Bắt đầu hành trình tìm hiểu về một bậc danh Tăng với những dấu ấn sâu đậm trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, chúng ta cùng khám phá cuộc đời và di sản của Hòa Thượng Thích Trí Quang. Từ thuở ấu thơ cho đến những năm tháng miệt mài tu học, Ngài đã để lại những đóng góp quan trọng, mà bạn có thể tìm hiểu thêm tại chiasedaophat.com.

SƠ LƯỢC TIỂU SỬ
ĐẠI LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH TRÍ QUANG
1/ Thân Thế
Đại Lão Hòa thượng Thích Trí Quang, thế danh Phạm Quang, sinh ngày 21 tháng 12 năm 1923 (Quý Hợi) tại làng Diêm Điền, tỉnh Quảng Bình. Ngài là con thứ tư trong gia đình có sáu người con. Song thân Ngài là ông Phạm Hồng Nhật và bà Nguyễn Thị Hồng Trí. Thân phụ của Ngài từng tham gia nghĩa quân Phan Đình Phùng tại Quảng Bình, sau đó xuất gia với Đại sư Đắc Quang, một vị Tăng Cang tại Chùa Linh Mụ, Huế.
2/ Quá Trình Tu Học
Năm 1938 (Mậu Dần), Ngài xuất gia với Đại sư Hồng Tuyên tại chùa Phổ Minh, Quảng Bình, thuộc Thiền phái Lâm Tế Thiên Đồng Đạo Mân. Từ năm 1939 đến 1944, Ngài theo học tại Trường An Nam Phật Học ở Huế, do Hội An Nam Phật Học thành lập. Ngôi trường này có chương trình đào tạo 10 năm, từ sơ đẳng đến siêu đẳng. Năm 1944, Ngài tốt nghiệp với thành tích xuất sắc, đạt điểm cao nhất.
3/ Thời Kỳ Hoằng Pháp và Hoạt Động Phật Giáo
Sau khi tốt nghiệp, Ngài phát nguyện thọ Sa Di giới và được Đại sư Trí Độ ban pháp hiệu là Trí Quang. Mùa hè cùng năm, Ngài được Bổn sư ban pháp tự Trí Hải và được cử làm Trú trì Chùa Phổ Minh.
Năm 1946 (Bính Tuất), Ngài thọ Tỷ Kheo giới với pháp hiệu Thiền Minh. Cùng năm, Ngài bắt đầu soạn thảo đề án thống nhất Phật Giáo Việt Nam. Ngài cùng Đại sư Trí Độ được mời ra miền Bắc để hỗ trợ thành lập Phật Học Viện tại Chùa Quán Sứ, Hà Nội, nhưng trường phải đóng cửa sau một tháng do chiến tranh.
Năm 1947, trở về Quảng Bình, Ngài thọ Bồ Tát giới. Sau đó, Ngài cùng dân làng sơ tán lên vùng kháng chiến. Tháng 10 cùng năm, vì mẹ bệnh nặng, Ngài xin về chăm sóc mẹ và tổ chức lễ mãn tang cho thân phụ.
Năm 1948 (Mậu Tý), Ngài vào Huế giảng dạy tại Phật Học Đường Báo Quốc. Năm 1949 (Kỷ Sửu), Ngài giữ chức vụ Hội Phó Hội Phật Học, cùng Hòa thượng Thích Đôn Hậu (Hội Trưởng).
Năm 1950 (Canh Dần), Ngài vào Sài Gòn vận động hợp nhất ba Phật Học Đường thành Phật Học Viện Nam Việt và thành lập Hội Phật Học Nam Việt. Về Huế, Ngài làm chủ bút tạp chí Viên Âm. Cuối năm 1950, Ngài chủ tọa phiên họp sơ bộ thành lập Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam, khởi đầu cho công cuộc vận động thống nhất Phật Giáo Việt Nam, có sự tác động từ “Hội Liên hữu Phật giáo Thế giới” (thành lập năm 1950 tại Tích Lan).
Năm 1952, Ngài tham dự Đại hội kỳ 2 của Hội Liên hữu Phật giáo Thế giới tại Tokyo, Nhật Bản. Năm 1953 (Quí Tỵ), Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam được chính quyền công nhận.
Năm 1955 (Ất Mùi), Ngài giữ chức vụ Hội Trưởng Tổng Trị Sự Hội Phật Học, vận động đổi tên gọi thành Phật Giáo và đưa Tổng Hội vào đặt trụ sở tại Sài Gòn. Sau một thời gian nghỉ việc, đến năm 1963, Ngài tiếp tục đảm nhận chức vụ này và lãnh đạo công cuộc đấu tranh đòi công bằng xã hội, bình đẳng tôn giáo dưới chế độ Ngô Đình Diệm.
Năm 1963, Ngài là một trong những nhân vật chủ chốt lãnh đạo phong trào đấu tranh bất bạo động chống lại chính sách kỳ thị, đàn áp Phật giáo. Cao điểm là mùa Phật Đản năm 1963, khi chính quyền ra lệnh triệt hạ cờ Phật Giáo. Sự kiện đau thương nhất là vụ thảm sát 8 Phật tử tại Đài Phát Thanh Huế vào đêm mùng 8 tháng 5 năm 1963, mà Ngài cùng Hòa thượng Mật Nguyện là nhân chứng. Trước tình hình đó, Ngài đã công bố Tuyên Ngôn 5 điểm, nhấn mạnh việc Phật Giáo chỉ phản đối chính sách ngược đãi, sử dụng phương pháp bất bạo động, không mưu cầu độc tôn, không hại ai, và kêu gọi lãnh đạo không khai thác cuộc vận động này.
Năm 1964, tại Đại hội Thống nhất Phật Giáo ở Sài Gòn, Ngài được bầu làm Chánh Thư Ký Viện Tăng Thống của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.
Năm 1966, Ngài bị bắt giam và quản thúc tại Sài Gòn. Ngài đã phản đối bằng hình thức tuyệt thực 100 ngày, tuyên bố: “chúng tôi nguyện đem xương máu để trang trải cho Phật Pháp và nếu chết là chết như cái chết của Chân Lý trước bạo lực, chứ không phải bạo lực này chết vì kém bạo lực khác”.
Sau Sắc Lệnh 23/67, Ngài trở về ẩn tu, tập trung vào việc phiên dịch kinh điển và hướng dẫn Tăng Ni tu học.
Từ năm 1975 đến 2012, Đại lão Hòa Thượng an trú tại Chùa Ấn Quang và Tu viện Quảng Hương Già Lam, dành thời gian cho việc tịnh tu, trước tác và biên dịch kinh điển.
Năm 2013, Ngài trở về thăm quê nhà Quảng Bình, sau đó quyết định lưu lại Tổ Đình Từ Đàm, Huế, tiếp tục công việc dịch thuật và chuyên tâm tu hành cho đến ngày viên tịch.
Đại lão Hòa thượng Thích Trí Quang đã thuận thế vô thường, an nhiên viên tịch tại Tổ Đình Từ Đàm, Huế vào lúc 21 giờ 45 phút ngày 8 tháng 11 năm 2019 (nhằm ngày 12 tháng 10 năm Kỷ Hợi), trụ thế 97 năm, 72 hạ lạp.
Theo thông báo của Tỳ kheo Thích Hải Ấn, Trụ trì Tổ Đình Từ Đàm, di huấn của Cố Hòa Thượng Trưởng Lão bao gồm các quy định về nghi thức liệm, tang lễ, hỏa táng, các lễ cúng tuần, chung thất, trăm ngày, tiểu tường, đại tường, cùng việc chỉ tụng một trong các kinh Địa Tạng, Kim Cương, Bồ Tát Giới, Pháp Hoa, Thủy Sám trong mỗi lễ, và không thông báo mời ai dự.
4/ Sự Nghiệp Phiên Dịch Kinh Điển
Trong suốt cuộc đời tu hành, Đại Lão Hòa thượng Thích Trí Quang đã dành nhiều tâm huyết cho việc phiên dịch, biên soạn và ấn hành kinh điển. Ngài từng chia sẻ rằng “Sự biên dịch Kinh Sách của tôi mới đích thực là thị hiếu và chí hướng bình sinh của đời tôi và là mong ước của Mẹ tôi”.
Các tác phẩm và dịch phẩm tiêu biểu của Ngài bao gồm:
- Kinh Tạng: Kinh Duy-ma, Kinh Vu Lan, Kinh Kim Cương, Kinh Ánh Sáng Hoàng Kim, Kinh Viên Giác, Kinh Giải Thâm Mật, Kinh Hoa Sen Chánh Pháp, Kinh Thắng Man, Thủy Sám, Lương Hoàng Sám, Dược Sư Kinh Sám, Kinh Địa Tạng, Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Ba Ngàn Danh Hiệu Phật.
- Luật Tạng: Bồ-tát giới Phạm võng, Tỳ-kheo giới, Tỳ-kheo-ni giới, Thức-xoa-ma-na-ni giới, Sa-di và Sa-di-ni giới, Quy Sơn Cảnh Sách.
- Luận Tạng: Luận Khởi Tín, Luận Đại Trượng Phu, Dị bộ tông luận, Luận Chỉ Quán, Nhiếp đại thừa luận.
- Các tác phẩm khác: Cao Tăng Pháp Hiển, Ngọn Lửa Quảng Đức, Người Xuất Gia, Vua Lương Võ Đế, Người Phật tử tại gia, Tâm Ảnh Lục.
Cuộc đời gần một thế kỷ của Đại Lão Hòa Thượng Thích Trí Quang là minh chứng cho sự nỗ lực không ngừng nghỉ trong công cuộc xiển dương đạo pháp. Ngài là tấm gương sáng về đạo hạnh và sự nghiệp hoằng hóa, để lại di sản quý báu soi đường cho Tăng Ni, Phật tử Việt Nam.
Nam Mô Tân Viên Tịch Tự Lâm Tế, Thiên Đồng Thiền Phái, Phổ Minh Môn Hạ, Nguyên Thiều Pháp Hệ, Tứ Thập Nhất Thế, Từ Đàm Đường Thượng, Việt Nam Phật Giáo Thống Nhất Giáo Hội, Nguyên Viện Tăng Thống Chánh Thư Ký, húy thượng Nhật hạ Quang, tự Trí Hải, hiệu Thiền Minh, đạo hiệu Trí Quang, Đại Lão Hòa Thượng Giác Linh thùy từ chứng giám.
Tỳ kheo Thích Nguyên Tạng
(Biên soạn theo “Trí Quang Tự Truyện” và các tài liệu khác)
Để hiểu rõ hơn về hành trình và những đóng góp vĩ đại của Hòa Thượng, mời quý độc giả khám phá chi tiết hơn tại chuyên mục Tiểu sử.
