Một buổi sáng thu năm 1976, giữa không gian thanh tịnh của chùa Già Lam, cuộc gặp gỡ với bậc thầy khả kính đã gieo vào lòng vị pháp sư trẻ những suy tư sâu sắc về lời khuyên tu tập. Sự tương phản giữa hai bộ kinh và nền tảng tình thương, tuệ giác được thầy dạy dỗ đã mở ra một hành trình chiêm nghiệm mới trên Website Chia sẻ Đạo Phật.
Vào một buổi sáng mùa thu năm 1976, sau khi tụng xong phẩm Dược Vương Bổn Sự trong kinh Pháp Hoa, khi bước xuống tầng chánh điện chùa Già Lam, tôi đã gặp Hòa thượng Trí Thủ, bậc thầy kính yêu của tôi. Ngài đang tựa vào lan can, chống chiếc ba toong, dáng vẻ thanh thoát trong bộ đồ vải màu vàng nhạt, giữa không gian xanh mát của khu vườn bên cạnh. Ngài hỏi tôi đang tụng kinh gì, và khi biết tôi đang trì Pháp Hoa, Ngài khuyên tôi nên thêm một biến kinh Kim Cương mỗi ngày, sau khi đã trì Đại Bi và Bát Nhã Tâm Kinh.
Lời khuyên này khiến tôi băn khoăn, bởi tôi vẫn thấy Ngài thường trì Pháp Hoa và quý trọng bộ kinh này. Tôi cũng nhớ câu chuyện Ngài từng kể về hai huynh đệ tu hành, một người trì Pháp Hoa khiến cây cối tươi tốt, người kia trì Kim Cương lại khiến cây cối khô héo. Dù thắc mắc, tôi vẫn tin tưởng và làm theo lời thầy dạy. Trước đó, khi cùng thầy nhổ cỏ trong vườn, Ngài đã dạy tôi rằng để trở thành một người tu sĩ, cần có một nền tảng vững chắc, đó là siêng năng trì Đại Bi và Bát Nhã Tâm Kinh mỗi ngày. Tôi hiểu rằng nền tảng ấy chính là tình thương và tuệ giác. Giờ đây, khi Ngài khuyên trì Kim Cương, tôi tự hỏi liệu Ngài muốn khai hóa thêm mảnh đất tâm hồn còn hoang sơ của tôi chăng?
Hành trình thấu hiểu Kinh Kim Cương
Không lâu sau, tôi đã thuộc lòng kinh Kim Cương. Tuy nhiên, nắm bắt chính xác nội dung và ý nghĩa sâu xa của kinh, đặc biệt là chữ “không” xuất hiện lặp đi lặp lại, lại không hề dễ dàng. Việc áp dụng những giáo lý này vào đời sống thực tiễn còn mơ hồ hơn.
Kinh Kim Cương với cấu trúc luận lý “a là phi a, nên a là a” thật sự khó lĩnh hội. Nó khác với kinh Pháp Hoa, vốn gần gũi với những ví dụ đời thường và những huyền thoại bay bổng. Nó cũng khác với các kinh ngắn trong bộ A Hàm, vốn bình dị, ít lý luận và luôn đưa ra phương pháp thực hành cụ thể. Khi tìm đến các bản luận giải, tôi nhận được nhiều khái niệm triết học về “không” và “phi” của Bát Nhã, nhưng cách tu tập thì thường bỏ ngỏ. Tôi lo sợ rằng cứ mải mê đuổi theo những khái niệm này, cây cỏ xung quanh mình cũng sẽ khô héo.
Đọc truyện Lục Tổ Huệ Năng, tôi ngưỡng mộ sự giác ngộ nhanh chóng của Ngài chỉ sau khi nghe câu “ưng vô sở trú nhi sinh kỳ tâm”. Tôi cảm nhận được sự khác biệt sâu sắc giữa các bản kinh và phương pháp tu tập.
Tìm kiếm con đường siêu việt suy tư
Nhiều năm trôi qua, ngoài việc trì kinh Kim Cương Bát Nhã mỗi sáng, tôi kiên trì tìm hiểu nghĩa “không” của kinh, từ bình diện triết học đến khoa học thực nghiệm. Định nghĩa của ngài Long Thọ, “ngôn ngữ đạo đoạn tâm hành xứ diệt, dĩ hữu không nghĩa cố nhất thiết pháp đắc thành”, hé mở cho tôi một hướng đi, nhưng do trình độ còn hạn chế, ý nghĩa của nó vẫn trôi qua tâm thức tôi như nước trên lá môn.
Tôi luôn trăn trở với câu hỏi: ngôn ngữ là môi trường trực tiếp của ý thức, vậy nếu bỏ cả ngôn ngữ và ý thức, con người làm thế nào để biết và biết cái gì? Câu hỏi này thôi thúc tôi thử nghiệm một phương pháp mới.
Sau nhiều năm tìm kiếm, trong một đêm khuya tĩnh mịch trên ngọn đồi vắng, tôi nhớ đến Hòa thượng thầy tôi đã viên tịch. Tôi thầm nguyện cầu Ngài chỉ cho tôi một con đường. Rồi tôi đứng dậy, đối diện với bức vách tre, chú tâm đọc thầm một danh hiệu Phật, buông thả mọi suy nghĩ. Cách lạy Phật này mang lại cho tôi cảm giác nhẹ nhàng, sảng khoái, trong khi nhận thức vẫn minh bạch. Tôi nhận ra rằng có những tồn tại lệ thuộc vào suy tư, nhưng cũng có những tồn tại siêu việt suy tư. Có những niềm vui lệ thuộc vào cảm xúc, và có những niềm vui đến từ sự thoát ly cảm xúc.
Sau những lần thử nghiệm này, tôi quyết định áp dụng phương pháp An ban thủ ý (Anapanassati) để tập trung vào hơi thở, đi vào trạng thái siêu việt ngôn ngữ và tâm hành của chữ “phi” trong kinh Kim Cương. Tôi tin rằng phương pháp này sẽ giúp tôi dọn dẹp những gai góc trong tâm hồn.
Ánh sáng từ Kinh Pháp Hoa và Bồ Tát Dược Vương
Vào một mùa an cư sau đó, tôi có duyên cùng đại chúng tụng kinh Pháp Hoa. Khi đến phẩm Dược Vương Bổn Sự, một cảm nhận mới lạ về ý nghĩa của phẩm kinh này bất ngờ xuất hiện. Lời kinh vang lên như một trận mưa rào, và tôi như một loài cây cỏ được đón nhận những giọt nước mát lành.
Phật kể rằng, thuở xưa, Bồ Tát Nhất Thiết Chúng Sinh Hỷ Kiến (tức Bồ Tát Dược Vương) đã tự thiêu thân mình để cúng dường Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức và kinh Pháp Hoa, cầu mong tuệ giác vô thượng. Ngài được chư Phật khen ngợi là đã thực hiện sự hiến cúng tối thượng. Sau khi tái sinh, Ngài lại tiếp tục cúng dường Xá Lợi Phật bằng cách tự thiêu hai cánh tay. Khi các đệ tử xót thương, Ngài phát nguyện và hai cánh tay Ngài liền phục hồi như cũ nhờ phước đức và tuệ giác thuần hậu.
Câu chuyện này, tưởng chừng như huyền thoại, đã mang một ý nghĩa rất thực đối với tôi trong lần tụng kinh ấy. Nó khiến tôi liên tưởng đến những vị Bồ Tát Việt Nam như Quảng Đức, Quảng Hương, những người đã tự đốt thân mình để hiến cúng pháp trong mùa pháp nạn năm Quý Mão 1963.
Qua ánh sáng của phương pháp Anapanassati, tôi nhận ra một khía cạnh rất thực của câu chuyện Bồ Tát Dược Vương: tất cả chúng ta, trong từng hơi thở, từng khoảnh khắc, đều đang tự đốt cháy thân mình để biểu hiện đời sống. Hít vào, chuyển hóa năng lượng; thở ra, thải khí. Sinh vật chẳng phải đang tự đốt thân mình đó sao? Điều quan trọng là đốt để làm gì: hướng đến tuệ giác vô thượng như Bồ Tát Dược Vương, hay chạy theo những dục lạc chóng tàn của danh lợi, sắc đẹp.
Trong nỗi khô khát vì dục vọng, con người đốt thân mình để đuổi theo những ảo ảnh hạnh phúc mong manh, như con nai khát nước chạy theo ảo ảnh giữa sa mạc. Đốt mình trăm năm để tìm kiếm những thứ phù du, chẳng khác nào đốt một điếu thuốc để tìm khoái cảm. Khoái cảm tan biến nhanh, còn thân thể thì hao mòn. Hai tay cháy hết, nhưng thói quen bám níu vào vật chất, vào những gì ta cho là sở hữu, vẫn hừng hực. Tàn dư của hai thứ ấy trở thành ma lực, đẩy phận người trôi nổi trong biển khổ tử sinh.
Học theo phong cách Dược Vương là khác. Phải “ướp thân” bằng hương giới, định, tuệ mà đốt thân trong từng hơi thở. Đốt như vậy mới có thể đốt cháy cái tôi hạn hẹp, bỏ đi thói quen bám níu, thanh lọc nội tâm, từ thân phàm siêu việt đến thân Phật, trụ giữa biển lửa cuộc đời mà hoạt dụng cứu độ chúng sanh.
Ân sư và con đường phụng sự
Dưới ánh sáng này, tôi chợt hiểu rằng ngày xưa, khi khuyên tôi trì tụng kinh Kim Cương, Hòa thượng thầy tôi đã khéo léo dẫn dắt tôi đi vào Chánh pháp hoa sen. Suốt cuộc đời, Ngài đã noi theo phong cách Bồ Tát Dược Vương, “ướp thân” mình bằng hương thơm thượng hạng, ngày ngày đốt thân để cúng dường Phật và quảng bá kinh Pháp Hoa theo tâm nguyện của mình:
Một lòng kính lạy Phật đà
Ngàn đời con nguyện ở nhà Như Lai
Con hằng bận áo Như Lai
Con ngồi pháp tọa Như lai muôn đời.
(HT. Trí Thủ)
Bảy mươi sáu năm cuộc đời, tùy theo hoàn cảnh, Ngài đã dùng thân phàm của mình để thực hiện chí nguyện: lạy Phật, tụng kinh, dạy dỗ Tăng chúng, xây dựng Giáo hội. Với chúng tôi, những học trò còn nhỏ dại, Ngài đã “thiêu đốt thân mình” để nuôi dạy chúng tôi khôn lớn trong ngôi nhà Như Lai mà Ngài cùng các pháp lữ đã dựng xây.
Tại các ngôi chùa như Báo Quốc (Huế), Hải Đức (Nha Trang), và Già Lam (Sài Gòn), chúng tôi được bao bọc trong tình thương của Ngài, được học phép lục hòa, chia sẻ ngọt bùi, học luật, học kinh để bước vào Phật pháp, và đôi khi còn bị la rầy, trị phạt để trưởng thành hơn. Bằng đôi tay nhân ái, Ngài dắt dìu chúng tôi đi lên, nâng đỡ chúng tôi khi vấp ngã.
Trong mắt chúng tôi, Hòa thượng hiện lên như một người cha nghiêm khắc nhưng hiền từ, hết lòng tác thành và yêu thương những người con nhỏ dại. Tình thương ấy thể hiện nhẹ nhàng và tự nhiên trong cuộc sống, như hơi thở ra vào.
Tôi nhớ một buổi sáng mùa hè năm 1975, khi tôi và bốn anh em đang làm rẫy tại chùa Già Lam, Long Thành. Tiếng còi xe hai con ngựa quen thuộc vang lên. Đó là xe của Hòa thượng. Chúng tôi dừng tay, chạy ra đón Ngài. Ngài cười hiền hòa, gật đầu chào, rồi cùng chúng tôi vào chòi tranh. Ngài bảo chú tài xế và cô Phật tử đi cùng lấy hũ mứt rong ra chuẩn bị nấu canh. Chúng tôi dẫn Ngài đi thăm rẫy. Khi mây đen kéo đến và gió mạnh lên, thầy trò quay về lều tranh, ngồi quanh mâm cơm đạm bạc gồm xì dầu dầm ớt, dĩa bắp cải khô xào, và hai tô canh nấu bằng rau khoai với mứt rong. Mưa đổ xuống, nhà dột, cơm canh đều được chan thêm nước mưa. Vậy mà Hòa thượng vẫn ăn ngon lành cùng chúng tôi. Nhìn cảnh đó, tôi vừa vui vừa xúc động, nhớ lại lời Ngài nói hai tháng trước trong buổi họp chúng: “Mấy chú đi tu là tự nguyện, không phải do tôi rủ rê hay dụ dỗ. Bây giờ đổi đời rồi, ai không muốn ở chùa nữa thì về, còn ai muốn ở lại, thì cùng tôi có cháo ăn cháo, có cơm ăn cơm.”
Đem tấm thân già yếu dần để chia sẻ với học trò, Hòa thượng chỉ mong chúng tôi được yên vui tu học trong ngôi nhà Như Lai ấm áp tình người tỏa ra từ chính bản thân Ngài. Chúng tôi đã làm được gì để đền đáp, hay chỉ như đứa con đi hoang lâu ngày về, chưa nhận ra cha, chưa dám thừa kế gia nghiệp của người cha giàu có?
Với sự nông nổi và ngu ngơ của tuổi trẻ, còn ham ngủ, ham vui với sắc dục, còn mơ mộng với những phương trời hứa hẹn nơi chữ nghĩa, chúng tôi chưa cảm nhận hết tầng nghĩa ẩn sâu dưới sắc thân Người biểu hiện trong việc bái sám mỗi khuya. Có khi chợt thức giấc giữa mùi trầm thoang thoảng, tôi nghe tiếng Ngài xướng lạy, trầm bổng theo tiếng chuông vọng xuyên màn đêm tịch mịch:
Cần hành Đại tinh tấn:
Xả sở ái chi thân
Cúng dường ư Thế Tôn
Vị cầu Vô thượng tuệ.
(Siêng tu Đại tinh tấn:
Đốt bỏ thân mến yêu
Đem cúng dường Thế Tôn
Để cầu Tuệ giác Phật).
Những lúc ấy, dù có chút băn khoăn, áy náy, cơn thèm ngủ như bàn tay ma quái níu tôi chìm vào giấc ngủ. Năm tháng trôi qua, tôi vẫn chưa nhận ra hình ảnh một con người rất thực, rất gần, đang quảng bá Pháp hoa theo phong cách Bồ Tát Dược Vương: tẩm mình bằng hương trầm thanh thoát, trong từng hơi thở, đốt thân lạy Phật cúng dường.
Tôi cũng chưa nhận ra rằng chính nhờ công phu lễ Phật bình thường ấy, mà Hòa thượng đã tạo cho mình phong thái siêu thoát trong mọi hoạt động đời thường, có khả năng nhẫn chịu khó khăn, thói hư tật xấu của học trò, khả năng ngồi giữa hoàn cảnh nghiệt ngã mà như ngồi giữa hư không:
Vô tận không thời vô tận ý
Thị chưa từng bận ngại gì phi.
(HT. Trí Thủ)
Nếu khi thở vô, thở ra là phải đốt thân mình cháy dần trong từng hơi thở mà không nhớ Phật, lạy Phật để vượt qua tình phàm, Ngài lấy gì để chịu đựng và vượt qua những mưa nắng cuộc đời, để có đôi tay từ bi che chở chúng tôi yên ổn tu học?
Thế nhưng, với đầu óc còn rập khuôn theo nhận thức “a là a, vì vậy mà nói là a”, chúng tôi chưa nhận ra chiếc áo Như Lai Hòa thượng đang mặc, chiếc ghế Như Lai Hòa thượng đang ngồi.
Đến khi nhận ra người cha, người Pháp sư truyền dạy Pháp Hoa cho mình, chúng tôi không còn cơ hội gần gũi Người nữa. Bây giờ, Thầy đã đi xa, quê hương còn giữ bao la bóng Thầy. Hình bóng Thầy quyện với những kỷ niệm chúng tôi gìn giữ trong lòng, thỉnh thoảng hiện về như những đóa sen đẹp và thơm, nổi thanh thoát giữa ao bùn, giúp chúng tôi nhẹ bớt mùi đời, khỏe khoắn bước đi trên con đường mình đã chọn.
Nguyên Giác
Trích Đặc san Về Cội (2009)
Đọc về cuộc đời và những chiêm nghiệm sâu sắc của HT Thích Nguyên Giác, bạn đọc có thể khám phá thêm những câu chuyện ý nghĩa trong chuyên mục Tiểu sử.
