Hòa thượng Thích Trí Tịnh: Tiểu sử và Di sản

HTTri Tinh
× 🎁 Ưu đãi Shopee hôm nay – Nhấn nhận ngay!
🔥 Ưu đãi Shopee - Bấm để xem ngay!
0
(0)

Từ một cậu bé sớm mồ côi cha mẹ tại vùng đất Đồng Tháp, Nguyễn Văn Bình đã sớm bộc lộ trí tuệ và sự nhạy bén. Hành trình tìm kiếm chân lý đã dẫn dắt Ngài qua nhiều nguồn tư tưởng, nhưng chỉ có giáo lý của đạo Phật mới thực sự lay động và định hình con đường tâm linh của Ngài. Hãy cùng khám phá cuộc đời và di sản vĩ đại của Hòa thượng Thích Trí Tịnh, một bậc thầy đã cống hiến trọn đời cho đạo pháp, tại chiasedaophat.com.

HTTri Tinh

Tiểu sử
HÒA THƯỢNG THÍCH TRÍ TỊNH

(1917 – 2014)

Hòa thượng Thích Trí Tịnh, thế danh Nguyễn Văn Bình, sinh ngày 17 tháng 10 năm 1917 (nhằm ngày 02 tháng 09 năm Đinh Tỵ) tại xã Mỹ An Hưng, huyện Châu Thành, tỉnh Sa Đéc (nay thuộc Đồng Tháp). Ngài là con út trong một gia đình có sáu anh chị em. Thân phụ là ông Nguyễn Văn Cân, một nông dân chất phác, đã qua đời khi Ngài mới lên ba tuổi. Thân mẫu là bà Nguyễn Thị Truyện, mất khi Ngài lên bảy tuổi. Mồ côi cha mẹ sớm, Ngài được người anh thứ ba là ông Nguyễn Văn Đặng nuôi dưỡng.

Năm 10 tuổi, Hòa thượng bắt đầu đi học lớp năm và thể hiện sự thông minh vượt trội. Ngài vừa học vừa dạy lại các bạn nhỏ, ban đêm còn đọc truyện Tàu cho mọi người nghe. Đến năm 15 tuổi, Ngài học hết lớp đệ thất, sau đó theo học chữ Nho với người chú và học thuốc Bắc với người anh họ.

Chứng kiến những bất hòa trong gia đình, Hòa thượng dần nảy sinh ý định xuất ly thế tục. Ngài bắt đầu tìm hiểu về các tôn giáo như Thiên Chúa, Cao Đài, Thông Thiên Học và đặc biệt quan tâm đến Phật giáo. Tuy nhiên, những giáo lý của các tôn giáo khác chưa làm Ngài thỏa mãn. Từ đó, Ngài âm thầm tập niệm Phật, trì chú và quán tưởng lòng từ bi. Khi đến các ngôi chùa, Ngài nhận thấy nhiều nơi còn nặng về hình thức cúng bái, đồ mã, khiến Ngài không có nhiều thiện cảm. Ngài tin rằng những bậc cao Tăng chân tu có lẽ đang ẩn dật nơi núi cao, rừng thẳm.

Năm 18 tuổi, Hòa thượng bắt đầu ăn chay trường. Một điềm chiêm bao đã thôi thúc Ngài tìm thầy học đạo, với lời nhắn nhủ: “Con có căn tu, phải cần tìm thầy học đạo thì sẽ được như trong sách ước. Chừng nào cọp chết, rắn mới về non” (Ngài sinh năm tuổi Tỵ).

Năm 1937, khi tròn 21 tuổi, Hòa thượng cùng một người bạn lên Sài Gòn lập nghiệp. Một sự kiện trùng hợp với điềm chiêm bao xảy ra khi con cọp mà người bạn nuôi bỗng nhiên chết. Ngay lúc đó, Hòa thượng đã thu xếp mọi việc để tìm đường xuất gia. Trước đó, Ngài còn chần chừ vì người chị thứ sáu chưa lập gia đình. Nay chị đã yên bề gia thất, Ngài yên tâm ra đi, để lại cho các anh chị mỗi người một lá thư và một tấm hình.

Xem thêm: Đại lão Thích Trí Quang và hành trình “khai sinh lần thứ hai”: Cái nhìn sâu sắc của Cao Huy Thuần

Hành trình xuất gia và tu học

Hòa thượng quyết định đi thẳng lên núi Cấm, nơi Ngài từng nghe danh có nhiều vị chân tu. Vừa đặt chân đến chân núi, Ngài vui mừng đến nỗi quăng cả giày dép, nhảy từ tảng đá này sang tảng đá khác. Ngài nguyện sẽ xuất gia ở ngôi chùa nào Ngài ghé lại đầu tiên, dù chưa biết tên hay trụ trì là ai. Định mệnh đã đưa Ngài đến chùa Vạn Linh, một ngôi chùa nằm xa và cao nhất trên núi. Tại đây, Ngài xin xuất gia. Hòa thượng trụ trì lúc bấy giờ đang ở thất riêng ngoài bìa rừng, chỉ vào chùa khi có việc cần dạy bảo Tăng chúng. Vào tối ngày 14 tháng 02 năm Đinh Sửu, ngày Sám hối giữa tháng, sau giờ Sám hối, chúng Tăng vào thưa chuyện. Hòa thượng trụ trì nhìn Ngài hồi lâu rồi nói với đại chúng: “Bay đừng khinh thường thằng này. Đời trước nó đã làm Hòa thượng, đời nay nó cũng làm Hòa thượng, nhưng vì có tội hay nhìn con gái nên đời này bị bệnh mắt suốt đời.” Thế là ngày hôm sau, Hòa thượng được thế phát vào ngày vía Phật nhập Niết bàn.

Sau khi xuất gia, Hòa thượng đảm nhận việc viết sớ điệp và được cho ở một cái thất nhỏ trong vườn chùa. Ngoài thời khóa trong chùa, Ngài còn ra thất tụng kinh và làm bổn phận hết sức cần mẫn, thậm chí hành trì khổ hạnh như nhịn ăn, ít ngủ, đến mức Hòa thượng trụ trì phải cảnh cáo. Có lần, vì quá chú tâm vào việc tu tập, Ngài đã đánh rơi cả chén cơm lúc đang ăn.

Nhận được tạp chí Từ Bi Âm, Hòa thượng phát khởi nguyện vọng học rộng Phật Pháp. Cuối năm 1939, Ngài xin phép Hòa thượng trụ trì xuống núi về Sài Gòn để tìm học kinh luật.

Hành trình học đạo và hoằng pháp

Trở về Sài Gòn, Hòa thượng cùng thầy Thiện Phước lên núi Thị Vải tìm nơi thích hợp để cất thất. Tuy nhiên, do địa hình hiểm trở và khí hậu khắc nghiệt, cả hai đều mắc bệnh sốt rét nặng. Thầy Thiện Phước đã viên tịch, còn Hòa thượng sau đó về Sài Gòn tá túc tại chùa Tịnh Độ, Gò Vấp và điều trị tại bệnh viện. Dù bệnh tình không thuyên giảm, Ngài vẫn tự nguyện tâm niệm: “Có chết như huynh Thiện Phước cũng chẳng sao”. Ngài dồn hết tâm sức vào việc tả kinh Pháp Hoa. Một Phật tử cảm động trước tâm nguyện của Ngài đã giúp đỡ tìm mua giấy mực. Sau khi hoàn thành bộ kinh, Ngài được một vị Phật tử giới thiệu phương pháp chữa bệnh sốt rét hiệu quả, và căn bệnh nhờ đó mà dứt hẳn.

Sau khi khỏi bệnh, Hòa thượng ở lại chùa một thời gian ngắn. Sau đó, nghe theo lời khuyên của người em họ đã xuất gia, Pháp danh Diệu Trí, về việc nên tìm học kinh điển, Hòa thượng đã nảy ý định ra Huế để theo học tại trường An Nam Phật Học. Đầu năm 1940, Ngài trở về quê xin giấy phép nhưng không được chấp thuận. Không nản lòng, Ngài lên Sài Gòn tìm cơ hội. Nhờ sự giúp đỡ về lộ phí từ một thí chủ, Ngài bắt đầu hành trình ra Huế.

Hành trình đến Huế gặp nhiều khó khăn do quy định của chính quyền lúc bấy giờ. Ngài phải đi từng chặng, dừng chân tại các ngôi chùa trên đường đi. Tại chùa Bình Quang, Phan Thiết, Ngài gặp một vị Ni trụ trì và được khuyên nên mặc áo dài khi ăn cơm. Dù không có sẵn, Ngài vẫn giữ thái độ khiêm cung. Sau đó, Ngài tiếp tục đến Bình Định, gặp Hòa thượng trụ trì chùa Liên Tôn, cũng là Phó chủ bút báo Từ Bi Âm. Tại đây, Ngài được học hỏi và giúp đỡ tài liệu để nghiên cứu kinh điển Hán Tạng. Theo lời khuyên của cô Diệu Trí, Ngài tiếp tục lên đường ra Huế vào tháng 08 năm 1940.

Khám phá: Hòa thượng Thích Tố Liên: Vị La Hán Giữ Gìn Đạo Pháp, Kiến Tạo Di Sản Hào Hùng

Tại Huế, Ngài đến chùa Tây Thiên và gặp gỡ các bậc cao Tăng như Hòa thượng Thiện Hòa, Thiện Hoa. Tại đây, Ngài được học kinh Lăng Nghiêm và thể hiện khả năng giảng giải sâu sắc. Theo lời đề nghị của thầy Giác Tâm, Ngài đã đến trường An Nam Phật Học để theo học và nhận được học bổng.

Trong quá trình học tập, dù gặp khó khăn với môn Duy Thức, Ngài đã nỗ lực nghiên cứu và đạt kết quả cao, được các giáo sư chú ý. Năm 1941, Ngài thọ giới Sa-di tại Huế, sau đó tiếp tục học lên Trung đẳng và tốt nghiệp Cao đẳng vào năm 1945. Trong thời gian này, Ngài được cử làm Giám viện Quản đốc trường An Nam Phật Học khi trường dời về Tòng Lâm Kim Sơn.

Năm 1945, do nạn đói và tình hình xã hội bất ổn, trường An Nam Phật Học quyết định chuyển học Tăng Sơ đẳng và Trung đẳng vào Nam. Hòa thượng được giao nhiệm vụ quản lý đoàn học Tăng này. Sau đó, Ngài cùng các vị cao Tăng khác đã lần lượt thành lập các trường Phật học như Phật Học Phật Quang (Cần Thơ), Liên Hải Phật Học Trường (Chợ Lớn), quy tụ đông đảo Tăng Ni sinh từ khắp nơi về tu học.

Năm 1950, Hòa thượng phải tạm nghỉ để dưỡng bệnh tại chùa Linh Sơn, Vũng Tàu và giao lại trường cho Hòa thượng Thiện Hoa quản lý. Năm 1951, Ngài được thỉnh làm trụ trì chùa Linh Sơn và giao toàn quyền quản lý.

Tìm hiểu thêm: Hòa thượng Thích Hạnh Tuấn: Chân tu ưu tú và Di sản Tinh thần

Đóng góp cho Giáo hội và sự nghiệp hoằng pháp

Năm 1952, khi Giáo hội Tăng Già Nam Việt được thành lập, Hòa thượng được mời giữ chức Trưởng Ban Giáo Dục và Trưởng Ban Giám Luật. Sau đó, với sự thành lập Giáo hội Tăng Già toàn quốc, Ngài tiếp tục đảm nhận nhiều trọng trách quan trọng.

Với hoài bão truyền bá chánh pháp, kiến tạo Già Lam, Hòa thượng đã khai sơn tạo dựng chùa Vạn Đức tại ấp Bình Đức, xã Tâm Bình, quận Thủ Đức, TPHCM. Nơi đây dần trở thành một đạo tràng lớn, thu hút đông đảo Tăng Ni và Phật tử.

Năm 1955, với chí nguyện hoằng dương Tịnh Độ, hướng dẫn chúng sanh đời mạt pháp, Hòa thượng thành lập Cực Lạc Liên Hữu, khuyến tấn mọi người niệm Phật cầu vãng sanh Tịnh Độ. Ngài được xem là vị Tổ Sư chấn hưng Tịnh Tông trong Phật giáo Việt Nam.

Hòa thượng là một dịch giả uyên bác, tinh tường y dược Đông Phương và thấu hiểu kinh điển Đại thừa. Các bản dịch của Ngài luôn đề cao tính chính xác, rõ ràng, dễ hiểu, giúp người đọc thấm nhuần ý chỉ của kinh điển. Các tác phẩm dịch thuật tiêu biểu của Ngài bao gồm kinh Pháp Hoa, kinh Tam Bảo, Địa Tạng, Bồ Tát giới, kinh Hoa Nghiêm, kinh Đại Bát Niết Bàn, Đại Bát Nhã, Đại Bảo Tích, Văn Thù Vấn Bát Nhã, Vô Tận Ý Bồ Tát, Thập Lục Quán Kinh và bộ Đường Về Cực Lạc.

Trong sự nghiệp hoằng pháp và lãnh đạo Giáo hội, Hòa thượng đã giữ nhiều chức vụ quan trọng như Phó Viện trưởng Phật học viện Trung Phần, Trưởng đoàn Giáo hội Phật giáo Tăng Già Việt Nam, Tổng Vụ trưởng Tổng Vụ Tăng Sự, Phó Viện trưởng Viện Hóa Đạo, Phó Chủ tịch Thường trực, Trưởng Ban Trị Sự Thành Hội, Chủ tịch Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, và Đệ Nhất Phó Pháp Chủ kiêm Giám luật.

Hòa thượng Thích Trí Tịnh đã cống hiến trọn đời mình cho Phật pháp, luôn lấy việc học kinh, tụng kinh, niệm Phật, giảng dạy và phiên dịch kinh điển làm chánh hạnh. Dù tuổi cao, tinh thần Ngài vẫn sáng suốt, thân khỏe mạnh và tâm chuyên niệm Phật, tiếp tục truyền giới Bát quan trai cho Phật tử tại gia tại chùa Vạn Đức. Ngài là một tấm gương sáng, một bậc chân tu đạo hạnh trong lòng Tăng Ni, Phật tử Việt Nam.

Khám phá sâu hơn về cuộc đời và sự nghiệp của các bậc tôn túc, quý vị có thể tìm đọc thêm trong chuyên mục Tiểu sử.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang