Hành trình xuất thế của Ni trưởng Thích Nữ Đàm Lựu bắt đầu từ thuở ấu thơ, với sự gửi gắm vào cửa Phật, nơi Người nhận pháp danh và bắt đầu con đường tu tập. Dù mới 16 tuổi, Người đã chính thức khoác áo choàng, dấn thân vào con đường học hỏi sâu rộng tại nhiều ngôi già lam danh tiếng, và bước ngoặt quan trọng đến tại Đại Giới Đàn Quán Sứ, đánh dấu sự trưởng thành trên con đường tâm linh. Khám phá thêm về cuộc đời và những đóng góp ý nghĩa của Người tại chiasedaophat.com.
Tiểu sử
Ni trưởng Thích Nữ Đàm Lựu
(1933 – 1999)
I- THÂN THẾ
Ni trưởng Thích Nữ Đàm Lựu, thế danh cũng là đạo hiệu của Người, sinh ngày 13 tháng 6 năm Quý Dậu (tức ngày 04 tháng 08 năm 1933 dương lịch), tại làng Tam Xá, xã Thanh Oai, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông, Bắc Việt Nam. Song thân của Ni trưởng là cụ ông Đặng Văn Cán và cụ bà Nguyễn Thị Cả. Do duyên nghiệp khó nuôi con, khi Ni trưởng vừa hơn 2 tuổi, song thân đã đưa Người vào chùa Cự Đà, giao cho Sư Cụ Đàm Soạn, vị Trú trì lúc bấy giờ, và được Sư Cụ đặt pháp danh là Đàm Lựu.
II- XUẤT GIA, THỌ GIỚI VÀ TU HỌC
Năm 1948, khi tròn 16 tuổi, nhận thấy chí nguyện xuất trần của Sư Bà, Sư Cụ Đàm Soạn đã truyền thụ Sa Di Ni giới tại chùa Cự Đà, Hà Đông, thuộc sơn môn Tổ Trung Hậu và Đống Đồ. Dù mới 16 tuổi, Sư Bà đã chính thức được thế phát xuất gia. Với lòng ham học hỏi và chí nguyện tu tập sâu sắc, Sư Bà đã tham học tại hầu hết các ngôi chùa trong sơn môn tại Miền Bắc, bao gồm Cự Đà, Thanh Nhàn, Nhân Hòa, Từ Hàng, Đống Đồ, Trung Hậu, Vân Hồ, Đức Viên.
Năm 1951, tại Đại Giới Đàn tổ chức ở chùa Quán Sứ, Hà Nội, với sự hiện diện của nhiều bậc cao tăng và cao ni giới sư, Sư Bà đã được sự chấp thuận của chư tôn đức để thọ Bồ Tát giới Tỷ Khưu Ni. Trong giới đàn này, có sự tham dự của các vị cao tăng như Pháp Chủ Mật Ứng, Thượng Thủ Tuệ Tạng, Pháp Chủ Đức Nhuận, Cao Tăng Tố Liên, Trí Hải, và các vị Ni trưởng như Đàm Soạn, Trịnh Xá, La Hán. Sau khi đắc giới, Sư Bà được Sư Cụ Nghiệp Sư cho phép hầu cận và làm Thị giả.
Đầu năm 1952, Sư Cụ Nghiệp Sư được thỉnh cử vào Nam đảm nhận chức vụ Trú trì chùa Dược Sư tại Gò Vấp. Sư Bà đã theo hầu cận và cùng với Sư Cụ thành lập Ni trường Dược Sư, đào tạo các thế hệ ni tài. Tại đây, chương trình Nội điển và Ngoại điển được chú trọng song song. Năm 1960, Sư Bà thi đỗ Tú tài. Sau khi hoàn thành khóa tu học kéo dài 9 năm tại Ni trường Dược Sư, vào năm 1961, Sư Bà về lưu trú tại chùa Phước Hòa, Sài Gòn.
Năm 1964, theo sự giới thiệu của Sư Bà Đàm Hướng, Sư Bà sang Tây Đức du học ngành Xã hội học. Trong thời gian này, Người vừa học tập vừa hướng dẫn tinh thần cho các sinh viên Việt Nam. Năm 1969, sau khi tốt nghiệp ngành Xã hội học, Sư Bà trở về nước để tiếp tục phụng sự đạo pháp.
III- TU TẬP VÀ HÀNH ĐẠO
Năm 1970, Sư Bà được giao phó trọng trách Giám Đốc Cô Nhi Viện Lâm Tỳ Ni tại Sài Gòn. Năm 1977, Sư Bà tìm đường vượt biên và hoạt động Phật sự tại đảo Kuchin-Malaya gần 2 năm.
Năm 1979, Sư Bà được Hòa thượng Thanh Cát, trụ trì chùa Giác Minh, Palo Alto, bảo lãnh sang Hoa Kỳ. Năm 1980, Hòa thượng đề cử Sư Bà về vùng San Jose để hành đạo và sáng lập chùa Đức Viên.
Khởi đầu tại chùa Đức Viên, Sư Bà thuê một ngôi nhà nhỏ tại số 2003, Evelyn Ave., San Jose, CA 95122. Dù không gian hạn chế, Sư Bà đã nỗ lực thực hiện nhiều Phật sự quan trọng:
- Tổ chức các khóa tu Bát Quan Trai, tụng kinh, thuyết giảng, đáp ứng nhu cầu tâm linh cho cộng đồng Phật tử xa xứ.
- Mở lớp dạy Việt ngữ đầu tiên tại vùng San Jose.
- Thành lập Gia Đình Phật Tử Đức Viên, thu hút hơn 200 em thiếu nhi và thanh thiếu niên tham gia sinh hoạt.
- In ấn kinh sách và băng giảng để cúng dường chư tôn đức, tặng thư viện, ấn tống đến Phật tử và gửi tặng các trại tỵ nạn Đông Nam Á.
Do số lượng Phật tử và đồng hương quy tụ ngày càng đông, ngôi chùa cũ không còn đủ sức chứa. Vì vậy, năm 1984, Sư Bà phát động công cuộc kiến thiết chùa mới. Với phương thức độc đáo, Sư Bà kêu gọi mọi người đóng góp bằng cách thu gom phế liệu như lon nhôm, ve chai, giấy báo, thùng carton để bán gây quỹ xây dựng chùa. Công sức và tài vật đóng góp từ cộng đồng đã mang lại kết quả:
Năm 1985, khu đất rộng cùng một ngôi nhà cũ đã được mua lại để an vị Phật và tiếp tục sự nghiệp hoằng truyền Chánh pháp. Năm 1986, với sự ủng hộ của chư tôn đức và thiện tín thập phương, Sư Bà tiếp tục mua lô đất kế cận. Tổng diện tích hai lô đất là 94,000 bộ vuông, đủ để xây dựng một ngôi chùa mang đậm nét văn hóa truyền thống dân tộc.
Năm 1991, ngôi Đại Tự Đức Viên chính thức được khởi công xây dựng. Đến năm 1995, ngôi Đại Điện được cấp phép hoạt động chính thức, đáp ứng một phần nhu cầu Phật sự. Tuy nhiên, tâm nguyện xây dựng Ni xá, nhà bếp và nhà ăn cho đại chúng vẫn chưa hoàn thành thì Sư Bà đã viên tịch.
Từ khi Đại Điện Đức Viên đi vào hoạt động, các Phật sự được mở rộng trên nhiều phương diện:
1) Về công tác thuyết giảng:
Với hạnh nguyện “Pháp môn vô lượng, thệ nguyện học”, Sư Bà đã mời chư tôn đức từ nhiều truyền thống Phật giáo như Việt Nam, Tích Lan, Thái Lan, Miến Điện, Đại Hàn, Nhật Bản, Lào, Hoa Kỳ về thuyết giảng. Nhiều bậc cao tăng và pháp sư Việt Nam đã đến chùa Đức Viên chia sẻ giáo lý, bao gồm Hòa thượng Tâm Châu (Canada), Hòa thượng Thanh Cát, Hòa thượng Mãn Giác, Hòa thượng Hộ Giác, Hòa thượng Giác Nhiên, Hòa thượng Thanh Đạm (Hoa Kỳ), Thiền sư Thích Nhất Hạnh (Pháp), Hòa thượng Tịnh Hạnh (Đài Loan), Thiền sư Thanh Từ (Việt Nam), Thượng tọa Như Điển (Tây Đức), Hòa thượng Minh Tâm, Thượng tọa Thiện Huệ, Thượng tọa Nhất Chân (Pháp), Hòa thượng Như Huệ (Úc), Thượng tọa Trí Minh (Na Uy), Thầy Huyền Diệu (Ấn Độ). Ngoài ra, Sư Bà còn đón tiếp các bậc cao tăng, cao ni quốc tế đến thăm viếng, tạo cơ hội cho Ni chúng đảnh lễ và học hỏi.
2) Chiêm bái Phật Tích, Thánh Tích và Danh Lam Cổ Tự:
Nhằm phát huy niềm tin Tam Bảo, Sư Bà đã tổ chức nhiều chuyến hành hương chiêm bái Phật Tích tại Ấn Độ và các Thánh Tích, danh lam cổ tự tại các quốc gia Phật giáo Đông Nam Á như Trung Quốc, Thái Lan, Miến Điện.
3) Truyền bá giáo lý:
Với tâm nguyện “Hiển Chánh, phá tà”, Sư Bà không chỉ tiếp tục ấn hành kinh sách và băng giảng, mà còn hỗ trợ các đài phát thanh Việt ngữ có chương trình về giáo lý Phật Đà.
4) Đào tạo Ni chúng và hỗ trợ hậu học:
Với hạnh nguyện “Tiếp dẫn hậu lai, báo Phật Ân Đức”, Sư Bà đã giáo dưỡng Ni chúng tại đạo tràng Đức Viên, khuyến khích tham học tại các trung tâm tu học quốc tế, cho theo học kiến thức phổ thông tại các trường đại học Mỹ. Ngoài ra, Sư Bà còn yểm trợ tài chính cho các Tăng, Ni sinh du học tại Ấn Độ, Đài Loan, Hoa Kỳ, cũng như bảo trợ các trường Phật học tại Việt Nam như Bà Đá, Quán Sứ (Hà Nội), Vạn Hạnh, Vĩnh Nghiêm (Sài Gòn), và các tỉnh miền Trung, Nam.
5) Bảo tồn di tích và phát huy cơ sở:
Sư Bà luôn quan tâm đến việc bảo tồn di tích và phát huy cơ sở Phật giáo. Người đã tích cực yểm trợ các chương trình trùng tu cổ tự, danh lam tại Việt Nam và hưởng ứng các chương trình xây dựng tu viện tại Việt Nam, Trung Hoa, Ấn Độ.
6) Bảo tồn văn hóa và thể hiện lòng từ:
Để bảo tồn văn hóa dân tộc, Sư Bà đã mở Trường Việt Ngữ Đức Viên, khuyến khích thế hệ trẻ trau dồi tiếng Việt. Thể hiện lòng từ bi, Sư Bà đã vận động Phật tử và đồng hương giúp đỡ đồng bào tại các trại tỵ nạn, tích cực hỗ trợ đồng bào bị thiên tai tại Việt Nam và Nam Mỹ, thăm viếng tù nhân, giúp đỡ các trại cùi và trung tâm trẻ em khuyết tật.
IV- NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG
Theo lời Phật dạy, “hữu thân hữu bệnh, hữu sanh hữu tử”, Sư Bà đã phải đối mặt với ít nhất ba chứng bệnh nan y: tiểu đường, ung thư và bệnh đông máu. Tuy nhiên, với tâm nguyện hoằng truyền Chánh pháp và ý lực phục vụ chúng sanh, Sư Bà đã quên đi bệnh tật của bản thân. Khi bệnh tình trở nặng, các bác sĩ đành lực bất tòng tâm.
Điều đáng ghi nhận là, dù Phật sự đa đoan, nhất là trong những tháng cuối đời, Sư Bà vẫn an nhiên hành trì pháp môn trì chú và niệm Phật cầu vãng sanh Tây Phương Cực Lạc mà không hề xao lãng.
Ni trưởng Thích Nữ Đàm Lựu đã chính thức xả bỏ báo thân, thâu thần nhập diệt, hóa sanh nơi cõi Tịnh Độ vào lúc 21 giờ 27 phút ngày 09 tháng 02 năm Kỷ Mão (tức ngày 26 tháng 03 năm 1999), hưởng thọ 67 tuổi đời, 48 hạ lạp.
Lễ nhập quan nhục thân được cử hành vào lúc 15 giờ ngày 11 tháng 02 năm Kỷ Mão (tức Chủ Nhật, ngày 28 tháng 03 năm 1999).
Lễ di quan trà tỳ được tổ chức vào lúc 09 giờ 30 ngày 17 tháng 02 năm Kỷ Mão (tức Thứ Bảy, ngày 03 tháng 04 năm 1999).
NAM MÔ ĐỨC VIÊN NI TỰ ĐƯỜNG THƯỢNG, LIÊN HOA HÓA SANH, MA HA TỶ KHƯU NI BỒ TÁT GIỚI ĐÀM LỰU GIÁC LINH
TÁC ĐẠI CHỨNG MINH.
Kính bạch Giác Linh Sư Bà,
Chúng con biết việc ghi lại những dòng tiểu sử này có thể trái với tâm nguyện của Sư Bà, bởi Sư Bà thường dạy: “Người tu là tập làm con nhạn bay giữa hư không, không lưu lại bất cứ vết tích nào; hay như con hạc rời khỏi ao hoang, không hề lưu luyến”. Tuy nhiên, khi Pháp âm của Sư Bà không còn trực tiếp vang lên, hình ảnh thân giáo không còn hiện hữu, những dòng tiểu sử đơn sơ này sẽ là lời nhắc nhở chúng con noi theo hạnh nghiệp của Sư Bà trên bước đường tu học. Nguyện cho chúng con biết yêu thương, tha thứ, gắn bó, sách tấn lẫn nhau trên con đường tu tập, chia sẻ những khó khăn và luôn cố gắng thực hành hạnh từ bi, hỷ xả, nhẫn nhục của Sư Bà, xứng đáng là người “thừa tự Pháp của Sư Bà, nguyện không làm người chỉ biết thừa tự tài vật của Sư Bà”.
Xin Sư Bà đại xá cho những khiếm khuyết của chúng con.
NAM MÔ TIẾP DẪN ĐẠO SƯ A DI ĐÀ PHẬT
Môn Đồ Pháp Quyến Hiệp Thập, Khể Thủ Kính Ghi
Để hiểu rõ hơn về cuộc đời và những đóng góp của Ni trưởng, mời quý vị độc giả khám phá chi tiết trong chuyên mục Tiểu sử.

