Bài viết là lời tiễn biệt đầy xúc động và kính trọng dành cho Hòa thượng Thích Huyền Quang, tôn vinh sự nghiệp hoằng pháp và những đóng góp to lớn của Ngài cho Phật giáo Việt Nam. Khám phá thêm về cuộc đời và sự nghiệp của Ngài tại Chiasedaophat.
Kính bạch Giác Linh Hòa Thượng, hôm nay chúng con kính cẩn tiễn Ngài nhập bảo tháp. Từ nơi xa xôi vạn dặm, chúng con xin đốt nén tâm hương, hướng về Nguyên Thiều, đảnh lễ trước linh đài và nguyện cầu Ngài an nhiên thọ nhận. Dù biết rằng thân ngũ uẩn có sinh rồi có diệt, nhưng sự ra đi của Ngài khiến lòng con không khỏi xót xa. Hình bóng từ hòa uy nghi của Ngài không còn hiện diện ở nhân thế, đồi núi Nguyên Thiều vốn tịch mịch nay càng thêm phần tĩnh lặng. Sự vắng bóng của Ngài là một mất mát lớn không chỉ cho Phật giáo Việt Nam mà còn đối với Tăng Ni, Phật tử chúng con, những người đã mất đi một vị thầy khả kính. Dù thân tứ đại đã trả về cát bụi, cuộc đời và sự nghiệp của Ngài sẽ mãi lưu danh trong lòng nhân thế và ghi thêm những trang sử vàng son cho Phật giáo Việt Nam.
Nhìn nhận cuộc đời và sự nghiệp của Hòa thượng Thích Huyền Quang, dù ở bất kỳ cương vị nào, đối với tôi, Ngài luôn là một vị Tăng trước hết, còn những vai trò khác chỉ là phương tiện.
Tôi xin chia sẻ một vài câu chuyện đã từng được hầu chuyện cùng Ngài, để chúng ta cùng suy ngẫm và rút ra những bài học quý báu, làm hành trang cho sự nghiệp hoằng pháp lợi sinh.
Vào khoảng năm 1991 hoặc 1992, khi Ngài còn ở chùa Hội Phước, tỉnh Quảng Ngãi, tôi cùng Thượng tọa Thái Siêu, thầy Tịnh Trí và anh Pháp Quang (lúc đó chưa xuất gia, nay ở chùa Tịnh Luật, Texas) đã đến thăm Ngài. Bữa trưa hôm đó, Ngài đã đãi chúng tôi món bún. Trong lúc dùng bữa, Ngài có nói: “Tuy Giáo hội Phật giáo Việt Nam chưa làm được nhiều việc, nhưng tôi nghe nói có một vị thầy ở thành phố đã chạy chọt xin chính quyền để nhận được mấy chục bộ “Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh” từ Đài Loan gửi về. Đó thật là một việc làm hữu ích… Ít ra cũng có người làm được như vậy…”. Thượng tọa Thái Siêu đang ăn, liền chỉ sang tôi và thưa: “Bạch Hòa Thượng, vị thầy nhận Đại Tạng kinh đó chính là thầy Hạnh Bình này”. Hòa Thượng tay cầm rổ bún, quay sang hỏi tôi: “Thầy ở đâu? Đệ tử của ai?… Vậy tôi xin thưởng công đức cho việc nhận kinh của thầy”. Vừa nói, Ngài vừa gắp bún bỏ vào tô của tôi. Bữa ăn bún với nước tương và rau muống chẻ hôm ấy thật ngon, ngon hơn nữa vì đó là phần thưởng từ chính Hòa Thượng. Điều này khiến tôi suy ngẫm: Tại sao Ngài lại đặc biệt quan tâm đến bộ “Đại Tạng Kinh” đến vậy?
Có lẽ cũng từ lần gặp gỡ đó, một năm sau, tôi nhận được một lá thư tay của Hòa Thượng do cô ĐN trao lại. Nội dung thư giao cho tôi trách nhiệm tìm kiếm các Tăng Ni đang theo học tại các cơ sở đào tạo, có đạo hạnh và học lực tốt, để hỗ trợ một khoản tiền nhỏ mua sách vở học tập. Đặc biệt, Ngài dặn dò không nên có thái độ phân biệt, chỉ cần Tăng Ni đó hiếu học và có đạo hạnh tốt là đủ. Khoảng năm 1998 hoặc 1999, tôi lại được đọc một bức thư do chính Hòa Thượng viết (bằng chữ Việt) gửi cho Thượng tọa Quảng Tâm ở Đài Loan, với lời đề nghị hỗ trợ xây dựng Tàng Kinh Các (Thư viện) cho Tu viện, nhằm phục vụ việc học tập và nghiên cứu của Tăng Ni, hơn là xây dựng chánh điện. Đến năm 2006, khi tôi về Tu viện Nguyên Thiều thăm sức khỏe Hòa Thượng, trong các cuộc trò chuyện, Ngài luôn nhắc nhở tôi: “Học xong nhớ trở về, Phật giáo Việt Nam đang rất cần người, nhất là những người biết chữ Hán, có khả năng đọc và dịch được Đại Tạng Kinh…”. Ngài nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo dục và từng nói: “Tôi nghe nói thầy Thát mở được trường Đại học, tôi cũng mừng. Ở đây tôi cũng dự định mở lớp Cao đẳng Phật học để đào tạo Tăng Ni phiên dịch kinh điển…”. Ngài còn chia sẻ thêm: “Thời gian qua, tôi có đọc Đại Tạng Kinh, thấy lời Phật dạy trong đó rất hay. Tôi đã đánh dấu những đoạn hay, sau này thầy về nhớ dịch ra…”. Hai giờ đồng hồ trò chuyện trôi qua thật nhanh. Ngài vẫn còn nhiều điều muốn nói về giáo dục và đào tạo, nhưng vì sợ Ngài mệt, tôi đành phải đảnh lễ xin từ giã.

Tác giả và HT Thích Huyền Quang
Giữa năm 2007, tôi lại có dịp về thăm Ngài. Lúc này, sức khỏe của Ngài đã suy yếu khá nhiều. Ngài hỏi tôi: “Chuyện học đã xong chưa? Khi nào con về nước? Nhớ về Nguyên Thiều nhé, tôi sẽ cung cấp đầy đủ phương tiện cho thầy làm việc, không thiếu tiền bạc, chỉ thiếu người làm thôi…”. Dù Ngài muốn trò chuyện nhiều hơn, nhưng thấy sức khỏe Ngài không tốt, tôi đành xin phép từ giã.
Một tuần trước khi Ngài viên tịch, tôi đã về thăm Ngài lần cuối. Lúc đó, Ngài đang nằm tại phòng hồi sức của bệnh viện Quy Nhơn. Dù sức khỏe rất yếu, tinh thần Ngài vẫn hoàn toàn tỉnh táo. Tôi đã ở lại Tu viện Nguyên Thiều thêm vài ngày rồi trở về Đài Loan để hoàn thành nốt đoạn đường học vấn còn lại.
Qua những lần gặp gỡ và trò chuyện, tôi nhận thấy trong gần 20 năm, mỗi lần gặp Ngài, câu chuyện dường như luôn xoay quanh một chủ đề chính: Phiên dịch Đại Tạng Kinh, mở đại học, xây dựng Phật học viện, cấp học bổng cho Tăng Ni học tập và kêu gọi cộng tác viên. Tại sao lại như vậy? Phải chăng đây là tư tưởng cốt lõi của Ngài? Và đây là nền tảng mà Ngài mong muốn xây dựng cho Giáo hội, ít nhất là dưới thời Ngài lãnh đạo? Dưới đây, tôi xin phân tích những vấn đề mà Ngài đặc biệt quan tâm.
1. Phiên dịch Đại Tạng Kinh
Trong “Kinh Đại Niết Bàn”, Đức Phật đã dạy chúng đệ tử về pháp “Tứ y”: “Y pháp bất y nhân, y nghĩa bất y ngữ, y trí bất y thức, y liễu nghĩa bất y bất liễu nghĩa” (CBETA, T12, no. 374, p. 401, b28-29). Việc Ngài quan tâm đến việc phiên dịch bộ Đại Tạng Kinh ra tiếng Việt là hoàn toàn hợp lý. Đại Tạng Kinh chính là điểm tựa, là mục đích mà tất cả mọi người, dù xuất gia hay tại gia, thuộc bất kỳ quốc gia, tông phái hay Giáo hội nào, đều hướng đến. Nếu không dựa vào Pháp mà dựa vào quan điểm cá nhân, có thể dẫn đến những nguy hiểm. Khi Đại Tạng Kinh được dịch sang tiếng Việt, mọi người đều có thể đọc và y theo đó mà hành trì, nguy hiểm sẽ ít đi. Đây chính là lý do Ngài luôn nhắc đi nhắc lại tầm quan trọng của việc phiên dịch bộ Đại Tạng Kinh.
2. Thành lập cơ sở giáo dục
Đối với sự phát triển của bất kỳ tổ chức hay quốc gia nào, nền tảng giáo dục luôn được đặt lên hàng đầu. Một cá nhân không được giáo dục sẽ trở nên vô dụng trong xã hội, một tổ chức thiếu giáo dục sẽ suy tàn, và một quốc gia không coi trọng giáo dục sẽ có nền kinh tế trì trệ, kém phát triển, thậm chí cả chính trị cũng bất ổn. Sự thiết yếu của giáo dục đối với xã hội là vậy, huống chi đối với Phật giáo, với chủ trương lấy tuệ giác làm sự nghiệp. Phật học viện là hình thức giáo dục cốt lõi của Phật giáo, chuyên giảng dạy các vấn đề Phật học. Đại học cũng là một nhu cầu thực tế cho Phật giáo hiện nay, đặc biệt là Phật giáo Việt Nam. Chỉ có Đại học mới đủ tư cách để giao lưu quốc tế trong lĩnh vực chuyên môn. Có Đại học, hoặc tối thiểu là Phật học viện, mới có thể chủ động trong việc đào tạo nhân lực chuyên môn, gánh vác trách nhiệm của Giáo hội. Đây chính là lý do Ngài luôn quan tâm đến vấn đề giáo dục và chủ trương mở Phật học viện.
3. Chiêu hiền đãi sĩ
Khi đề cập đến điểm này, tôi không có ý tự ám chỉ bản thân, mà chỉ muốn dẫn lời nhắn nhủ của Hòa Thượng về việc trở về phục vụ cho Phật giáo sau khi hoàn thành việc học. Qua lời dạy này, tôi hiểu đó là chính sách “Chiêu hiền đãi sĩ” của Ngài. Trong vấn đề nhân sự, đặc biệt là nhân sự có trình độ chuyên môn, chiêu hiền đãi sĩ là yếu tố then chốt, bổ sung nguồn lực, giải quyết vấn đề và tạo động lực phát triển cho tổ chức. Kinh nghiệm từ sự phát triển toàn diện của nước Mỹ cho thấy chính sách chiêu hiền đãi sĩ, trọng dụng nhân tài luôn được đặc biệt chú trọng. Gần đây, nhờ áp dụng chính sách này, Singapore đã vươn lên trở thành một trong những quốc gia ổn định và phát triển hàng đầu châu Á. Đây chính là lý do Ngài rất chú tâm đến việc chiêu hiền đãi sĩ.
4. Thái độ dung hòa, không cố chấp
Nếu nhìn lại quá trình hoạt động của Ngài sau năm 1975, chúng ta có thể thấy những thay đổi về hình thức tưởng chừng bất thường. Việc Hòa Thượng, với vị thế và tư cách của mình, đích thân đi khắp ba miền để thăm các vị tôn túc lãnh đạo trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam, có thể lý giải như thế nào ngoài tấm lòng vô ngã vị tha, y nghĩa bất y ngữ, vì sự hòa hợp của Phật giáo? Phải chăng Ngài nhận thấy nguy cơ của sự mất hòa hợp trong Tăng đoàn? Sự mất hòa hợp đó không mang lại lợi ích cho tình hình Phật giáo hiện tại, mà còn để lại những dấu ấn không đẹp trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, cả trong và ngoài nước. Những chứng tích này sẽ là bằng chứng cụ thể để thế gian phê phán Phật pháp. Chúng ta có thể đặt ra những nghi vấn về vấn đề này, nhưng không thể quên rằng thực trạng của Phật giáo Việt Nam tại hải ngoại là minh chứng rõ ràng cho lý do Ngài phải hành động như vậy. Hơn nữa, việc tạo dựng sự hòa hợp cho Tăng đoàn không phải là điều đáng xấu hổ. Điều đáng xấu hổ là chúng ta chưa làm tốt trách nhiệm mang ánh sáng từ bi, trí tuệ của Đức Phật vào xã hội, là sự rạn nứt của Tăng đoàn. Do đó, hành động đích thân đi thăm các vị tôn túc của Ngài là một nghĩa cử cao đẹp, một hành động đáng làm và cần được khuyến khích đối với các tu sĩ Phật giáo.
Qua những phân tích trên, tôi xin đưa ra một vài nhận định cá nhân về Hòa Thượng: Ngài là một vị lãnh đạo xuất sắc của Phật giáo Việt Nam trong thời cận đại. Chủ trương của Ngài là lấy sự hưng thịnh của Phật pháp làm mục đích, lấy sự hòa hợp của Tăng đoàn làm sức mạnh, đồng thời thực thi các chính sách cụ thể như: phiên dịch Đại Tạng Kinh, triển khai giáo dục, mở đại học, Phật học viện, đào tạo Tăng tài và trọng dụng nhân tài, chiêu hiền đãi sĩ.
Thiết nghĩ, đã đến lúc chúng ta cần nhìn lại chính mình, tông môn và cả Giáo hội. Nếu thấy đường hướng của Ngài phù hợp với Chánh pháp, chúng ta nên tiếp tục duy trì và phát triển. Ngược lại, nếu không phù hợp với Phật pháp, dù thuộc tông nào, phái nào, Giáo hội nào, chúng ta cũng cần rút kinh nghiệm và điều chỉnh để tương ứng với Chánh pháp.
Tu viện Nguyên Thiều, có thể nói là nơi Ngài mong muốn thực hiện kế hoạch này. Trước và sau năm 1975, nơi đây mang nhiều kỷ niệm về Ngài. Kế hoạch của Ngài không chỉ mang lại lợi ích cho đạo pháp mà còn lợi ích cho đời, cho quốc gia, dân tộc và Phật giáo Việt Nam. Nếu không có trở ngại, những ai quan tâm và ủng hộ Ngài, xin hãy cùng nhau đồng lòng chung sức thực hiện con đường giáo dục, phiên dịch, nghiên cứu mà Ngài đã đề ra. Đó chính là cách để đáp đền công ơn của Ngài, đồng thời là cách tốt nhất để duy trì và phát huy Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.
Trên đây chỉ là những ý kiến cá nhân, không đại diện cho bất kỳ ai hay tổ chức nào.
Đài Bắc, ngày 11 tháng 07 năm 2008
[Trích Tài liệu Tang lễ HT Thích Huyền Quang]
Để hiểu sâu hơn về con đường giáo dục và hoằng pháp của Hòa thượng Thích Huyền Quang, mời quý độc giả khám phá thêm chi tiết tại chuyên mục Tiểu sử.
