Bối cảnh Phật giáo Việt Nam những thập kỷ cuối thế kỷ 20 chứng kiến sự xuất hiện của một bậc lãnh đạo tinh thần lỗi lạc, người được kính trọng tôn xưng là Đệ Nhất Tăng Thống của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Hành trình từ một cậu bé học Nho học đến vị thế lãnh đạo tối cao là minh chứng cho một cuộc đời cống hiến không ngừng nghỉ cho Đạo pháp và dân tộc, như Website Chia sẻ Đạo Phật thường nhấn mạnh về những tấm gương sáng. Hãy cùng khám phá sâu hơn về thân thế, sự nghiệp và những đóng góp to lớn của vị cao tăng này.

Tiểu sử
ĐẠI LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH TỊNH KHIẾT
ĐỆ NHẤT TĂNG THỐNG GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT
(1891-1973)
VỊ THẾ TÔN QUÝ TRONG TĂNG GIÀ
Đại Lão Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết được suy tôn là Đệ Nhất Tăng Thống của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Danh vị này không đến từ sắc phong của triều đình hay chính quyền, mà là sự tôn vinh của toàn thể Tăng, Ni, cùng tín đồ Phật tử hai miền Nam, Bắc tông. Ngôi vị cao quý này là minh chứng cho công quả, đức hạnh và lòng tận tụy không ngừng nghỉ của Ngài đối với Đạo pháp và dân tộc trong suốt cuộc đời.
THÂN THẾ VÀ THỜI NIÊN THIẾU
Ngài có tên húy là NGUYỄN VĂN KỈNH, sinh ngày 17 tháng 11 năm Tân Mão (1891) tại làng Dưỡng Mong Thượng, xã Phú Mỹ, quận Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên. Ngài là con trai thứ ba của cụ Nguyễn Văn Toán và bà Tôn Nữ Thị Lý.
Năm lên chín tuổi, Ngài bắt đầu theo học chữ Hán. Với tư chất thông minh, Ngài nhanh chóng tinh thông các bộ sách căn bản của Nho học. Tuy nhiên, có lẽ do nhân duyên sâu dày từ nhiều đời, chí nguyện xuất trần đã sớm nảy nở. Sau sáu năm đèn sách theo Khổng học, Ngài xin song thân cho phép cùng người anh ruột xuất gia tu học tại chùa Tường Vân, làng Dương Xuân Hạ, quận Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên. Tại đây, Ngài thụ giáo Hòa thượng Thanh Thái, vị Tổ đời thứ ba của chùa Tường Vân thuộc dòng Thiền Lâm Tế. Ngài được Tổ nhận làm đệ tử, ban pháp danh là Thượng Trừng Hạ Thông, tự Chơn Thường.
QUÁ TRÌNH TU HỌC VÀ RÈN LUYỆN
Sau ba năm tu học, Ngài hoàn thành chương trình Trung đẳng Phật học. Trong giai đoạn đầu nhập đạo, theo truyền thống Thiền tông, Ngài phải đảm nhận nhiều công tác lao động nặng nhọc bên cạnh việc học hành kinh kệ.
Với bản tính thông minh, cùng đạo phong trang nghiêm từ thuở nhỏ, Ngài luôn được bạn đồng tu kính trọng. Nhờ tư chất đặc biệt xuất chúng, Ngài được đặc cách miễn tuổi để thụ Tam đàn Cụ túc vào năm 19 tuổi, chỉ ba tháng sau khi thọ Sa-di giới. Giới đàn này do Hòa thượng Vinh Gia làm Đàn đầu, Hòa thượng Tâm Truyền làm Yết Ma và Hòa thượng Hoằng Phú làm Giáo thọ.
Sau khi thọ Cụ túc giới, Ngài phát tâm thực hành Lạy bộ Vạn Phật Nhất Tự Nhất Bái suốt ba năm liền. Đến năm 23 tuổi, song thân Ngài từ trần cùng lúc, đúng như lời nguyện khi sinh tiền của hai cụ là được vãng sinh đồng thời.
SỰ NGHIỆP HOẰNG PHÁP
Năm 26 tuổi, Ngài được bổ nhiệm trụ trì chùa Phước Huệ, một ngôi cổ tự do Tuy Lý Vương lập cho một vị công tôn xuất gia tại Vỹ Dạ.
Năm 30 tuổi, Ngài đắc pháp, trở thành vị Tổ đời thứ 42 của Thiền phái Lâm Tế Trung phần, hiệu là Tịnh Khiết. Nghiệp sư của Ngài là Hòa thượng Phước Chỉ, người đã truyền cho Ngài bài kệ:
Trừng thông tâm pháp bản đồng nhiên
Phó như chơn thường đạo chí kiên
Phi hữu phi vô phi sở kiến
Tịch nhiên khai ngộ chủ nhân tiền
Năm 32 tuổi, Ngài trở về Tổ đình để phụng sự tang lễ cho Nghiệp sư vừa viên tịch. Sau đó, Ngài theo học lớp Cao đẳng Phật học với Hòa thượng Huệ Pháp (chùa Thiên Hưng) và Hòa thượng Phước Huệ (chùa Thập Tháp), chuyên tâm nghiên cứu kinh điển Đại thừa trong suốt 5 năm.
Năm 42 tuổi, Ngài làm Dẫn thỉnh sư tại Đại giới đàn Từ Hiếu. Năm 44 tuổi, Ngài về trụ trì chùa Tường Vân, kế thừa vị trí của Hòa thượng Tịnh Hạnh, người anh ruột vừa viên tịch.
Năm 1938, Ngài là Chứng minh Đạo sư sáng lập An Nam Phật học Hội. Năm 1940, Ngài giữ chức Giám đốc Đạo hạnh tại Cao đẳng Phật học viện, được tổ chức tại Tổ đình Tường Vân và Báo Quốc. Nơi đây đã đào tạo nhiều Tăng sinh trở thành những bậc pháp khí, như cố Hòa thượng Thiện Hoa, Hòa thượng Thiện Hòa, Hòa thượng Hành Trụ, Thượng tọa Thích Trí Tịnh, Thượng tọa Thích Thiện Siêu, Thượng tọa Thích Thiện Minh, Thượng tọa Thích Trí Quang…
Năm 1944, Ngài giữ vai trò Yết Ma tại Đại giới đàn mở tại Tổ đình Thuyền Tôn. Năm Ất Dậu (1945), Ngài phó pháp cho đệ tử Pháp danh Tâm Ân, tự Vĩnh Thừa, hiệu Viên Quang, kế vị Ngài làm tổ thứ 43. Nhân dịp này, Ngài ban cho sáu vị đệ tử đắc pháp bài kệ:
Tâm ấn viên minh ngộ đạo tiên
Tham thuyền liễu đạt thấu chơn nguyên
Niên hoa phó nhử như lai tạng
Tục diệm huệ đăng vạn cổ truyền
Năm 1947, Ngài được thụ phong chức vị Tùng Lâm Pháp chủ Trung Việt. Năm 1948, Ngài làm Đàn đầu Hòa thượng cho Đại giới đàn Báo Quốc. Đến năm 1950, Ngài được suy tôn chức vị Hội chủ Tổng Hội Phật giáo Việt Nam.
Năm 1951, Ngài ra miền Bắc để chủ tọa Đại hội Giáo hội Tăng Già Toàn Quốc tại chùa Quán Sứ, Hà Nội. Năm 1952, Ngài trở vào miền Nam chủ tọa lễ truy phong Pháp chủ Phật giáo Nam Việt tại chùa Ấn Quang. Năm 1955, Ngài tham dự Đại hội Phật giáo Thế giới tại Tích Lan và chiêm bái Phật tích tại Ấn Độ. Trong chuyến hành hương này, Ngài đã cảm tác hai bài kệ chữ Hán:
Đạp tuyết phong vân quá hải hà.
Du du hốt kiến lâu đài đa
Bảo tháp thất từng kim tú lệ.
Bồ-Đề thiên trượng ngọc bích hoa
Cảnh tối thâm u tần đáo tự
Duy thường ái tịch niệm Thích Ca
Nhân duyên Bồ-Tát khai phương tiện
Nhiếp tận chúng sinh lễ Phật Đà
Lâm quang tịnh mậu trước thi biên
Phật quốc ký du hữu đại duyên
Tận địa kim ngân triệt vũ trụ.
Thanh phong châu ngọc mãn nhân gian
Bồ đề thành đạo trang nghiêm cảnh
Lộc uyển sơ niên chuyển pháp tiên
Ấn Độ hoa khai chân tịnh xứ
Kỳ viên trùng kiến tợ thiền thiên.
THAM GIA CÁC CUỘC VẬN ĐỘNG XÃ HỘI VÀ KÊU GỌI HÒA BÌNH
Ngày 20 tháng 2 năm 1962, Ngài đã ký hai văn thư gửi Tổng thống Ngô Đình Diệm và Quốc hội để phản đối sự kỳ thị tôn giáo, đặc biệt là vụ đàn áp Phật tử tại Cao nguyên Trung phần. Vào ngày 20 tháng 8 năm 1963, khi chính quyền Ngô Đình Diệm bắt giữ và tù đày Tăng Ni, Phật tử, Ngài đã chia sẻ số phận với đồng bào Phật giáo trong cuộc vận động chống đàn áp và kỳ thị tôn giáo. Chính trong đêm pháp nạn ngày 20 tháng 8 năm 1963, Ngài cùng Tăng Ni, Phật tử cả nước đã chịu đựng sự đàn áp khốc liệt, gây thương tích. Mặc dù đối mặt với nhiều áp lực tâm lý và chính trị từ phía chính quyền trong thời gian bị an trí, Ngài vẫn kiên quyết giữ vững chủ trương từ bi bất bạo động.
Năm 1964, khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất được thành lập, Ngài được cung thỉnh lên ngôi vị Tăng Thống. Dù tuổi cao sức yếu và đã quen với cuộc sống thanh tịnh tại Tổ đình Tường Vân, vì hạnh nguyện lợi tha, Ngài đã không quản ngại rời Tổ đình vào Sài Gòn, trú tại chùa Ấn Quang, trụ sở tạm của Giáo hội, để chu toàn Phật sự.
Trong những năm tiếp theo, khi chiến tranh Việt Nam ngày càng leo thang, gây ra biết bao đau thương, mất mát cho hàng triệu người dân, Ngài không ngừng kêu gọi hòa bình. Trong thông điệp gửi Hội nghị Quốc tế về Tôn giáo và Hòa bình vào tháng 10 năm 1970, Ngài khẳng định: “Chỉ có hòa bình mới cứu được nhân loại trong cơn khủng hoảng hiện nay. Chỉ có hòa bình mới đem lại sự cảm thông, sự tương thân tương ái, sự thi đua phát triển đạo lý giữa các đại tiểu quốc, cũng như các giai tầng xã hội. Chỉ có hòa bình mới đem lại cho con người vận dụng sức mạnh khoa học, kỹ thuật để phụng sự tốt đẹp con người”.
Trước các thế lực quốc tế đang điều động cuộc chiến tàn khốc tại Việt Nam, Ngài khẩn thiết kêu gọi lương tri và tình nhân loại: “Tôi kêu gọi Hoa Kỳ, Liên Xô, Trung Quốc, ba đại cường đang ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc chiến ở Việt Nam và đang cung cấp vũ khí cho các phe đối chiến, hãy vì sự an nguy của thế giới, vì sự diệt chủng của một dân tộc mà tìm sự thỏa hiệp với nhau để ngừng cung cấp chiến cụ vào Việt Nam, rồi dùng thế lực của mình mà sớm kết thúc cuộc chiến ở Việt Nam đi. Tôi kêu gọi toàn thể thế giới, nhất là tổ chức Liên Hiệp Quốc, hãy tích cực hơn nữa trong công cuộc vận động chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam, để tạo sự quân bình cho thế giới.” (Thông điệp Phật đản 2516).
Với chính quyền hai miền Nam Bắc Việt Nam, Ngài kêu gọi đến lương tri và tình dân tộc: “Chúng tôi kêu gọi chính phủ của hai miền Nam Bắc Việt Nam và các thế lực quốc tế có liên hệ tới cuộc chiến tranh Việt Nam, hãy ngưng những cuộc bắn giết dân chúng Việt Nam, hãy ngưng việc xô đẩy nhân dân Việt Nam vào vòng chiến tranh một cách cưỡng bách, ngụy trang dưới hình thức pháp lý hoặc lý tưởng này nọ. Xin hãy thành thật dùng đường lối ngoại giao hòa bình để sớm giải quyết vấn đề chiến tranh Việt Nam, mà cơ hội đã mở ra tại Hòa hội Paris.” (Lời kêu gọi ngưng bắn ngày 20-6-1968).
Với quần chúng Phật tử nói riêng và nhân dân Việt Nam nói chung, Ngài kêu gọi sự sáng suốt và chủ động. Trong Thông điệp đầu năm Canh Tuất, Ngài nhắn nhủ: “Con người hãy dùng trí tuệ để đãi lọc, lựa chọn và dung hóa các luồng tư tưởng, các đường hướng chính trị đang ảnh hưởng tới chính mình, để không làm nô lệ mà cốt vận dụng chúng, vận dụng những điều tốt đẹp lợi ích của chúng vào công việc phục vụ con người, dân tộc và nhân loại. Tôi kêu gọi toàn thể đồng bào Việt Nam hãy sáng suốt để tự cứu mình và cứu dân tộc. Sự chia rẽ tôn giáo, đảng phái, địa phương, là mối nguy lớn làm tê liệt dân tộc ta, làm cho chúng ta mất chủ quyền và mất ánh sáng. Phải nhìn nhận rằng, nếu các thế lực bên ngoài có thể nhúng tay vào nội tình Việt Nam, phần lớn lỗi ở chúng ta không biết thương nhau, không biết tới sự sống đích thực và kiêu hùng của dân tộc mà chỉ biết nghĩ tới quyền lợi và tự ái riêng tư.” (Thông điệp đầu Xuân 1968).
CHỦ TRƯƠNG HÓA GIẢI VÀ ĐOÀN KẾT DÂN TỘC
Để trở về với truyền thống dân tộc và hóa giải hận thù, Ngài tha thiết kêu gọi người Việt hãy đề cao Sức Mạnh Hóa Giải: “Lịch sử đã chứng minh: Dân tộc Việt Nam có sức hóa giải bền bỉ phi thường. Sức hóa giải đó là bản chất dân tộc và cũng chính là bản chất Phật Giáo. Vì Phật Giáo được xây dựng trên tinh thần Từ Bi, Trí Tuệ và Hùng Lực, Việt Nam vượt qua được những giai đoạn bị đồng hóa là nhờ ở đức bao dung, sự đãi lọc và lòng kiên trì phát triển: Chính nhờ ở những căn bản quý giá đó mà đã hơn một lần Phật giáo trợ duyên cho dân tộc hóa giải nổi những lối sống xuất thể và nhập thể của các luồng tư tưởng Đông phương, tạo ra sự quân bình tư tưởng cho Việt Nam dưới thời tự chủ Lý-Trần, kéo dài trên 3 thế kỷ.” (Thông điệp Sứ Mệnh Hòa Bình nhân dịp Phật Đản 2513).
Song song với việc kêu gọi hòa bình, Ngài không quên khuyến cáo các Phật tử hãy sáng suốt, đừng để bất cứ phe phái nào lợi dụng chiêu bài hòa bình để khuynh loát. Ngài nhắc nhở Phật giáo đồ ý thức trách nhiệm đối với dân tộc và kêu gọi tinh thần tự giác: “Phật giáo, một tôn giáo lớn tại Việt Nam, bao giờ cũng chiếm tới đại đa số dân chúng trong nước. Do đây, vai trò Phật giáo lúc này thật hết sức quan trọng. Chúng ta phải noi gương tiền nhân mà đảm nhận sứ mạng quy tụ sức mạnh dân tộc để hóa giải những xung đột nội tại quốc gia, bằng không, tất phải bị dồn vào vị thế phân hóa.” (Thông điệp Xuân Quý Sửu).
Để thực hiện công cuộc hóa giải ấy, Ngài nhắn nhủ Phật giáo đồ hãy nhớ đến truyền thống bất khuất của dân tộc, để tăng thêm niềm tin, vững thêm nghị lực: “Trong dòng sinh mệnh Việt Nam, dân tộc này đã trường kỳ kiên nhẫn hóa giải mọi ý hệ xung đột ngoại nhập, để bồi đắp và làm sáng, làm mới cho nền văn hóa Việt, thì đến nay chúng ta cũng không thể làm khác được những gì lịch sử đã làm. Chúng ta cần đề kháng những ý hệ ngoại nhập, nhưng không phải như thế là để phủ nhận toàn bộ, mà là đãi lọc lấy tinh túy của tất cả, dung hóa tất cả, biến tất cả thành chất liệu bồi dưỡng cho tinh thần Việt Nam.” (Thông điệp Xuân Nhâm Tý).
Trước nỗi thống khổ lan tràn, Ngài thống thiết kêu gọi những người con dân Việt đừng gây khổ cho nhau: “Cuộc đời hiện hữu là một biển khổ mênh mông, tôi xin tất cả chúng ta, đừng bao giờ làm khổ mình, làm khổ thân quyến, làm khổ đồng loại, làm khổ chúng sinh – Vì tất cả đều đáng thương, đều cần phải sống xứng đáng cho trọn kiếp người, tất cả đều đáng tôn trọng và cần được phụng sự.” (Thông điệp Ý Lực Tự Giác đầu Xuân Quý Sửu).
Cuối cùng, Ngài không quên nhắc nhở Phật giáo đồ cũng như Tăng Ni hãy bắt đầu từ bản thân, bằng cách sống đúng theo giới luật, thực hiện hạnh từ bi cứu khổ song song với việc tu niệm, nguyện cầu cho hòa bình đích thực sớm trở về.
HƯỚNG DẪN ĐỒ CHÚNG
Dù bận rộn với các Phật sự đối ngoại, Ngài không bao giờ xao lãng việc hướng dẫn đồ chúng tùy theo căn cơ trình độ.
Trong một mùa an cư, Ngài đã gửi đến quý vị Đại đức Tăng Ni những lời huấn dụ:
“Đạo Phật tồn tại không chỉ y cứ vào những hình thức chùa tháp, lễ nghi, kinh điển – mặc dù kinh điển là kim chỉ nam hướng dẫn ta trên đường đi tới đạo quả vô thượng Bồ Đề. Nhưng sự tồn tại đích thực chính là sự thể hiện đạo phong, những nếp sống gương mẫu của các bậc Tăng già nghiêm trì giới luật và biết tận lực phục vụ chính pháp để chính pháp mãi mãi tồn tại với con người, cuộc đời và làm lợi ích cho chúng sinh.”
Có lần, Ngài gửi huấn dụ cho một đệ tử ở hải ngoại:
“Vạn vật biến chuyển không ngừng, dục vọng con người khởi diệt thế nào con đã rõ. Bên trong thì tâm niệm sát na vô thường, bên ngoài thì thanh sắc quyến rũ mãnh liệt, trong không chỗ nương, ngoài không chỗ tựa, bậc trượng phu giữa đời lại hiếm có, tự mình dễ cảm thấy lẻ loi. Nếu không phải là người nuôi chí xuất trần, quyết lánh vọng tìm chân, thì thật khó bảo toàn chí nguyện sơ tâm vậy.”
Những đệ tử được diễm phúc sống gần gũi Ngài đều cảm nhận Ngài là hiện thân của một “Bài thuyết pháp hùng vĩ linh động” qua đạo phong cốt cách, qua những lời giáo huấn vàng ngọc đề cao trí tuệ và đức tự chủ tự giác. Ngài luôn khuyến khích sự học hỏi Phật pháp cũng như thế gian pháp, nhưng đồng thời khuyên các môn đệ đừng rơi vào cạm bẫy của tri thức suông.
Trong việc tu trì, Ngài khuyên đệ tử hãy luôn nhiếp tâm chánh niệm trong bốn oai nghi vào tất cả thời gian và phải tự chủ đối với pháp môn tu tập, chớ để bị pháp chuyển. Ngài khuyên môn đệ sau mỗi thời tụng kinh, lễ bái hay niệm Phật, nên tập ngồi thiền, để tâm an trụ ở chỗ vắng lặng, không nghĩ thiện, không nghĩ ác, đừng mãi bám víu vào một câu trì chú hay niệm Phật. Ngài thường dạy bằng lời vắn tắt: “Gắng tự làm chủ lấy”.
Đối với những Phật tử tại gia phải gánh vác nhiều bổn phận, Ngài khuyên một phương pháp giản dị: mỗi tối trước khi ngủ, hãy ngồi thẳng trên giường, chí thành tha thiết niệm thong thả 10 lần câu hồng danh NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT.
Trong những năm sau này, khi một số đông Tăng Ni còn sơ cơ phải ra làm công tác xã hội thực thi hạnh cứu khổ, Ngài không ngừng khuyên hãy thận trọng gìn giữ sơ tâm, nghiêm trì giới luật. Ngài nhấn mạnh phương châm “Tùy duyên bất biến” và khuyên đệ tử đừng bao giờ lợi dụng địa vị, tuổi trẻ, chức phận mà dễ dãi với bản thân và làm những chuyện phương hại đến đạo nghiệp.
Trong những năm gần đây, khi tuổi đã già, sức đã kiệt, Ngài thường dạy đệ tử: “Trước, ta dạy các con bằng lời nói, có khi bằng roi gậy, nhưng nay thì ta dạy bằng sự im lặng”.
Ai đã từng có duyên lành hầu cận Ngài, đều công nhận Ngài có một uy nghi hùng vĩ trong tất cả các thời. Mặc dù già yếu, Ngài luôn luôn ngồi thẳng người theo thể nhập định. Dáng đi oai vệ như sư tử chúa. Đôi tay dài quá gối buông thẳng khoan thai mỗi khi Ngài đi bách bộ. Đôi mắt luôn luôn nhìn thẳng uy nghiêm. Và đặc biệt, Ngài rất ít khi ngồi ở chỗ không phải chỗ ngồi thường nhật của Ngài trong tự viện. Thế nên, chỗ Ngài ngồi trong Tổ đình Tường Vân đã trở thành một nơi thiêng liêng đối với Phật tử miền Trung. Dù cho Ngài phải xa xứ Huế trong nhiều năm, nhưng suốt thời gian này, và có lẽ mãi mãi từ đây, Phật tử nào bước chân đến Tổ đình cũng vẫn tự nhiên cúi đầu cung kính khi đi ngang qua pháp tòa của Ngài là bộ phản gỗ đơn sơ. Một làn hương không tên nhưng có thật, tỏa ra từ nơi thiêng liêng ấy, khiến mọi người phải cúi đầu úy phục, không dám bước mạnh nói lớn hay có những cử chỉ thiếu uy nghi, hay ngay cả một tâm niệm bất chính. Làn hương đó có lẽ là di tích vô hình, vô thanh, vô hướng, nhưng linh động nhất của Ngài, đó là làn hương của Giới, Định, Tuệ, làn hương của hạnh kham nhẫn, của đức giải thoát vô vi.
Trong những tháng Ngài ngọa bệnh phải vào điều trị tại Dưỡng đường Duy Tân và Sùng Chính, những lúc bệnh tình trầm trọng, đệ tử có thăm hỏi: “Bạch Cố, Cố có mệt lắm không?” thì Ngài trả lời: “Thân ta mệt, nhưng tâm ta thì không”. Hạnh giải thoát vô vi của Ngài biểu lộ trong đức tính “Tùy duyên nhiếp hóa”. Ngài không bao giờ tham cầu đệ tử hay nghĩ đến việc mở mang ngôi Tổ đình cho lớn rộng. Hình thức, nghi lễ không phải là mối quan tâm chính yếu của Ngài. Nhưng có lẽ do định luật y báo, chánh báo không rời nhau, nên Ngài đến đâu thì trang nghiêm y báo, đồ chúng sum vầy, đông đúc, mừng vui như con thơ gặp lại mẹ hiền, như nắng hạn gặp cơn mưa lớn. Ngôi Tổ đình Tường Vân đã bao năm tiêu điều vì thời gian và chiến cuộc nhưng Ngài không bao giờ cho phép đồ đệ quyên góp trùng tu, vì cảm thông tình trạng kinh tế eo hẹp của Phật giáo đồ hiện tại. Mãi đến gần đây, trong thời gian Ngài xa Huế, một số đệ tử thân tín mới thi công tái thiết. Lễ khánh thành sắp tổ chức thì được tin Ngài tỏ ý mong trở về, và những căn rạp dựng lên cho cuộc khánh thành, than ôi, bây giờ lại được sử dụng cho tang lễ.
NHỮNG NGÀY CUỐI ĐỜI
Vào ngày Rằm tháng 11 năm Nhâm Tý, từ Sài Gòn (lúc bấy giờ Ngài an trú tại Tu viện Quảng Hương Già Lam, do Hòa thượng Thích Trí Thủ làm Giám viện), Ngài quyết liệt bày tỏ ý muốn trở về Huế. Trong lúc Hội đồng Lưỡng viện tới làm lễ tiễn đưa Ngài về Huế, Thượng tọa cố Viện trưởng Thích Thiện Hoa có bạch: “Xin cung thỉnh Đức Tăng Thống sau khi về thăm cố đô ít ngày, rồi xin Ngài trở lại thủ đô để lãnh đạo Giáo hội”. Ngài nghiễm nhiên đáp: “Thôi, tôi không vô nữa”.
Sau khi trở về cố đô, Ngài lần lượt viếng thăm các Tổ đình Huế như Thuyền Tôn, Tây Thiên, Từ Đàm, Báo Quốc, Linh Quang, Quốc Ân, Kim Tiên… Không ngờ, lần viếng thăm này lại là lần vĩnh biệt cuối cùng! Trong dịp đầu Xuân Quý Sửu, khi quý vị Thượng tọa Giáo hội Phật giáo Thừa Thiên đến Tổ đình Tường Vân đảnh lễ chúc thọ đầu năm, dường như linh cảm trước sự ra về vĩnh viễn, Ngài đã ân cần phú chúc những lời huấn dụ hết sức cảm động: “Tôi thấy sức khỏe tôi đã kém nhiều. Tôi khuyên các Tăng Ni Phật tử cố gắng lo việc tu hành để báo đáp công ơn Tam Bảo, thương mến mà đoàn kết với nhau để xây dựng Giáo hội và góp phần vào nền hòa bình dân tộc”. Ngài khuyên nhủ Tăng Ni cố gắng nghiêm trì giới luật để giữ gìn mối đạo và đừng bỏ rơi chúng sinh trong thời mạt pháp.
Chỉ sau vài ngày pháp thể khiếm an, Ngài an tường xả báo thân vào lúc 20 giờ 45 phút ngày 23 tháng Giêng năm Quý Sửu (nhằm ngày 25 tháng 12 năm 1973).
Ngài không lưu lại bài kệ phú pháp nào, đúng theo hạnh vô vi của Ngài. Tuy nhiên, bài thơ sau đây của Ngài đủ nói lên tôn chỉ “Tự chủ, tự giác” trong việc tu hành, có thể làm kim chỉ nam cho môn đệ:
Pháp thân vô trọng diệc vô khinh
Chỉ vị đa sanh hoặc tập tành
Nhất niệm hồi quang tri lụy kiếp
Lục căn thanh tịnh liễu tâm kinh
Ưng tiêu vọng tưởng chơn vô ngã
Thỉ ngộ thuyền quang hiệp thế tình
Dục thám huyền vi công tự tỉnh
Hà lao hướng viện vấn thuyền huynh.
Tạm dịch:
Pháp thân không trọng cũng không khinh
Phân biệt do mê hoặc nghiệp thành
Một niệm hồi quang, lụy chương dứt
Sáu căn thanh tịnh, rõ tâm kinh
Nên tiêu vọng tưởng, chơn vô ngã
Mới biết đạo kia hiệp thể tình
Muôn ngộ là mầu, tâm tự tính
Ích chi đến việc hỏi thuyền huynh?
Ngài trụ thế 83 năm, hạ lạp 64. Việc tôn trí bảo tháp đã được một số Phật tử phụng lập tại khuôn viên Tổ đình Tường Vân. Bài châm khắc trên tháp do cố Hòa thượng Qui Thiện trứ tác cho chư Tăng ở cố đô Huế, tán thán công đức Ngài và Hòa thượng Tịnh Hạnh (anh Ngài) ví như Vô Trước và Thế Thân của thời mạt pháp.
Hương giang chi nguyệt
Sơn xuyên dục tú
Giác trần thị huyễn
Nghi huynh nghi đệ
Chấn khởi thuyền phong
Hóa mãn diêm phù
Vận án trường thiên
Huệ chúc từ phàm
Vi giáo hội chủ
Giáo lưu nam độ
Pháp hoằng gia vụ
Nghi doan biểu chính
Bổng xướng tùy nghi
Thanh tịnh nan danh
Phật pháp đồng lương
Tuyển Phật trang trung,
Xuân thành hậu tán
Vô nhi biểu thành
Nguyên thùy liên nhãn
Vinh phụng trần sát
Ngự linh chi vân
Đĩnh xuất Kỳ nhân
Duy đạo vi trân
Vô Trước Thiên Thân
Chiết phục tà thái
Kỳ huynh nan tái
Ba cuồng đại hải
Duy sư thị lại
Vi chúng trung tôn
Thục dự tỉ luân.
Đạo kế tông môn
Mục kích đạo tồn.
Nhân hàm kính ngưỡng
Ứng dụng vô lượng
Tông môn bảo chưởng
Lễ tôn Hòa thượng.
Cửu phụ đức âm
Kiền bị chuyết châm
Phủ giám quỳ thầm
Tương thử thâm tâm.
(Tạm dịch: Trăng sông Hương, mây núi Ngự, tinh anh sông núi khéo đúc nên bậc khác thường. Giác ngộ trần lao như huyễn, chí Đạo là quý. Xứng huynh xứng đệ như Vô Trước, Thiên Thân. Chấn hưng thiền phong, chế phục tà thái. Hóa độ cõi Ta bà đã xong, thì anh Ngài về chầu Phật. Than ôi! Mây phủ ngất trời, sóng gầm biển lớn. Đuốc tuệ thuyền từ chỉ còn Ngài làm chỗ nương tựa. Làm pháp chủ Giáo hội, bậc chúng trung tôn. Giáo pháp lưu truyền đất Nam, mấy ai sánh kịp. Xem việc hoằng pháp là việc nhà, nối tiếp đạo thống tông môn. Hình nghi đoan chính, mắt nhìn ánh đạo, đánh hét tùy cơ nghi. Người người kính ngưỡng. Thanh tịnh khó bàn, ứng dụng vô lượng, đống lương của Phật pháp, bình phong che chở tông môn. Trong trường tuyển Phật, tôn kính Hòa thượng. Kẻ hậu lai ở cố đô từ lâu nương nhờ âm đức, không biết lấy gì bày tỏ lòng thành, xin cung soạn bài châm vụng về này, ngưỡng mong Ngài hạ cố chứng giám lòng thành kính, nguyện đem thâm tâm này vĩnh viễn phụng sự chúng sinh).
Ngoài ra, cụ Phan Bội Châu lúc sinh thời, là bạn tâm giao với Ngài, có đề tặng bài thơ ca ngợi:
Tiền thân chủng xuất tự Bồng lai
Di hướng Bồ-Đề viện lý tài
Tô nhụy quang tranh đồng dạ tuyết
Kỳ phương phẩm đoạt lãnh đầu mai
Hương chân vương giả thiên thùy thưởng
Trang tỉ thường nga nguyệt ám xai
Duy Phật tùng lai năng thức Phật
Ân cần huệ ngã thử hoa khôi.
(PHAN SÀO NAM)
Hòa thượng đã độ cho hơn 50 vị đệ tử xuất gia và vô số đệ tử tại gia. Trong hàng ngũ xuất gia, có nhiều vị đã tiếp nối hạnh nguyện lợi tha của Ngài, hoằng dương chính pháp như Thượng tọa Thích Chánh Pháp, Thượng tọa Thích Minh Châu, Đại đức Thích Chơn Thức… cùng nhiều Ni hữu danh tiếng trong Ni giới.
Phật giáo Việt Nam đã chuyển mình và nhận lãnh trọng trách của mình đối với dân tộc. Phật giáo Việt Nam đã có mặt trong mọi biến cố lịch sử với cương vị một tôn giáo dân tộc, một sức mạnh tín ngưỡng ái quốc. Dưới sự lãnh đạo trầm tĩnh và uy dũng của Ngài, Ngài không chỉ là vì sao định hướng từ trời cao mà còn là người dấn thân, dẫn đạo và trực tiếp vạch đường lối hành động. Ngài đã lái con thuyền đạo pháp qua bao cơn phong ba bão táp của lịch sử, vừa giữ gìn chân chính tông môn, vừa vận động hóa giải các thế lực thù nghịch để mưu cầu hòa bình cho đất nước và nhân loại.
Vì sao đó hôm nay đã khuất bóng, nhưng ánh sáng trí tuệ và đức hạnh của Ngài vẫn còn đó, soi tỏ mãi cho hành trình thực hiện sứ mệnh cao cả của Phật giáo Việt Nam đối với lịch sử và nhân loại thời hiện đại: SỨ MỆNH HÓA GIẢI.
____________________________
BẢN TIỂU SỬ ĐƯỢC THƯỢNG TỌA ĐỨC NHUẬN CHÁNH THƯ KÝ VIỆN TĂNG THỐNG
ĐỌC TRONG DỊP LỄ NHẬP THÁP CỦA NGÀI,
NGÀY MỒNG 5 THÁNG 2, NĂM QUÝ SỬU (9-3-73) TẠI CHÙA TỪ ĐÀM, HUẾ
Để hiểu rõ hơn về cuộc đời và sự nghiệp của những bậc chân tu, mời quý vị độc giả khám phá thêm trong chuyên mục Tiểu sử.
