Hòa thượng Thích Từ Hương: Cuộc đời và Di sản

ht thich tu huong
× 🎁 Ưu đãi Shopee hôm nay – Nhấn nhận ngay!
🔥 Ưu đãi Shopee - Bấm để xem ngay!
0
(0)

Tiểu sử Trưởng lão Hòa thượng Thích Từ Hương (1928-2021) mở đầu bằng những năm tháng đầu đời tại quê nhà Bình Định trước khi Ngài chính thức xuất gia vào tháng 12 năm 1955. Khám phá cuộc đời và sự nghiệp hoằng pháp của Ngài tại chiasedaophat.com.

ht thich tu huong

Tiểu sử
Trưởng lão Hòa thượng Thích Từ Hương
(1928-2021)

I. THÂN THẾ VÀ DUYÊN KHỞI TU HÀNH

Trưởng lão Hòa thượng Thích Từ Hương, húy Nhật Sanh, thế danh Nguyễn Mạnh Trừng, sinh ngày 20 tháng 6 năm 1928 tại thôn Vĩnh An, xã Mỹ Phong, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Ngài xuất thân trong một gia đình phú nông, thân phụ là cụ ông Nguyễn Tiêm và thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Chai, pháp danh Nhật Cang.

Trong những năm tháng đầu đời tại quê nhà, từ khi chào đời cho đến năm 1954, Hòa thượng đã hoàn thành chương trình tiểu học và gắn bó với đời sống sinh hoạt tại địa phương.

II. QUÁ TRÌNH TU HỌC VÀ HOẰNG PHÁP

Tháng 12 năm 1955, Ngài chính thức xuất gia tại Linh Quang tịnh xá ở Sài Gòn dưới sự dẫn dắt của Trưởng lão Hòa thượng Thích Phổ Ứng. Sau bốn năm chuyên tâm tu học tại Sài Gòn, vào năm 1958, Ngài trở về quê nhà Bình Định để cầu pháp với Hòa thượng Như Cầu tại chùa Chi hội, huyện Phù Mỹ. Tại đây, Ngài được Bổn sư ban pháp danh Nhật Sanh.

Từ năm 1958 đến năm 1965, Hòa thượng tiếp tục tu học và theo học các lớp gia giáo tại các ngôi chùa trong huyện. Năm 1959, Ngài đã khởi công xây dựng chùa Vạn An tại quê nhà thôn Vĩnh An, xã Mỹ Phong, huyện Phù Mỹ.

Năm 1965, với tâm nguyện phụng sự Đạo pháp tại vùng Cao nguyên, Hòa thượng đã lên Gia Lai nhận chức trú trì chùa Bửu Minh, tọa lạc tại xã Biển Hồ, thành phố Pleiku. Đến năm 1966, Ban Đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất đã điều động Ngài về trú trì chùa Bửu Nghiêm.

Năm 1968, Ngài chính thức thọ Tỳ kheo giới tại Đại giới đàn chùa Long Khánh, Quy Nhơn, tỉnh Bình Định. Vị Đường đầu Hòa thượng của Ngài là Hòa thượng Phúc Hộ, thuộc Tổ đình Từ Quang, Đá Trắng, tỉnh Phú Yên.

Tìm hiểu thêm: Vũ Chầm: 88 năm cuộc đời vì Phật pháp và cộng đồng

Giai đoạn 1971-1973, Hòa thượng đảm nhiệm vai trò Phụ tá Đặc ủy Tăng sự thuộc Ban Đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tỉnh Pleiku.

Năm 1973, Ngài trú trì chùa Bửu Thắng thuộc Tỉnh hội Phật giáo Pleiku. Một năm sau, vào năm 1974, Hòa thượng trở về chùa Bửu Minh. Đến năm 1976, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tỉnh Pleiku lại tin tưởng giao phó cho Ngài trọng trách trú trì chùa Bửu Nghiêm. Ngài đã gắn bó và chăm lo cho ngôi tự viện này cho đến năm 2009, khi Ngài đề cử Đại đức Thích Quang Phúc kế nhiệm trụ trì. Bản thân Hòa thượng sau đó hoan hỷ đảm nhiệm vai trò Viện chủ chùa Bửu Nghiêm.

Trong suốt thời gian Ngài làm trụ trì, chùa Bửu Nghiêm đã trải qua bốn lần trùng tu, xây dựng quy mô vào các năm 1987, 2002, 2007 và 2011, tạo nên diện mạo trang nghiêm và huy hoàng như ngày nay.

Trong các nhiệm kỳ 1 và nhiệm kỳ lưu nhiệm (1983 – 1989) của Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Gia Lai – Kon Tum, Hòa thượng đã được suy cử làm Ủy viên Ban Trị sự.

Năm 1990, Ngài được Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam ủy nhiệm làm Trưởng ban Vận động tái thành lập Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Gia Lai.

Khám phá: Trần Nhân Tông: Anh Minh Lãnh Đạo, Sáng Lập Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử

Tại Đại hội Phật giáo toàn quốc nhiệm kỳ V (2002 – 2007), Ngài được tấn phong lên hàng giáo phẩm Thượng tọa.

Tiếp nối sự cống hiến, tại Đại hội Phật giáo toàn quốc các nhiệm kỳ V (2002 – 2007) và VI (2007 – 2012), Hòa thượng được tín nhiệm bầu làm Ủy viên Hội đồng Trị sự Trung ương. Đồng thời, Ngài còn đảm nhiệm vai trò Trưởng ban Trị sự Phật giáo tỉnh Gia Lai trong suốt ba nhiệm kỳ liên tiếp, từ năm 1998 đến 2012.

Nhằm ghi nhận và tán dương những đóng góp to lớn của Ngài đối với Đạo pháp và Giáo hội, tại Đại hội Phật giáo toàn quốc nhiệm kỳ VI (2002 – 2007), Ngài đã vinh dự được tấn phong lên hàng giáo phẩm Hòa thượng.

III. VAI TRÒ GIỚI SƯ TRONG CÁC GIỚI ĐÀN

Vào năm 2004, Hòa thượng được cung thỉnh đảm nhiệm vai trò Giáo thọ A xà lê tại Đại giới đàn Huệ Chiếu, chùa Long Khánh, Quy Nhơn.

Các năm 2010 và 2015, Ngài lại một lần nữa được trân trọng mời làm Yết ma A xà lê tại Đại giới đàn Cam Lộ, do Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Gia Lai tổ chức tại chùa Minh Thành, Pleiku.

IV. THAM GIA CÔNG TÁC XÃ HỘI

Bên cạnh sự nghiệp hoằng pháp, Hòa thượng còn tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội. Ngài từng là đại biểu Hội đồng Nhân dân thị xã Pleiku trong nhiệm kỳ 1994 – 1998. Sau đó, Ngài tiếp tục đóng góp trong Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và Hội đồng Nhân dân tỉnh Gia Lai qua hai nhiệm kỳ, từ năm 1994 đến 2003.

V. CÁC DANH HIỆU VÀ PHẦN THƯỞNG CAO QUÝ

Những đóng góp và cống hiến của Hòa thượng đã được Nhà nước và Giáo hội ghi nhận qua nhiều danh hiệu và phần thưởng cao quý. Nổi bật là:

  • Huân chương Vì sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc, do Chủ tịch nước Trương Tấn Sang ký ngày 08/11/2011.
  • Kỷ niệm chương Vì sự nghiệp Đại đoàn kết dân tộc, Quyết định số 811/KT/MTTW ngày 28/02/2006.
  • Bằng tuyên dương công đức của Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, TĐCĐ Số 404/HĐTS/VP ngày 01/12/2007, do Hòa thượng Thích Trí Tịnh ký.
  • Bằng tuyên dương công đức của Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, TĐCĐ Số 805/HĐTS/VP ngày 09/05/2012, do Hòa thượng Thích Trí Tịnh ký.

VI. SỰ NGHIỆP KHAI SƠN VÀ GIÁO HÓA ĐỆ TỬ

Trên phương diện hoằng pháp và độ sinh, Hòa thượng luôn thể hiện tinh thần năng nổ và nhiệt huyết. Ngài đã có công lớn trong việc khai sơn và xây dựng nhiều ngôi chùa, tạo duyên lành cho Phật tử tu tập:

  • Chùa Linh Bửu – huyện Chư Pưh;
  • Chùa Từ Quang – huyện Đức Cơ;
  • Chùa Bửu Pháp – huyện Chư Prông;
  • Chùa Văn Thù – huyện Ia Grai;
  • Chùa Bửu Lâm – huyện Chư Prông;
  • Chùa Khánh Hưng – huyện Ia Grai;
  • Chùa Bửu Minh – huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

Sự nghiệp giáo hóa của Ngài còn được thể hiện qua việc đào tạo Tăng Ni. Ngài đã có tổng cộng 94 đệ tử xuất gia. Trong số đó, các vị Tăng tiêu biểu có cố Hòa thượng Thích Đồng Trí (Nguyên Trưởng ban Trị sự Phật giáo tỉnh Kon Tum), Thượng tọa Thích Giác Tâm, Thượng tọa Thích Quang Phúc, cùng các Đại đức như Nhuận Đạo, Quang Trường, Quang Thuyết, Quang Trưởng, Quang Hướng…

Xem thêm: Thích Tâm Nguyên: Thầy Pháp Trẻ Tài Năng Với Bài Giảng Hài Hước, Dí Dỏm Đốn Tim Phật Tử

Về hàng đệ tử Ni, có các Sư cô đáng kính như Thích Nữ Minh Kiểu, Thích Nữ Tịnh Tâm, Thích Nữ Quang Thuần, Thích Nữ Minh Trang, Thích Nữ Quang Phụng…

Vào đầu năm 2011 (từ ngày 27 tháng 2 đến ngày 15 tháng 3), dù tuổi đã cao, Hòa thượng vẫn tràn đầy tinh thần, cùng phái đoàn chư Tôn đức Tăng Ni đã thực hiện chuyến hành hương chiêm bái Phật tích tại Ấn Độ, Nepal và thăm viếng Thái Lan.

VII. TRỤ THẾ VÀ VIÊN TỊCH

Dù tuổi đã cao và sức khỏe có phần suy giảm, tấm lòng vì đạo của Hòa thượng vẫn không ngừng nghỉ. Ngài thường xuyên đi thăm hỏi, khuyến tấn hàng Tăng Ni đệ tử, đệ tôn và đồng bào Phật tử tại gia. Tuy nhiên, sinh, lão, bệnh, tử là quy luật tất yếu của cuộc đời. Sau một thời gian lâm bệnh, Ngài đã an nhiên thâu thần thị tịch vào lúc 02 giờ 30 phút, ngày 07 tháng 3 năm Tân Sửu (nhằm ngày 18 tháng 4 năm 2021). Ngài đã trụ thế 93 năm và an trú trong 53 mùa an cư.

Sự ra đi của Ngài là một mất mát to lớn đối với môn đồ pháp quyến, cũng như toàn thể Tăng Ni, Phật tử Việt Nam. Niềm tiếc thương vô hạn đã được thể hiện qua những vần thơ:

Than ôi!

Hạc vàng vẫy cánh xa khơi,
Mây sầu vương đọng mấy dòng lệ rơi.

Cuộc đời và sự nghiệp của Hòa thượng Thích Từ Hương là một hành trình phụng sự Đạo pháp và dân tộc đáng trân kính. Để tìm hiểu sâu hơn về những đóng góp và di sản của Ngài, hãy khám phá chi tiết trong chuyên mục Tiểu sử.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang