Phật giáo Việt Nam, với lịch sử hai nghìn năm đồng hành cùng dân tộc, luôn giữ vững sứ mệnh hoằng dương chánh pháp và đóng góp vào sự phát triển đất nước. Khi bước vào kỷ nguyên hiện đại, sự chuyển mình của Phật giáo đã tạo nên những tổ chức giáo hội, mở rộng phạm vi hoạt động ra nhiều lĩnh vực xã hội, đối mặt với những thách thức và nghịch cảnh mới. Trong bối cảnh đó, Hòa thượng Thích Trí Quang nổi lên như một nhân vật trung tâm của nhiều tranh luận, với vô số nghiên cứu và ý kiến trái chiều xoay quanh cuộc đời và tư tưởng của ngài. Khám phá về Hòa thượng Thích Trí Quang không chỉ là hành trình tìm hiểu về một nhân vật lịch sử mà còn là cơ hội để hiểu sâu hơn về những biến động và đóng góp của Phật giáo Việt Nam trong giai đoạn hiện đại. Truy cập chiasedaophat.com để tìm hiểu thêm.
LỜI DẪN
Phật giáo Việt Nam đã có mối gắn kết sâu sắc với dân tộc và đất nước trong suốt hơn hai nghìn năm lịch sử. Dù trải qua nhiều thăng trầm, Phật giáo Việt Nam chưa bao giờ từ bỏ sứ mệnh hoằng dương Chánh Pháp, cứu khổ chúng sinh, đồng thời đóng góp vào công cuộc giữ gìn và phát triển đất nước.
Từ đầu thế kỷ 20, Phật giáo Việt Nam đã cùng dân tộc bước vào giai đoạn hiện đại hóa, hội nhập với xu thế tiến bộ của thế giới. Sự chuyển mình này đã hình thành nên các tổ chức Giáo hội, mở rộng phạm vi hoạt động ra nhiều lĩnh vực xã hội, không còn bó hẹp trong thiền môn hay nội bộ Tăng già. Đây vừa là sự đáp ứng nhu cầu thời đại, vừa là thách thức đối với truyền thống tâm linh lâu đời, cũng như đối mặt với những nghịch cảnh từ bên trong lẫn bên ngoài.
Trong bối cảnh đó, không ít nhà lãnh đạo Phật giáo Việt Nam đã phải đối mặt với những sóng gió. Hòa thượng Thích Trí Quang là một trong những nhân vật chịu nhiều tranh luận nhất. Hàng thập kỷ qua, vô số bài viết, nghiên cứu đã xoay quanh ngài với nhiều luồng ý kiến trái chiều. Thậm chí, có những âm mưu lợi dụng câu chuyện về Hòa thượng để xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ Phật giáo Việt Nam. Nhận thức rõ nguy cơ này, dù không mong muốn, Hòa thượng Thích Trí Quang đã viết tự truyện để làm sáng tỏ sự thật lịch sử.
Bài viết này, sau khi đọc “Tự Truyện” của Hòa thượng Thích Trí Quang, xin chia sẻ đôi điều suy ngẫm về ngài và một chặng đường lịch sử của Phật giáo Việt Nam.
“Tự Truyện” được xuất bản trong nước vào cuối năm 2011, dày 220 trang, với bìa đen trắng giản dị. Điểm đặc biệt của tác phẩm là Hòa thượng Thích Trí Quang đã chia sẻ nhiều thông tin về bản thân, về lịch sử đất nước và Phật giáo Việt Nam mà trước nay ít người biết đến. Bài viết này sẽ tập trung vào những điểm mới mẻ và đáng chú ý này.
BIẾT NGƯỜI, BIẾT MÌNH
Trong giai đoạn 1940-1944, khi cuộc kháng chiến chống Pháp mới bắt đầu, Hòa thượng Thích Trí Quang đã nhận định về thời cuộc trong “Tự Truyện”: “Tôi khẳng định vị trí ‘Tăng sĩ Phật giáo’ của tôi. Nhưng tôi suy nghĩ sự đô hộ của người Pháp.” Ngài cũng ghi lại ấn tượng khi đọc “bản tường trình sự cần thiết thành lập Mặt trận Việt minh của Trường Chinh”, đặc biệt là quan điểm “giải phóng dân tộc”, bởi ngài hiểu rằng mục tiêu này sẽ không dừng lại ở đó.
Đoạn trích trên cho thấy ba điểm quan trọng:
1. Hòa thượng Thích Trí Quang nhận thức rõ ràng về thân phận và sứ mệnh của mình là một Tăng sĩ Phật giáo, đồng thời khẳng định lý tưởng tu hành, giác ngộ, giải thoát và nhiệm vụ hoằng dương Phật pháp. Sự nhận thức này giúp ngài giữ vững phương hướng tu tập và hoằng hóa.
2. Hòa thượng nhận thức sâu sắc về nguy cơ xâm lược của thực dân Pháp và nguy cơ mất nước, do đó đã tham gia kháng chiến. Đây là trách nhiệm thiêng liêng của một công dân trước vận mệnh đất nước. Phê phán hành động này đồng nghĩa với việc phủ nhận bổn phận của người dân khi Tổ quốc lâm nguy.
3. Hòa thượng Thích Trí Quang dự đoán được rằng phong trào Việt Minh sẽ vượt ra ngoài mục tiêu “giải phóng dân tộc”. Ngài nhận thức rõ về việc thực thi chủ nghĩa Cộng sản tại Việt Nam sau này. Chính vì vậy, ngài đã quyết định rời kháng chiến để trở về chùa, tiếp tục sứ mệnh của một Tăng sĩ Phật giáo.
Trước ngày 1 tháng 11 năm 1963, thời điểm xảy ra cuộc đảo chính lật đổ chế độ Tổng thống Ngô Đình Diệm, khi đang tị nạn tại Tòa Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn, Hòa thượng Thích Trí Quang đã dự đoán trước khả năng xảy ra đảo chính. Ngài bày tỏ sự lo ngại trong “Tự Truyện”: “…khi đoán chắc sẽ có đảo chánh, tôi lại lo như tình trạng Hàn Quốc: Lý thừa Vãn đổ rồi, đảo chánh hoài. Như thế thì làm được cái gì. Ông Diệm bị đảo chánh rồi, tôi cáo từ ra về, người Mỹ nói, nếu có thể, tôi nên góp ý kiến với chế độ mới, tôi nói, nhưng không nên đảo chánh nữa. Người Mỹ không nói gì hết.”
Trích đoạn này cho thấy Hòa thượng Thích Trí Quang không ủng hộ việc đảo chính, bởi điều đó có thể đẩy đất nước vào những biến động, các cuộc đảo chính liên tiếp, gây khủng hoảng và làm suy yếu khối đoàn kết dân tộc, cản trở công cuộc xây dựng và phát triển quốc gia.
LẬP TRƯỜNG ĐẤU TRANH
Điều này cho thấy bản thân Hòa thượng, cũng như Phật giáo nói chung, không chủ trương đảo chính lật đổ chế độ. “Tự Truyện” ghi lại sự kiện bác sĩ Lê Khắc Quyến được Tổng thống Ngô Đình Diệm mời gặp tại Sài Gòn. Trước khi đi, bác sĩ Quyến đã đến gặp Hòa thượng Thích Trí Quang để hỏi ý kiến. Hòa thượng đã nhắn gửi: “Ông hỏi tôi muốn ông nói gì, tôi nói, xin nói rất thật thâm tâm của tôi. Tôi không mưu đồ gì cả, chỉ phản ứng vì hết mức chịu đựng sự xúc phạm quá đáng đến đức Phật và Phật giáo của tôi, mà thôi. Vấn đề như vậy quá dễ giải quyết cho Tổng thống chứ không thương tổn gì.”
Trong một đoạn khác của “Tự Truyện”, Hòa thượng Thích Trí Quang đã trình bày 5 nguyện vọng của Phật giáo trong cuộc đấu tranh năm 1963, được hoạch định ngay từ đầu:
“Một, Phật giáo tự giới hạn, chỉ phản đối chính sách ngược đãi Phật giáo của chính phủ. Phật giáo không bước qua những địa hạt khác, nhất là địa hạt quyền chức chính quyền.
Hai, tuyệt đối sử dụng phương cách ‘bất bạo động.’
Ba, Phật giáo không mưu độc tôn, không cầu đặc tôn, nên không thấy ai, kể cả Tcg, là đối nghịch.
Bốn, Phật giáo không mưu hại ai, không thiên ai để hại ai. Nếu thất bại, Phật giáo coi là sự thất bại của chân lý trước bạo lực, không phải thất bại như bạo lực kém bạo lực.
Năm, sau hết, nhưng quan trọng nhất, là Phật giáo thỉnh cầu các bậc lãnh đạo 2 thực thể đối trận, đừng khai thác gì về cuộc vận động của Phật giáo. Vì làm như vậy thì đối phương quý vị lấy cớ để hại Phật giáo mà thôi.”
Hai trích đoạn trên làm nổi bật một số điểm đáng chú ý:
1. Cuộc đấu tranh của Phật giáo năm 1963 xuất phát từ việc không thể “chịu đựng sự xúc phạm quá đáng đến đức Phật và Phật giáo” của chính quyền Ngô Đình Diệm. Các hành vi như cấm treo cờ Phật giáo, thủ tiêu, đàn áp Tăng Ni, cư sĩ Phật tử trên khắp miền Nam từ năm 1951 đã khiến Phật giáo phải lên tiếng đòi quyền bình đẳng tôn giáo. “Tự Truyện” ghi lại: “Năm ngoái, 2495 (1951), khi vào họp Đại hội, hòa thượng Tâm châu có đưa cho tôi 2 tài liệu bằng hình ảnh. Tài liệu 1 là thư tuyệt mệnh của 1 gia đình nếu tôi nhớ không lầm là 7 người, đau lòng vì tín ngưỡng của mình bị kỳ thị, và gia đình mình bị bức tử. Tài liệu 2 là 3 ngôi chùa mái cổ có mặt nhật bị đập, và thay vào là hình chữ thập. Các vị ni sư bị mặc áo mão bà sơ.”
2. Ngay từ đầu, cuộc đấu tranh năm 1963 đã được khẳng định là bất bạo động, không sử dụng phương thức bạo lực để đòi quyền bình đẳng tôn giáo. Trong bối cảnh Tuyên ngôn Nhân quyền của Liên Hợp Quốc được công bố năm 1948, việc tôn trọng quyền bình đẳng tôn giáo và quyền con người là tất yếu. Hòa thượng Thích Trí Quang đã kể lại trong “Tự Truyện”: “Bắt đầu việc gửi điệp văn đến LHQ, mật và gấp. Nội dung tôi nói Nam Việt nam “vi phạm nhân quyền.” Sự vi phạm ấy gồm có xúc phạm Phật đản 2507, triệt cờ Phật giáo Thế giới, khủng bố trắng Phật tử bất bạo động bằng chiến xa. Thỉnh cầu ngài Tổng thư ký LHQ tra xét và bảo vệ “hiến chương nhân quyền.”
3. Cuộc đấu tranh năm 1963 không có mục đích chính trị, không mưu đồ độc tôn hay chống lại tôn giáo khác. Chính vì vậy, Phật giáo và cá nhân Hòa thượng Thích Trí Quang không hề có ý định can thiệp vào chính trị thế quyền. Tuy nhiên, điều này lại khiến các thế lực chính trị xem Phật giáo là mối đe dọa cần loại bỏ. Việc xác định lập trường vượt lên trên đảng phái, khuynh hướng chính trị và chủ nghĩa là phù hợp với con đường tâm linh, dẫn dắt con người đến giác ngộ và giải thoát. Chính nhờ vị thế này, đạo Phật đã ăn sâu vào lòng người, tồn tại và phát triển ở mọi quốc gia, mọi thời đại.
Nếu Phật giáo chọn đứng chung hàng ngũ với các thể chế chính trị, các chế độ chính quyền hay các chủ nghĩa thế tục, có thể sẽ bị cuốn vào vòng xoáy, trở thành thế lực chống lại dân tộc và gây hại cho quốc gia.
4. Nguyện vọng thứ năm của Phật giáo thể hiện tầm nhìn xa trông rộng của các nhà lãnh đạo. Lời thỉnh cầu “các bậc lãnh đạo 2 thực thể đối trận, đừng khai thác gì về cuộc vận động của Phật giáo. Vì làm như vậy thì đối phương quý vị lấy cớ để hại Phật giáo mà thôi” đã cho thấy sự dự liệu chính xác về hậu quả. Quả thực, cuộc vận động đòi quyền bình đẳng tôn giáo đã bị các thế lực chính quyền ở hai miền Nam Bắc lợi dụng, gây ra những tổn thất nặng nề cho Phật giáo Việt Nam. Đến nay, gần 50 năm sau, di chứng vẫn còn đó: chế độ Quốc gia ở Miền Nam chụp mũ Phật giáo là Cộng sản, trong khi chế độ Cộng sản ở Miền Bắc lại gán cho Phật giáo các mác như CIA, “tay sai của Mỹ Ngụy”, “Phật giáo phản động”, v.v.
THEO AI?
Vậy đâu là sự thật? Hòa thượng Thích Trí Quang là người của CIA, là người quốc gia chống Cộng sản, hay là người của Cộng sản chống Mỹ, chống Quốc gia?
Trong tác phẩm “Only Religions Count in Vietnam: Thich Tri Quang and the Vietnam War” (Chỉ Có Tôn Giáo Là Đáng Kể Tại Việt Nam: Thích Trí Quang và Chiến Tranh Việt Nam), giáo sư James McAllister, một nhà nghiên cứu chuyên về Phật giáo Việt Nam, đã khẳng định sau khi nghiên cứu nhiều tài liệu, bao gồm cả tài liệu của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ: “Tuy nhiên, như chính Moyar cũng nhìn nhận, các quan chức của chính phủ Mỹ, những người có đủ mọi lý do tự lợi (self-interested) để kết luận Trí Quang là Cộng sản, lại trước sau như một đã bác bỏ cách đánh giá này. Như các nhà phân tích của CIA đã kết luận tháng Chín 1964: “Không một ai trong số nhiều người Việt thù ghét Trí Quang, những kẻ chỉ chờ cơ hội để bôi nhọ ông, hay thậm chí những kẻ hoài nghi về động lực chính trị của ông, có thể đưa ra bằng chứng vững chắc về bất cứ liên kết nào hiện có giữa ông và Cộng sản.”
Hòa thượng Thích Trí Quang viết trong “Tự Truyện”: “Nhưng rồi tôi chữa lửa mà bị cho là đốt nhà. Bao nhiêu chuyện xảy ra, ở Huế cũng như ở Sàigòn, do các ông Tướng ai cũng thấy mình có thể làm nên chuyện. Quần chúng Phật giáo bị cuốn hút là vì cái tính “giữa đường thấy chuyện bất bình mà tha,” nên bị lợi dụng có khi thật phiền.” Ngài cũng chia sẻ: “Bằng cái gọi là Quốc hội lập hiến, tôi mong quần chúng có cơ cấu sinh hoạt chính trị, Phật giáo có thể rút mình ra.” Và: “Nhưng thực sự có 3 bên không muốn tôi sống. Họ muốn Phật giáo không còn là mối bận tâm cho họ nữa.” Ở đoạn cuối “Tự Truyện”, Hòa thượng Thích Trí Quang viết: “Rốt cuộc, tôi không biết gì, không có ý định gì cả, nên cuộc đời tôi ‘không vẫn hoàn không,’ không có gì đáng nhớ, đáng nói. Ngay như sự tự truyện này, vì không thể không có nên phải viết và phải in, mà thôi. ‘Không vẫn hoàn không’ là Phật cho, tôi mới được như vậy.”
Trong những đoạn trích dẫn trên, cần lưu ý câu nói: “Nhưng thực sự có 3 bên không muốn tôi sống. Họ muốn Phật giáo không còn là mối bận tâm cho họ nữa.” Ba bên này, theo người quan tâm đến tình hình Việt Nam thời bấy giờ, chính là Mỹ, Chính quyền Miền Nam và Cộng sản. Điều này cho thấy Hòa thượng Thích Trí Quang không đứng về bên nào, và vì thế, phải gánh chịu sự chống phá, kết án từ cả ba phía.
Những ai không thấu triệt giáo nghĩa “Không” của nhà Phật sẽ khó lòng hiểu được ý nghĩa sâu sắc trong câu nói cuối của Hòa thượng: “’Không vẫn hoàn không’ là Phật cho, tôi mới được như vậy.”
Tại sao “Không” lại được Hòa thượng xem là điều quý giá nhất?
Mục tiêu tối thượng của người tu sĩ Phật giáo hay người con Phật không phải là danh vọng, quyền hành, chức tước, của cải vật chất, mà là khả năng buông xả mọi thứ, không nắm bắt, không chấp trước, không bị trói buộc. Đó là sự giác ngộ bản chất “vô sở đắc”, “thật tánh không” của vạn pháp, và giải thoát mọi phiền não.
Với sự thực chứng này, không một thế lực chính trị, thể chế chính quyền hay chủ nghĩa nào có thể trói buộc được người con Phật chân chính. Hòa thượng Thích Trí Quang, trong ý nghĩa đó, chỉ đơn giản là một Tăng sĩ Phật giáo Việt Nam. Tuy nhiên, hoàn cảnh đất nước nghiêng ngả, Phật giáo bị kỳ thị, đàn áp đã thôi thúc ngài cùng các nhà lãnh đạo Phật giáo dấn thân, chèo lái con thuyền đạo pháp vượt qua bão táp pháp nạn và quốc nạn.
Như vậy, có thể thấy Hòa thượng Thích Trí Quang và những nhà lãnh đạo Phật giáo Việt Nam chỉ đi theo Phật.
ƯỚC NGUYỆN BÌNH SINH VÀ NỖI OAN KHÓ NÓI
Dù là nhà lãnh đạo có thẩm quyền, Hòa thượng Thích Trí Quang không thể kiểm soát hết mọi việc. Như ngài đã viết trong “Tự Truyện”: “Nhưng rồi tôi chữa lửa mà bị cho là đốt nhà. Bao nhiêu chuyện xảy ra, ở Huế cũng như ở Sàigòn, do các ông Tướng ai cũng thấy mình có thể làm nên chuyện. Quần chúng Phật giáo bị cuốn hút là vì cái tính “giữa đường thấy chuyện bất bình mà tha,” nên bị lợi dụng có khi thật phiền.”
Một trong những phiền phức mà Hòa thượng ghi lại trong “Tự Truyện” là sự việc đưa bàn thờ Phật ra đường trong biến cố xảy ra tại miền Trung năm 1966. Ngài kể: “Một đoàn chiến xa và thiết giáp khá hùng hậu, được điều động từ Quảng trị vào Huế. Khi sắp qua cầu An hòa, viên sĩ quan chỉ huy ra lịnh ngừng lại để anh đi thám sát đã. Anh đến chùa của khuôn hội Phật giáo Phú thạnh, miệng hét, tay làm, hối thúc Phật tử khuôn hội, có anh phụ lực, khiêng bàn Phật ra đặt giữa đường, lại thúc hối tư gia Phật tử làm theo. Viên sĩ quan quay lại, báo cáo đường bị cản trở. Rồi đợi lịnh. Nhưng bàn Phật được đưa ra càng nhiều. Khuôn hội Phú thạnh đã chạy vào Diệu đế thông báo cho tôi và hỏi ý kiến. Tôi hỏi Ôông (Ôn) Thiện siêu đang có mặt. Ôông nói, ‘thụ động chứ biết làm sao.’ Thực tế tôi cũng không thể bảo ngưng được nữa. Bàn Phật đã có sau trong thành phố rồi. Chưa bao giờ, mà bây giờ, tôi phải xúc phạm sự tôn nghiêm đến mức này!”
Đây là hệ quả tất yếu khi một phong trào lan rộng ra quần chúng, vượt khỏi tầm kiểm soát của lãnh đạo. Chính nhược điểm này đã khiến Phật giáo Việt Nam liên tục bị lợi dụng, chụp mũ và kết án.
Vậy, trong tận cùng con người mình, đâu là ước nguyện bình sinh của Hòa thượng Thích Trí Quang?
Hòa thượng viết trong phần đầu “Tự Truyện”: “Dầu chưa phải lúc, ở đây vẫn nên nói rõ về sự biên dịch kinh sách Phật giáo của tôi. Vì điều này mới đích thực là thị hiếu và chí hướng bình sinh của đời tôi, là lòng mong ước của mẹ tôi. Nên, dầu cơ hội có chùa lớn và đệ tử nhiều, tôi có không ít, nhưng tôi khước từ không đắn đo. Chỉ tạm trú hết Từ đàm thì Ấn quang, thì Gìa lam, ở đâu, đầu óc tôi chỉ nghĩ đến, ngay trong lúc ăn, phải dịch chữ này, câu kia, đoạn nọ, sao cho đúng ý và nghe được. Tôi không dạy học, vì không thích bằng sự biên dịch. Khởi sự hơn 1 năm trước ngày tốt nghiệp, tôi đã chuẩn bị đầy đủ để biên tập “Từ điển Phật học” và biên dịch “Đại tạng kinh.” Nhưng công việc lúc đó, công việc góp sức “Vận động thống nhất Phật giáo VN” khiến tôi xếp cất lại chí nguyện của mình.”
“Vận động thống nhất Phật giáo Việt Nam” mà Hòa thượng đề cập là sự thành lập Tổng Hội Phật giáo Việt Nam năm 1951 và Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất năm 1964.
KẾT LUẬN
Thuở xưa, Đức Phật biết Ngài có thể làm Chuyển Luân Thánh Vương để an bang tế thế bằng vương đạo, nhưng Ngài đã không làm. Lý do là vì Ngài thấu triệt rằng khổ đau sinh, lão, bệnh, tử và vô vàn phiền não tham sân si mà chúng sinh gánh chịu không thể được chữa trị tận gốc bởi quyền lực thế gian, mà chỉ có bậc Giác Ngộ Viên Mãn mới làm được. Đức Phật cũng ý thức rằng dính líu đến chính trị sẽ mang lại phiền phức, nên Ngài chỉ khất thực để sinh sống và ngủ dưới gốc cây, không can dự vào việc triều chính.
Các nhà lãnh đạo Phật giáo Việt Nam thời cận đại, bao gồm cả Hòa thượng Thích Trí Quang, cũng ý thức rõ về những hệ lụy thế tục. Tuy nhiên, việc họ tham gia vào công cuộc vận động đòi bình đẳng tôn giáo và nhân quyền, có liên hệ đến chính trị ở một chừng mực nhất định, là vì không thể quay lưng với bổn phận và trách nhiệm đối với đạo pháp và dân tộc. Đó chính là hạnh nguyện dấn thân và hy hiến vì đạo của Bồ tát. Nếu không có những tấm gương hy sinh cao cả như Thiền sư Pháp Thuận, Thiền sư Vạn Hạnh, Phật Hoàng Trần Nhân Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ, Bồ tát Thích Quảng Đức, v.v., Phật giáo Việt Nam hơn hai nghìn năm qua đã không có được những trang sử huy hoàng.
Riêng đối với trường hợp Hòa thượng Thích Trí Quang, người viết bài này đặc biệt tâm đắc với câu nói cuối cùng trong “Tự Truyện” của ngài: “Rốt cuộc, tôi không biết gì, không có ý định gì cả, nên cuộc đời tôi ‘không vẫn hoàn không,’ không có gì đáng nhớ, đáng nói… ‘Không vẫn hoàn không’ là Phật cho, tôi mới được như vậy.”
Nếu không phải suốt đời hành đạo bằng tâm Phật, thì đến năm 89 tuổi (năm 2011), Hòa thượng Thích Trí Quang khó lòng cảm nhận được ân đức lớn lao như vậy từ nơi Phật.
Đó chính là sự khác biệt giữa người thế gian chỉ muốn nhận mà không dám cho, với người tăng sĩ Phật giáo làm bao nhiêu việc cho đời, cho đạo mà không thấy đó là việc làm hay ai làm. Giác ngộ và giải thoát nằm ở đây.
Để hiểu rõ hơn về cuộc đời và sự nghiệp của những nhân vật quan trọng đã định hình Phật giáo Việt Nam, hãy khám phá thêm trong chuyên mục Tiểu sử.
