Trong giờ phút trang nghiêm tưởng niệm Hòa thượng Thích Trí Thủ, một bậc thầy vĩ đại đã cống hiến trọn đời cho sự nghiệp hoằng pháp, sự ra đi của Ngài để lại niềm tiếc thương sâu sắc. Cùng nhau khám phá Chia sẻ Đạo Phật để hiểu rõ hơn về di sản tinh thần vô giá mà Ngài đã để lại.
LỜI TƯỞNG NIỆM
CỦA HÒA THƯỢNG THIỆN SIÊU TRONG LỄ CHUNG THẤT
CỐ HÒA THƯỢNG THÍCH TRÍ THỦ TẠI GIÀ LAM
Ngày 20 tháng 4 năm Giáp Tý (tức ngày 20 tháng 5 năm 1984)
Nam mô A Di Đà Phật
Trước linh đài trang nghiêm của cố Đại lão Hòa thượng Thích Trí Thủ, chúng ta hiện diện nơi đây không khỏi bùi ngùi xúc động, thương tiếc một bậc Cao Tăng, một vị đạo hạnh thâm sâu, chí nguyện kiên trinh, cả đời hiến dâng cho Đạo pháp và Dân tộc. Đối với giác linh Hòa thượng, tất cả chúng ta, những người từng được gần gũi, những người đã thọ nhận ân đức giáo hóa, không ai quên được nụ cười hoan hỷ, dáng vẻ từ hòa, ánh mắt nhân từ và những lời dạy bảo ý nghĩa. Sự ra đi của Người đã để lại niềm tiếc thương vô hạn, như mất đi một bóng cây đại thụ che chở, như thiếu đi dòng nước cam lồ tưới mát, như mất đi điểm tựa vững chắc. Nỗi buồn, sự nghẹn ngào đã lan tỏa khắp Tăng Ni Phật tử, từ trong chùa ra đến ngoài đường, sau khi tin Người viên tịch được loan báo.
Sự đồng cảm sâu sắc này minh chứng cho công đức vĩ đại và chí nguyện cao cả mà Hòa thượng đã vun bồi cho Tăng Ni Phật tử. Dù có diễn tả thế nào cũng không thể trọn vẹn, chỉ khi lắng lòng suy tư, hồi tưởng, chúng ta mới thấu suốt được những phẩm hạnh cao siêu, những điều thâm huyền trong cuộc đời tu tập và hành đạo của Người. Hòa thượng đã từng phát nguyện:
Một lòng kính lạy Phật đà,
Đời đời con nguyện ở nhà Như lai.
Con hằng mặc áo Như lai,
Con ngồi pháp tọa Như lai muôn đời.
Lời nguyện sâu sắc này, xuất phát từ kinh Pháp Hoa, thể hiện chí nguyện cao cả của Người: “Nhà Như Lai” là tâm đại từ bi, “áo Như Lai” là tâm nhu hòa nhẫn nhục, và “pháp tọa Như Lai” là Nhất thiết pháp không. Đại bi, Đại hùng, Đại trí, tất cả đều hội tụ trong chí nguyện của Người, và Người đã suốt đời tuân theo, hành đạo theo đó. Nhờ vậy, mọi hành động của Hòa thượng đều thấm đượm đạo lý, mang lại lợi ích cho mình và cho người, cho Đạo và cho Đời.
Dù đã 76 tuổi, mỗi buổi sáng, Hòa thượng vẫn dậy thật sớm, trước 3 giờ sáng, thực hiện nghi thức cá nhân rồi vào chùa lễ Phật 108 lạy, sau đó trì chú thêm hơn một giờ. Công hạnh tu niệm chuyên cần này không phải chỉ diễn ra trong một sớm một chiều, mà đã kéo dài hàng hai ba chục năm. Dù ở bất cứ ngôi chùa nào, hay khi tham dự các đại hội Phật giáo quốc tế, Hòa thượng vẫn giữ vững nếp tu tập này. Điều này cho thấy chí nguyện của Người sâu sắc nhường nào. Nếu chí nguyện hời hợt, làm sao có thể duy trì đạo hạnh thâm sâu, bền bỉ đến vậy? Chỉ riêng điều này thôi cũng đủ để Tăng Ni Phật tử chúng ta đời đời ghi nhớ và noi theo.
Hơn thế nữa, Hòa thượng không chỉ chú trọng đến việc giải thoát cho bản thân mà còn hết lòng vì sự nghiệp hoằng pháp, lợi ích chúng sanh, dìu dắt Tăng Ni trên con đường chánh pháp. Người đã sáng lập và duy trì nhiều Phật học viện như Linh Quang, Báo Quốc, Hải Đức, Già Lam, đào tạo biết bao thế hệ Tăng Ni trẻ. Công hạnh đào tạo Tăng Ni của Người kéo dài hàng chục năm trường mà không hề mệt mỏi. Với đức tánh từ hòa, hoan hỷ và bao dung, Hòa thượng có thể hòa mình vào mọi đối tượng: khi nói chuyện với người lớn tuổi, Người là một bậc trưởng thượng; khi tiếp xúc với thanh niên, Người trở thành người bạn đồng trang lứa; khi ở cùng Tăng trẻ, Người như một người bạn thân thiết; và ngay cả khi trò chuyện với trẻ nhỏ, Người cũng vui vẻ như một đứa trẻ. Chính nhờ sự bao dung này, dù Tăng chúng có đủ mọi hạng người, từ người mới xuất gia đến người tu lâu năm, từ người có căn cơ sâu dày đến người mới phát tâm, mỗi người mỗi tính cách, mỗi trình độ, Hòa thượng đều có thể giáo dưỡng, nâng đỡ phù hợp với khả năng của mỗi người, không để ai trở thành vô dụng. Đây là một công đức lớn lao, một chí nguyện vĩ đại, một tấm gương sáng để Tăng Ni Phật tử soi vào và noi theo.
Trong công tác giáo dục Tăng Ni, Hòa thượng có tầm nhìn xa trông rộng, không gò bó trong khuôn khổ truyền thống mà luôn tìm tòi phương pháp giáo dục, trang bị cho Tăng Ni kiến thức và đức hạnh phù hợp với thời đại, để phụng sự Đạo pháp và lợi ích xã hội. Người đã khuyến khích Tăng Ni tham gia các kỳ thi để đạt được các bằng cấp từ Tiểu học đến Đại học, tạo điều kiện thuận lợi cho việc truyền bá chánh pháp. Không chỉ quan tâm đến đời sống tinh thần, Hòa thượng còn chăm lo đến đời sống vật chất. Người đã thành lập các cơ sở kinh tế tự túc để Tăng Ni có thể vừa học vừa làm, vừa nuôi dưỡng thân tâm, đảm bảo sự phát triển toàn diện cả về đạo hạnh, trí tuệ, từ bi và sức khỏe.
Hòa thượng cũng luôn thể hiện tinh thần yêu nước, đoàn kết cùng đồng bào thực hiện những điều có thể làm được vì Tổ quốc. Chính vì lẽ đó, khi tin Người viên tịch, không chỉ Tăng Ni Phật tử mà cả những người ngoài đạo cũng bày tỏ sự tiếc thương sâu sắc. Khi hồi tưởng lại ánh mắt từ hòa, nụ cười hoan hỷ, dáng vẻ bao dung, cử chỉ êm đềm và tâm hồn quảng đại của Người, chúng ta mới cảm nhận hết công đức sâu dày và những cống hiến to lớn của Hòa thượng. Chỉ khi noi theo công hạnh của Người, thực hành trên con đường giác ngộ, lợi mình, lợi đạo, lợi đời, chúng ta mới có thể phần nào báo đáp được ân đức của Người.
Hôm nay, trước linh đài trang nghiêm, Tăng Ni Phật tử chúng ta thành kính tưởng niệm công đức của Hòa thượng trong lễ chung thất. Chúng ta cầu nguyện cho Người cao đăng Phật quốc, tái lai Ta bà để tiếp tục dìu dắt chúng ta trên bước đường tu tập.
Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật.

Bia tưởng niệm HT Thích Trí Thủ tại tu viện Quảng Hương Già Lam
TƯỞNG NIỆM HÒA THƯỢNG THÍCH TRÍ THỦ
(1909 – 1984)
Hòa thượng thế danh Nguyễn Văn Kính, pháp danh Tâm Như, pháp hiệu Đạo Giám, tự Thích Trí Thủ, sinh ngày 19 tháng 9 năm Kỷ Dậu (1909) tại Trung Kiên, Quảng Trị. Năm 17 tuổi, Ngài xuất gia, 20 tuổi thọ đủ giới, thuộc đời thứ 48 dòng thiền Lâm Tế.
Với chí nguyện “thượng cầu hạ hóa”, Hòa thượng là một trong những người tiên phong trong công cuộc chấn hưng Phật giáo Việt Nam. Ngài đã sáng lập nhiều Phật học viện, trùng tu nhiều ngôi tự viện, khai sơn tu viện Quảng Hương Già Lam, tổ chức nhiều đại giới đàn, cũng như phiên dịch, giảng giải Kinh, Luật, Luận. Hòa thượng không ngừng tiếp dẫn hậu lai, mang ơn pháp vũ đến với Tăng tín đồ.
Bên cạnh sự tinh chuyên trong tu tập, Ngài còn tích cực tham gia vào các hoạt động nhập thế độ sinh. Dù tuổi cao sức yếu, Ngài vẫn không ngại khó khăn, thực hành hạnh Phổ Hiền, lợi đạo ích đời. Dù đối diện với những thử thách trong thế sự, tâm hồn Ngài luôn giữ vững sự hoan hỷ và bao dung. Khi mãn duyên, tứ đại hòa tan, Ngài đã trở về với hư không, nhưng công hạnh của Ngài vẫn còn mãi trong lòng người.
Như thị chân, như thị huyễn
Như thị công đức trang nghiêm
(Hòa thượng viên tịch ngày mồng 2 tháng 3 năm Giáp Tý, tức năm 1984).
Tháp bia được xây dựng vào ngày 19 tháng 9 năm Ất Sửu (1985).
Đệ tử Thất chúng kính ghi.
Hòa thượng Thích Thiện Siêu
Để hiểu sâu hơn về cuộc đời và sự nghiệp của những bậc cao Tăng như Hòa thượng Thích Trí Thủ, kính mời quý vị độc giả cùng khám phá thêm trong chuyên mục Tiểu sử.
