quan Thế Âm.

Năm 1956, Ngài đảm nhận chức vụ Phó Hội chủ Tổng hội Phật giáo Việt Nam.

Khám phá: Ni trưởng Thích Nữ Đàm Lựu: Từ Duyên Khởi Thuở Ấu Thơ Đến Ngọn Hải Đăng Tri Thức

Vào đầu năm 1963, Ngài được các giáo phái và hội đoàn Phật giáo suy cử làm Chủ tịch Ủy ban Liên phái Phật giáo để phản đối bộ phim “Sakya”, một tác phẩm bị cho là xuyên tạc Phật giáo và đã vấp phải sự phản đối mạnh mẽ từ các quốc gia Đông Nam Á.

Tháng 5 năm 1963, trước sự đàn áp Phật giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm, các giáo phái và hội đoàn Phật giáo đã đồng lòng cung thỉnh Ngài giữ chức vụ Chủ tịch Ủy ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo. Ngài đã dũng cảm lãnh đạo phong trào đấu tranh đòi quyền bình đẳng tôn giáo, và trong thời gian này, Ngài cùng một số vị lãnh đạo khác đã trải qua thời gian dài trong lao tù.

Sau khi cuộc đấu tranh đòi quyền bình đẳng tôn giáo thành công, chính quyền Ngô Đình Diệm sụp đổ, các giáo phái và hội đoàn Phật giáo lại một lần nữa bầu chọn Ngài làm Trưởng ban Tổ chức Đại hội thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất.

Năm 1964, với sự tham gia của 11 giáo phái và hội đoàn, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất chính thức được thành lập. Ngài được bầu làm Viện trưởng Viện Hóa đạo đầu tiên của Giáo hội. Với cương vị này, Ngài đã xin 40.000m² đất tại đường Trần Quốc Toản (nay là đường 3 Tháng 2) để xây dựng Việt Nam Quốc Tự, một ngôi chùa chung cho cả nước.

Năm 1966, Ngài là một trong những sáng lập viên của Giáo hội Phật giáo Tăng già Thế giới tại Tích Lan và được bầu vào chức vụ Phó Chủ tịch.

Năm 1967, do những bất đồng và mâu thuẫn nội bộ, Giáo hội bị phân hóa. Ngài đã từ chức Viện trưởng Viện Hóa đạo.

Năm 1969, Ngài đã tổ chức thành công Đại hội kỳ II của Giáo hội Phật giáo Tăng già Thế giới tại Sài Gòn. Cũng trong dịp này, Ngài thành lập Hội Phật giáo Thế giới Phụng sự Xã hội và giữ chức vụ Chủ tịch. Với tâm nguyện phụng sự chúng sinh, Ngài đã lần lượt thành lập nhiều ngôi chùa mang tên “Từ” trên khắp đất nước, như chùa Từ Phước (Đà Nẵng), Từ Hưng (Buôn Mê Thuột), Từ Ân (Nha Trang), Từ Quang, Từ Thắng (Vũng Tàu), Từ Khánh, Từ Tân, Từ Thọ, Từ Long (nay là chùa Thiên Minh) tại Sài Gòn. Ngài cũng là người sáng lập Quan Âm Tu viện tại quận Phú Nhuận, Sài Gòn.

Tìm hiểu thêm: Đại Lão Hòa Thượng Thích Trí Quang: Trí Tuệ Vượt Thời Gian, Di Sản Vô Giá

Năm 1970, Ngài đảm nhận chức vụ Chủ tịch Hội Phật giáo Liên Hiệp Thế giới tại Đại Hàn.

Năm 1973, sau khi Hòa thượng Thích Tâm Giác viên tịch, Ngài một lần nữa được Giáo hội đề cử giữ chức vụ Viện trưởng Viện Hóa đạo. Năm 1974, Ngài thành lập Viện Đại học Phương Nam, tọa lạc trong khuôn viên Việt Nam Quốc Tự.

Năm 1975, trước những thay đổi của thời cuộc, Ngài đã ra nước ngoài hành Đạo. Ban đầu, Ngài dừng chân tại Pháp, nơi Ngài kiến tạo chùa Từ Quang tại thành phố Nice, lãnh đạo tinh thần Hội Phật giáo Pháp-Việt chùa Hồng Hiên tại thành phố Fréjus và thành lập Hội Phật giáo Thế giới Phụng sự Xã hội.

Năm 1976, Ngài tiếp tục giữ vai trò lãnh đạo tinh thần kiêm Hội trưởng Hội Phật giáo Pháp-Việt, tích cực đóng góp vào việc kiến thiết cảnh quan chùa Hồng Hiên. Từ năm này trở đi, Ngài thường xuyên qua lại Canada và Hoa Kỳ, hướng dẫn tinh thần cho cộng đồng Phật tử Việt Nam xa xứ, khuyến khích họ xây dựng Phật đường và tu học Phật pháp.

Năm 1977, Ngài cùng các Phật tử đã xây dựng chùa Liên Hoa và Niệm Phật đường Chân Như tại Toronto, Canada. Đồng thời, Ngài hướng dẫn Phật tử xây dựng chùa Phật Quang tại Houston, Texas, Hoa Kỳ.

Năm 1978, Ngài tiếp tục hướng dẫn tinh thần cho chùa Liên Hoa (Brossard) và chùa A Di Đà (Toronto).

Năm 1979, Ngài chủ trì Đại hội thành lập Giáo hội Tăng già Việt Nam Hải ngoại tại chùa Giác Hoàng (Washington D.C.). Ngài đảm nhận ngôi vị Thượng thủ của Giáo hội, đồng thời là lãnh đạo tinh thần cho Cộng đồng Giáo hội chùa Giác Hoàng (Washington D.C.) và chùa Phật Quang (Houston). Kể từ năm này, Ngài thường xuyên đi thuyết giảng, trao truyền giới pháp, hướng dẫn tu tập và khuyến khích Phật tử xây dựng các Phật đường như chùa Giác Quang (Oklahoma) và nhiều nơi khác.

Năm 1981, Ngài giữ chức Chủ tịch Công đồng Giáo hội chùa Giác Hoàng (Washington D.C.) và chùa Liên Hoa (Brossard). Cũng trong năm này, Ngài bắt đầu hành Đạo tại Úc châu.

Năm 1982, Ngài khai sơn Tổ đình Từ Quang tại Montreal, Canada.

Xem thêm: Hòa thượng Thích Mật Hiển: Từ Thiếu Thời Đến Bậc Cao Tăng Khai Sáng

Năm 1984, Ngài thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam trên Thế giới, giữ ngôi vị Thượng Thủ. Dưới sự lãnh đạo của Ngài, nhiều chi nhánh của Giáo hội đã được thành lập tại các quốc gia như Canada (Tổ đình Từ Quang, chùa Liên Hoa, chùa Từ Ân, chùa Di Đà, chùa Chân Quang), Úc châu (chùa Phật Quang, chùa Phật Đà), Hoa Kỳ (chùa Giác Hoàng, chùa Phật Quang, chùa Pháp Quang, chùa Nam Quang, chùa Quan Âm, chùa Pháp Hoa), và Pháp (chùa Hồng Hiên, chùa Từ Quang, chùa Quan Âm).

Năm 1989, Ngài giữ chức Đệ nhất thành viên Hội đồng Trưởng lão Giáo hội Tăng già Thế giới.

Năm 2008, dù đã bước qua tuổi 80, với lòng tri ân Tam bảo, Ngài vẫn tích cực khai sơn Tu viện Viên Quang tại South Carolina, Hoa Kỳ.

III. SỰ NGHIỆP TÁC PHẨM

Trong suốt hơn 80 năm tu tập và hành đạo, Đức Trưởng lão Hòa thượng Thích Tâm Châu luôn thể hiện sự tinh tấn và nhiệt tâm trong mọi Phật sự. Bên cạnh việc xây dựng Phật đường, kiến tạo tự viện, lãnh đạo giáo hội, thuyết pháp, giảng kinh và hướng dẫn tu học, Ngài còn đặc biệt coi trọng sự nghiệp trước tác và phiên dịch kinh điển. Dù bận rộn với muôn vàn Phật sự, khi trở về, Ngài vẫn miệt mài bên án kinh, dành thời gian cho việc viết sách và dịch kinh. Sự nghiệp trước tác của Ngài bắt đầu từ khi còn là một vị Tỳ khưu trẻ cho đến những năm cuối đời.

A) Dịch thuật:

  • Kinh Bát Đại Nhân Giác (5/1956)
  • Kinh Di Lặc Hạ Sinh (12/1956)
  • Kinh Di Lặc Thượng Sinh (12/1956)
  • Kinh Tội Phúc Báo Ứng (2/1957)
  • Kinh Thập Thiện (3/1957)
  • Kinh Phổ Môn (5/1957)
  • Kinh A Di Đà (7/1957)
  • Kinh Lần Tràng tức Kinh Mộc Hoạn Tử (4/1957)
  • Kinh Hiệu Lượng tức Kinh Sổ Châu Công Đức (4/1957)
  • Kinh Cương Đính tức Kinh Du Già Niệm Châu (4/1957)
  • Kinh Trì Trai (6/1957)
  • Kinh Hiếu Tử, Kinh Vu Lan Bồn, Kinh Giải Hạ, Kinh Tân Tuế, Kinh Thụ Tuế (7/1957)
  • Kinh Quan Thế Âm Bồ Tát Thụ Ký (9/1957)
  • Kinh A Hàm Chính Hạnh, Kinh Duyên Sinh (11/1957)
  • Kinh Quy Y Tam Bảo, Kinh Phát Bồ Đề Tâm, Kinh Đại Thừa Già Da Sơn Đính (12/1957)
  • Kinh Đại Niết Bàn, Phật Học Ngụ Ngôn (5/1958)
  • Kinh Tâm Địa Quán (12/1959)
  • Thiền Lâm Bảo Huấn (11/1972)
  • Nhân Duyên Tâm Luận Tụng (1/1996)
  • Bồ Đề Tâm Ly Tướng Luận (6/1996)
  • Kinh Văn Thù Thỉnh Vấn Bồ Đề (10/1996)
  • Kinh Nhân Quả Ba Đời (2/1997)
  • Du Già Sư Địa Luận Thích (1/1999)
  • Kinh Ngũ Bách Danh (8/2012)

B) Sáng tác:

  • Gương Hỷ Xả, thơ (5/1952)
  • Đường Vào Cửa Phật (12/1952)
  • Đạo Phật Với Con Người (8/1953)
  • Phật Học Chính Cương (7/1955)
  • Bước Đầu Học Phật (12/1958)
  • Nét Tinh Thần, thơ (8/1967)
  • Tịnh Minh Thi Cảo I, thơ chữ Hán (5/1969)
  • Tịnh Minh Thi Cảo II, thơ chữ Hán (11/1969)
  • Cánh Hoa Tâm, thơ (12/2011)
  • Tiếng Vọng Thời Gian tập I (11/2002)
  • Tỉnh Mộng Đời, thơ (6/2004)
  • Hương Vị Phật Pháp (11/2007)
  • Tiếng Vọng Thời Gian tập II (2014)
  • Vang Vọng Nguồn Thương, thơ (2014)

IV. ĐẠI THỪA VÔ LƯỢNG

Tháng 7 năm 2015, dù sức khỏe đã suy giảm, Ngài vẫn tổ chức khóa nghiên tu theo chương trình đã định tại Tu viện Viên Quang, Hoa Kỳ. Sau khi kết thúc khóa tu, nhận thấy sức khỏe yếu đi nhiều, Ngài trở về Tổ đình Từ Quang, Canada. Khi nhận thấy duyên nghiệp sắp mãn, Ngài đã triệu tập tất cả đệ tử về Tổ đình để ân cần dặn dò, dạy bảo. Sau đó, môn đồ tứ chúng đã thay phiên nhau niệm Phật trợ niệm cho Ngài.

Vào lúc 10 giờ 15 phút ngày 20 tháng 08 năm 2015 (nhằm ngày 07 tháng 07 năm Ất Mùi), Đức Trưởng lão Hòa thượng Thích Tâm Châu đã an nhiên xả bỏ báo thân tại phương trượng Tổ đình Từ Quang, trong không khí trang nghiêm của tiếng niệm Phật, hưởng thọ 95 tuổi đời và 74 năm tuổi đạo.

Cuộc đời Ngài là một tấm gương sáng ngời về sự tinh tấn, nhiệt tâm phụng sự Tam bảo và lợi ích chúng sanh. Ngài đã không ngừng tổ chức các giới đàn tại Tổ đình Từ Quang cũng như nhiều nơi khác để truyền trao Đại giới, Bồ tát giới và Ngũ giới cho vô số Tăng Ni, Phật tử. Ngài luôn hoan hỷ nhận lời thỉnh cầu, chứng minh các đại lễ, tham dự lễ động thổ hay khánh thành các tu viện, tự viện dù ở gần hay xa, quy mô lớn hay nhỏ. Bên cạnh việc xuất bản kinh sách, Ngài còn bảo trợ cho nhiều Tăng Ni trẻ theo học ở nước ngoài.

Ngài không chỉ là một nhân chứng lịch sử mà còn là một tác nhân quan trọng định hình lịch sử Phật giáo Việt Nam trong thời hiện đại, một giai đoạn đầy biến thiên và thăng trầm. Lịch sử Phật giáo Việt Nam nói riêng và Phật giáo thế giới nói chung sẽ mãi mãi ghi nhớ công hạnh của Ngài trong sự nghiệp phụng sự Đạo pháp và quê hương.

Nước có trong ngoài, biệt Tổ ly hương, bảo vệ quốc gia, đức độ còn lưu vạn thuở
Đạo không Nam Bắc, vị tha xả kỷ, duy trì Phật pháp, công huân để lại ngàn thu.

NAM MÔ LƯU PHƯƠNG THÁP, TRÚC LÂM YÊN TỬ, VĨNH NGHIÊM, PHƯỢNG BAN PHÁP PHÁI, ĐỆ LỤC THẾ, VIỆT NAM PHẬT GIÁO THỐNG NHẤT GIÁO HỘI VIỆN HÓA ĐẠO ĐỆ NHẤT VIỆN TRƯỞNG, THẾ GIỚI VIỆT NAM PHẬT GIÁO GIÁO HỘI THƯỢNG THỦ, TỪ QUANG TỔ ĐÌNH KHAI SƠN, MA HA SA MÔN TỲ KHƯU BỒ TÁT GIỚI, PHÁP DANH THANH MINH, PHÁP HIỆU TÂM CHÂU, TỰ TUỆ HẢI, ĐOÀN CÔNG TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG GIÁC LINH THÙY TỪ CHỨNG GIÁM./.

Để tìm hiểu sâu hơn về những đóng góp và di sản của Đức Trưởng lão Hòa thượng Thích Tâm Châu, mời quý vị cùng khám phá chi tiết trong chuyên mục Tiểu sử.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang