Khám phá hành trình tu hành đầy ý nghĩa của Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ, từ thuở ấu thơ đã bén duyên cửa Phật tại Lào cho đến khi trở về Việt Nam để phát huy chí nguyện xuất trần. Câu chuyện về ngài không chỉ là tiểu sử cá nhân mà còn là lời dẫn dắt sâu sắc về con đường tu tập tâm linh, bạn có thể tìm hiểu thêm tại Website Chia sẻ Đạo Phật.
TIỂU SỬ
HÒA THƯỢNG THÍCH NGUYÊN CHỨNG
Hiệu: Tuệ Sỹ
Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ, thế danh Phạm Văn Thương, sinh ngày 15 tháng 02 năm 1943 theo giấy khai sinh (gia đình khai tăng tuổi để thầy đi học), tuổi thật sinh ngày 05 tháng 4 năm 1945 (nhằm ngày 23 tháng 02 năm Ất dậu), tại tỉnh Paksé, Lào.
Thân phụ: Cụ ông Phạm Văn Phận, pháp danh Trung Thảo. Thân mẫu: Cụ bà Đặng Thị Chín, pháp danh Diệu Chánh.
Đồng nguyên quán xã Nghĩa Ninh, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình, miền Trung Việt Nam.
Thuở nhỏ, Thầy thường theo mẹ đến chùa làng gần nhà, đây là nhân duyên đưa Thầy đến với con đường xuất gia. Năm 1952, trong bối cảnh chiến tranh, Thầy được cha mẹ gửi lên chùa Trang Nghiêm, Lào, để phụng sự sư phụ là Hòa thượng khai sơn. Năm 1954, khi 9 tuổi, Thầy chính thức thế phát xuất gia tại ngôi chùa này. Đến năm 12 tuổi, vị Trụ trì chùa nhận thấy tiềm năng và thiên tư đặc biệt của Thầy, đã khuyên gia đình nên đưa Thầy về Việt Nam để mở rộng cơ hội tu học.
Năm 1960, Thầy trở về Việt Nam, sống xa gia đình tại chùa Bồ Đề, một ngôi chùa nhỏ gần cầu Gia Hội, Huế. Hành trang lúc bấy giờ của Thầy là bộ kinh Diệu Pháp Liên Hoa bằng chữ Hán, một vật tùy thân quý giá mà Thầy luôn mang theo. Đến năm 1968, trong biến cố Tết Mậu Thân, bộ kinh này không may bị thất lạc tại chùa Từ Đàm, Huế. Chú của Thầy là Hòa thượng Thích Trí Quang, một nhân vật lãnh đạo Phật giáo nổi tiếng trong thập niên 1960, lúc đó cũng đang cư trú tại Huế.
Với bản tính độc lập, Thầy đã một mình rong ruổi qua nhiều địa phương như Huế, Nha Trang, Sài Gòn, Tiền Giang và các tỉnh miền Nam, tự lập và nương nhờ các tự viện lớn nhỏ. Năm 1961, 16 tuổi, Thầy thọ giới Sa-di dưới sự chứng minh của Hòa thượng Thích Hành Trụ tại Sài Gòn. Cùng năm này, Thầy an cư lần đầu tiên tại chùa Phật Ân, tỉnh Tiền Giang, bên cạnh thầy Trí Minh. Sau đó, Thầy được Hòa thượng Thích Trí Thủ nhận về Thiền viện Quảng Hương Già-lam ở Gò Vấp, Sài Gòn. Thầy tốt nghiệp Viện Cao Đẳng Phật học Sài Gòn năm 1964 và theo học tại Phân khoa Phật học, Viện Đại học Vạn Hạnh, niên khóa 1965. Với những bài viết giá trị về Thế Thân (Vasubandhu) và A-tỳ-đạt-ma câu-xá luận, Hòa thượng Thích Đức Nhuận là người đầu tiên nhận thấy tài năng của vị tu sĩ trẻ và đã giới thiệu Thầy đến Viện Đại học Vạn Hạnh. Hòa thượng Thích Mãn Giác, lúc đó là Phó Viện trưởng, đã đề nghị Viện trao bằng Cử nhân cho Thầy, nhưng Thầy đã khiêm tốn từ chối.
Năm 1970, Thầy được đặc cách bổ nhiệm Giáo sư thực thụ tại Viện Đại học Vạn Hạnh, nhờ những công trình nghiên cứu Phật học và khảo luận triết học có giá trị cao như “Đại cương về Thiền Quán” (do Đại lão Hòa thượng Thích Đôn Hậu giới thiệu, Liên Hoa ấn quán, 1967) và “Triết học về Tánh Không” (An Tiêm xuất bản, Sài Gòn, 1970). Sau đó, Thầy kiêm nhiệm vụ Xử lý Khoa trưởng Phân khoa Phật học tại Đại học này trong niên khóa 1972-1973. Thầy tinh thông chữ Hán, am tường nhiều ngoại ngữ như Anh, Pháp, Lào, Thái, Nhật, Tây Tạng, cùng hai cổ ngữ Pali và Sanskrit. Thầy cũng đọc hiểu tiếng Đức và nghiên cứu sâu về các triết gia Heidegger và Hoelderlin. Cuốn “Thiền Luận” nổi tiếng của D.T. Suzuki, tập 2 và 3, đã được Thầy dịch sang tiếng Việt, in ấn và tái bản nhiều lần từ năm 1972 đến 1975.
Năm 1973, nhận thấy Thầy say mê nghiên cứu và giảng dạy, Hòa thượng Thích Trí Thủ đã khích lệ Thầy chuẩn bị cho lễ thọ Đại giới Tỳ-kheo. Hòa thượng Tuệ Sỹ chính thức thọ giới Cụ túc tại Đại giới đàn Phước Huệ, tổ chức tại Phật học viện Trung phần, Nha Trang, năm 1973. Các vị Hòa thượng chứng minh gồm Hòa thượng Đàn đầu Thích Phúc Hộ, Hòa thượng Yết-ma Thích Giác Tánh, và các vị Giáo thọ sư Thích Trí Nghiêm, Thích Huệ Hưng.
Hòa thượng Tuệ Sỹ không chỉ uyên bác về Phật giáo Nguyên thủy và Đại thừa, mà còn tinh thông triết học phương Tây, văn chương, thơ ca và âm nhạc. Thầy nghiên cứu trực tiếp từ nguyên tác của các danh nhân Trung Hoa như Tô Đông Pha, Lý Hạ, Đỗ Phủ. Bên cạnh các khảo luận triết học và Phật học, Thầy còn có tác phẩm đầy chất thơ: “Tô Đông Pha, Những Phương Trời Viễn Mộng” (Ca Dao xb, Sài Gòn, 1973). Về âm nhạc, Thầy chơi đàn guitar, violin, piano và thổi sáo. Thầy tìm hiểu sâu sắc âm nhạc dân tộc và am tường nhạc cổ điển phương Tây. Thầy đã sáng tác nhiều bài thơ, truyện ngắn và các tiểu luận triết học, phê bình văn học đặc sắc, phần lớn được đăng trên các tạp chí Khởi Hành (1969-1972) và Thời Tập (1973-1975) tại Sài Gòn. Đồng thời, Thầy còn là Tổng Thư ký Tòa soạn Tạp chí Tư Tưởng của Đại học Vạn Hạnh. Tập thơ “Ngục trung mị ngữ” bằng chữ Hán, được Thầy sáng tác trong tù sau năm 1975, cùng các tập thơ “Giấc mơ Trường Sơn”, “Những điệp khúc cho dương cầm”, “Thiên lý độc hành” sau này đã được dịch ra tiếng Anh, Pháp, Nhật ngữ và phát hành rộng rãi ở hải ngoại.
Từ thuở thiếu thời, Thầy đã thuộc lòng các bộ kinh như Pháp Hoa, Kim Cang, Thắng Man, Duy-ma-cật. Kinh Duy-ma-cật sở thuyết đề cao tinh thần sống đạo một cách giản dị, không cần y áo hay sự phô trương. Có thể nói, tư tưởng Bồ-tát đạo trong kinh này và kinh Pháp Hoa đã ảnh hưởng sâu sắc đến suốt cuộc đời tu học và hành đạo của Thầy. Với kiến thức Phật học uyên thâm, Thầy đã viết giảng luận “Huyền thoại Duy-ma-cật”. Đi theo hình mẫu lý tưởng này, Thầy không ngại dấn thân phụng sự và đã trở thành biểu tượng đấu tranh ôn hòa cho các giá trị nhân quyền và tự do tôn giáo tại Việt Nam.
Năm 1973, Thầy về Nha Trang, giữ chức vụ Giám học tại Phật học viện Trung phần (nay là Viện Cao đẳng Phật học Hải Đức), dưới sự Giám viện của Hòa thượng Thích Trí Thủ.
Năm 1975, sau sự kiện 30/04, cơ sở Phật học viện Trung phần bị đóng cửa. Hòa thượng Tuệ Sỹ trở về ẩn tu tại một khu đất của chùa ở ven rừng Vạn Giã, cách Nha Trang khoảng 60 km.
Đến năm 1977, Thầy vào Sài Gòn, lánh nạn tại chùa Tập Thành, quận Bình Thạnh. Năm 1978, Thầy bị chính quyền bắt giam 3 năm không xét xử (với lý do cư trú bất hợp pháp). Cuối năm 1980, Thầy được phóng thích.
Do hoàn cảnh nhiều năm lang thang và bị giam cầm, nhận thấy giới thể có thể bị ảnh hưởng và không còn thanh tịnh (*), Hòa thượng được thọ lại Đại giới Cụ túc tại Quảng Hương Già-lam vào năm 1982. Lễ đại giới có sự chứng minh của Hòa thượng Thích Trí Thủ (Đàn đầu), Hòa thượng Thích Trí Quang (Tôn chứng) và Hòa thượng Thích Trí Tịnh (Tuyên luật sư).
Từ năm 1980 đến 1984, Thầy đảm nhiệm vai trò Giáo thọ sư cho khóa đào tạo đặc biệt tại Tu viện Quảng Hương Già-lam, do Trưởng lão Hòa thượng Thích Trí Thủ làm Giám viện.
Tháng 4/1984, Thầy lại bị bắt cùng Giáo sư Trí Siêu Lê Mạnh Thát và 17 tăng ni, cư sĩ Phật tử. Trong phiên tòa kéo dài nhiều ngày vào cuối tháng 9 năm 1988, hai vị Thầy đã tự bào chữa cho mình vì không chấp nhận luật sư chỉ định. Chính quyền đã kết án TỬ HÌNH Hòa thượng Tuệ Sỹ và Giáo sư Trí Siêu với cáo buộc “âm mưu lật đổ chính quyền”.
Nhờ sự đấu tranh tích cực của các nhân sĩ trong và ngoài nước, cùng sự can thiệp của các cơ quan nhân quyền quốc tế, Hà Nội đã buộc phải giảm án cho hai vị Thầy xuống còn 20 năm khổ sai. Hòa thượng bị giam tại Xuân Lộc, Đồng Nai, sau đó chuyển đến trại A-20, tỉnh Phú Yên. Tháng 10/1994, do sự phản kháng trong tù, Thầy bị chính quyền tách ra và đưa đến trại giam Ba Sao, miền Bắc. Tổ chức Human Rights Watch đã trao tặng giải thưởng đấu tranh nhân quyền (Hellman-Hammett Awards) cho Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ cùng 7 nhà đấu tranh khác vào ngày 03/8/1998.
Năm 1998, Hà Nội trả tự do cho Hòa thượng cùng một số người khác. Trước đó, Thầy đã tuyệt thực trong tù. Lý do là vì trước khi thả, chính quyền gây áp lực buộc Thầy ký vào đơn xin “khoan hồng” gửi Chủ tịch nước. Thầy đã trả lời dứt khoát: “Chúng tôi đã không công nhận giá trị của phiên tòa này, tính pháp lý của bản án này. Các ông không có quyền giam giữ chúng tôi thì sao lại có quyền khoan hồng hay ân xá chúng tôi.” Khi công an thuyết phục rằng không có đơn sẽ không có lý do để thả, Thầy khẳng khái đáp: “Đó là việc của các ông; nhưng nếu các ông cứ áp lực buộc chúng tôi ký đơn, tôi sẽ tuyệt thực phản đối.” Cuối cùng, Hà Nội đã phải trả tự do cho Thầy vào ngày 01/9/1998, sau 10 ngày không ăn và 4 ngày không uống, tổng cộng 14 ngày tuyệt thực. Hòa thượng Tuệ Sỹ tuyệt thực một mình, không có tổ chức và bên ngoài không ai hay biết. Thấy sức khỏe Thầy suy kiệt nhanh chóng, chính quyền đã vội đưa bác sĩ vào điều trị và đưa Thầy ra khỏi trại giam.
Ngày 02/9/1998, lúc 10 giờ 45, Hòa thượng Tuệ Sỹ được đưa lên xe lửa về Nam. Ngồi suốt 36 tiếng trên xe với sức khỏe yếu do tuyệt thực, Thầy không chịu nổi nên đã được đưa xuống ga Nha Trang, tạm trú tại Phật học viện Hải Đức. Ít lâu sau, công an lại ra lệnh yêu cầu Thầy về chùa Già Lam ở Sài Gòn, không được phép ở Nha Trang. Hòa thượng từ chối và gửi một bức thư cho chính quyền, nêu rõ: “Một là tôi được tự do ở đâu tôi muốn, hai là tôi trở lại nhà tù. Chứ mấy ông không thể thả tôi ra khỏi nhà tù nhỏ để nhốt tôi vào nhà tù lớn hơn là cả đất nước này.” Tin tức này lập tức được loan truyền trên báo chí hải ngoại thời đó.
Tổng cộng, Hòa thượng đã phải đối mặt với một án tử hình, 17 năm tù đày và ba lần bị quản thúc, trải qua các nhà tù khắc nghiệt khắp miền Nam, Trung, Bắc. Tuy nhiên, những biến cố đó không thể lay chuyển được một người đã quyết tâm sống trọn vẹn với những giá trị mình đã chọn, giữ vững lòng thanh thản, bao dung mà không chút oán hận.
Tháng 4 năm 1999, Hòa thượng Thích Quảng Độ đề cử Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ làm Tổng Thư ký Viện Hóa Đạo GHPGVNTN.
Năm 2002, với trách nhiệm Đệ Nhất Phó Viện trưởng Viện Hóa Đạo, Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ là một trong những nhà lãnh đạo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất. Ngài đã có những đóng góp quan trọng cùng nhị vị Hòa thượng Thích Huyền Quang và Thích Quảng Độ trong công cuộc đấu tranh đòi hỏi quyền tự do tôn giáo tại Việt Nam, đặc biệt là quyền phục hoạt của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất.
Những lời tuyên bố của người tù lương tâm tôn giáo Thích Tuệ Sỹ tại tòa án, cùng khí phách kiên cường trong tù, là tấm gương sáng và niềm tự hào của Phật giáo cũng như dân tộc: “Lập trường của chúng tôi là lập trường của Phật giáo, là lập trường của toàn khối dân tộc.” Đối với Hòa thượng Tuệ Sỹ, sức mạnh của Phật giáo không nằm ở chính trị, mà ở văn hóa và xã hội, trong đó giáo dục đóng vai trò then chốt. Tuy nhiên, công cuộc giáo dục này phải do Giáo hội độc lập đề ra, không chịu sự kiểm soát hay áp đặt của bất kỳ thế lực nào, mới có thể đào tạo nên những thế hệ tăng ni tài đức, phụng sự xã hội và xứng đáng với Tăng Bảo.
Tiếp đó, đầu tháng 3/2003, theo sự khâm lệnh của Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang, khi đang bị quản thúc tại Quảng Hương Già-lam, Thầy đã tháp tùng Hòa thượng Thích Huyền Quang ra Hà Nội để chữa bệnh và chuẩn bị gặp Thủ tướng đương thời là ông Phan Văn Khải. Mục đích của chuyến đi là yêu cầu ngài Thủ tướng giải quyết việc đình chỉ sinh hoạt của GHPGVNTN từ sau năm 1975, cũng như việc cấm đoán, quản chế không xét xử đối với bản thân Hòa thượng cùng Hòa thượng Thích Quảng Độ và một số tăng ni, Phật tử khác. Trong dịp này, đại diện ngoại giao của 6 quốc gia thành viên Liên Âu và Hoa Kỳ tại Hà Nội đã chủ động tìm gặp Hòa thượng Tuệ Sỹ, mời Thầy đến thăm và làm việc tại trụ sở ngoại giao của phái bộ Liên Âu ở Hà Nội. Họ đón tiếp Thầy một mình, không có thị giả hay người phiên dịch.
Ngày 01/10/2003, Hòa thượng cùng nhị vị Hòa thượng Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ đã tổ chức Đại hội bất thường GHPGVNTN tại Tu viện Nguyên Thiều, Bình Định. Sau đại hội này, hai vị Đại lão Hòa thượng cùng Hòa thượng Tuệ Sỹ và một số tăng ni tham dự đã bị chính quyền quản chế mỗi người một nơi và giám sát chặt chẽ. Tuy nhiên, với tinh thần “uy vũ bất năng khuất”, Hòa thượng đã sát cánh cùng nhị vị Hòa thượng Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ ủy thác cho các GHPGVNTN hải ngoại tổ chức Đại hội bất thường GHPGVNTN tại Tu viện Quảng Đức, Melbourne, Úc Châu trong cùng năm 2003. Đại hội này đã công bố đầy đủ nhân sự lãnh đạo Giáo hội trong nước và hải ngoại, và toàn thể tăng ni, Phật tử đã suy tôn Đại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang lên ngôi vị Đệ Tứ Tăng thống GHPGVNTN.
Năm 2008, Đức Đệ Tứ Tăng thống GHPGVNTN Thích Huyền Quang viên tịch. Ngôi vị được trao lại cho Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ, trở thành Đệ Ngũ Tăng thống GHPGVNTN.
Từ đây, Hòa thượng Tuệ Sỹ được yên tâm dành trọn thời gian và sức lực cho công việc trước tác, phiên dịch Phật ngôn, và đào tạo các nhóm tăng ni đủ trình độ nghiên cứu Phật học, chuẩn bị cho công tác phiên dịch kinh điển sau này. Trong giai đoạn này, Thầy đã hoàn thành việc phiên dịch, hiệu đính 4 bộ kinh A-hàm, kinh Duy-ma-cật sở thuyết, bộ Luật Tứ phần, các bộ Luận Thành Duy Thức, A-tì-đạt-ma Câu-xá, cùng nhiều trước tác quan trọng khác…
Tháng 03/2019, Đại lão Hòa thượng Đệ Ngũ Tăng thống GHPGVNTN, biết sức khỏe không còn nhiều, đã mời Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ đến gặp tại chùa Từ Hiếu, Quận 8, Sài Gòn để phú chúc di ngôn và ấn tín của Viện Tăng thống GHPGVNTN, ủy nhiệm Hòa thượng Tuệ Sỹ lãnh đạo và xử lý thường vụ Viện Tăng thống sau khi Ngài viên tịch.
Đến tháng 02/2020, Đại lão Hòa thượng Đệ Ngũ Tăng thống GHPGVNTN thuận thế vô thường, an nhiên thị tịch tại chùa Từ Hiếu. Lúc này, Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ đang điều trị bệnh nặng tại Nhật Bản và bị mắc kẹt tại đây do đại dịch Covid-19, không thể về nước.
Tháng 10/2020, ngay khi các chuyến bay thương mại được nối lại, Hòa thượng là một trong những người đầu tiên về nước, dù các bác sĩ Nhật Bản đã khuyên nên ở lại điều trị và cảnh báo rằng cuộc sống có thể không kéo dài quá 6 tháng nếu rời đi.
Qua năm 2021, đại dịch Covid-19 bùng phát trở lại ở châu Á, đặc biệt là tại Sài Gòn. Với các biện pháp phong tỏa nghiêm ngặt của chính quyền, mọi dịch vụ y tế đều bị đình trệ, ngoại trừ việc điều trị Covid-19. Tuy nhiên, Hòa thượng vẫn kiên trì, mạnh mẽ chống chọi cơn bạo bệnh. Hàng ngày, Ngài ngồi bên bàn dịch Kinh, hiệu đính các tác phẩm, và tổ chức sắp xếp thư mục cho công trình phiên dịch Đại Tạng Kinh Việt Nam theo tiêu chuẩn học thuật quốc tế.
Tháng 11/2021, Ngài chủ trì Đại hội lần thứ nhất của Hội đồng Hoằng pháp, quyết định thành lập Hội đồng Phiên dịch Tam tạng Lâm thời. Hội đồng này kế thừa Hội đồng Phiên dịch Tam tạng do chư tôn Trưởng lão Hội đồng Giáo phẩm Trung ương – Viện Tăng thống GHPGVNTN thành lập từ năm 1973, nhưng sau đó bị gián đoạn do chiến tranh và nhiều chướng duyên khác.
Ngày 03/12/2021, Hội đồng Phiên dịch Tam tạng Lâm thời chính thức được thành lập theo Thông bạch số 11/VTT/VP. Từ đây, công việc phiên dịch, hiệu đính, chú giải văn bản và tổ chức in ấn được đẩy mạnh, tuân thủ quy củ đã định. Cuối cùng, 29 tập đầu tiên được khởi in trong năm 2022, với sự đóng góp công đức của các bậc Tôn túc, Tăng ni, Phật tử trong và ngoài nước, đặt nền móng cho công trình Đại Tạng Kinh Việt Nam chính thức tiếp nối từ Hội nghị Toàn thể Hội đồng Phiên dịch Tam tạng tháng 10/1973.
Qua năm 2022:
Ngày 21/8, tại chùa Phật Ân, Long Thành, Đồng Nai, Hội đồng Giáo phẩm Trung ương GHPGVNTN đã suy cử Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ đảm nhiệm chức vụ Chánh Thư ký kiêm Xử lý thường vụ Viện Tăng Thống.
Tiếp đó, ngày 22/8 tại chùa Từ Hiếu, Quận 8, Sài Gòn, đã cử hành lễ truyền trao ấn tín và khai ấn Viện Tăng Thống cho Hòa thượng.
Từ đó, Hòa thượng đã dồn hết thời gian và sức khỏe còn lại để chuyên tâm phiên dịch kinh tạng, hiệu đính và chú giải cho các dịch phẩm của các thế hệ sau.
Những ngày cuối đời, từ giường bệnh, Hòa thượng đã cẩn thận sắp xếp, dặn dò những công việc cần làm của GHPGVNTN cũng như công trình phiên dịch Đại Tạng Kinh Việt Nam cho các Hội đồng. Sau đó, Thầy thuận thế vô thường, thâu thần thị tịch tại chùa Phật Ân, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, Việt Nam, vào lúc 16:00 giờ, ngày 24 tháng 11 năm 2023 (nhằm ngày 12 tháng 10 năm Quý Mão), trụ thế 79 năm, giới lạp 46 [*].
Sự ra đi của Hòa thượng không chỉ là mất mát lớn lao của GHPGVNTN mà còn là nỗi đau chung của Phật giáo Việt Nam, cũng như sự khuất bóng đáng tiếc của một anh tài tinh hoa dân tộc. Tuy nhiên, di sản văn hóa, giáo dục to lớn mà Hòa thượng để lại xứng đáng là hành trang quý báu cho các hành giả và học giả muôn đời sau.
Nam mô Từ Lâm Tế Chánh tông Tứ thập tứ thế, Việt Nam Phật Giáo Thống Nhất Giáo Hội, Tăng Thống Viện Chánh Thư Ký Xử lý Thường Vụ, húy thượng NGUYÊN hạ CHỨNG, hiệu TUỆ SỸ, Trưởng lão Hòa thượng Giác linh thùy từ chứng giám.
Sài Gòn ngày 24 tháng 11 năm 2023.
Môn đồ Pháp quyến
[*] Giới lạp là số năm thọ Cụ túc làm tuổi; Hạ lạp là số năm an cư kiết hạ làm tuổi. Giới lạp của Hòa thượng Tuệ Sỹ nếu tính từ khi thọ đại giới (1973) đến khi viên tịch (2023) là 50 năm. Tuy nhiên, khi còn sinh tiền, Hòa thượng có căn dặn trừ bớt 4 năm lang thang bất định và ở tù mà Thầy tự xét là “giới thể có thể bị ảnh hưởng, không thanh tịnh”. Vì lẽ đó, môn đồ pháp quyến phụng mệnh ân sư, chỉ ghi 46 giới lạp.

Biography of The Most Venerable Thích Nguyên Chứng
Dharma / Pen Name: Tuệ Sỹ
The Most Venerable Thích Tuệ Sỹ (TTS), birth name Phạm Văn Thương, was born on February 15, 1943, as per his birth certificate (his family increased his age for schooling). His actual birth date was April 5, 1945 (corresponding to February 23 of the Year of the Rooster), in Paksé province, Laos.
Father: Mr. Phạm Văn Phận, Dharma name Trung Thảo.
Mother: Mrs. Đặng Thị Chín, Dharma name Diệu Chánh.
Both parents hailed from Nghĩa Ninh commune, Đồng Hới city, Quảng Bình province, Central Vietnam.
In his youth, he frequently accompanied his mother to the local village pagoda, a connection that eventually led him to desire spending all his time there. During wartime in 1952, his parents entrusted him to Trang Nghiêm Pagoda in Paksé, Laos, to assist the founding Abbot. In 1954, at the age of nine, he formally received novice ordination at this pagoda. By age 12, the Abbot recognized his exceptional aptitude and encouraged his family to send him to Vietnam for advanced studies.
In 1960, he returned to Vietnam alone, residing at Bồ Đề Pagoda, a small temple near Gia Hội Bridge in Huế. His sole possession then was the Saddharma Puṇḍarīka Sūtra (Lotus Sutra) in classical Chinese, which he always kept with him. This sutra was unfortunately lost during the 1968 Tết Offensive at Từ Đàm Pagoda in Huế. His uncle was The Most Venerable Thích Trí Quang, a prominent Buddhist leader of the 1960s, who was also living in Huế at that time.
Driven by an independent spirit, he traveled extensively throughout Vietnam, including Huế, Nha Trang, Saigon, Tiền Giang, and other southern provinces, supporting himself and studying at various large and small monasteries. In 1961, at 16, he was ordained as a novice monk under The Most Venerable Thích Hành Trụ in Saigon. He completed his first monastic retreat as a novice at Phật Ân Pagoda in Tiền Giang province, alongside Thầy Trí Minh. Subsequently, he was accepted by The Most Venerable Thích Trí Thủ into the Quảng Hương Già-lam Zen Monastery in Gò Vấp, Saigon. He graduated from the Saigon College of Buddhist Studies in 1964 and attended the Faculty of Buddhist Studies at Vạn Hạnh University in 1965. His scholarly work on Vasubandhu and the Abhidharmakośa-bhāṣya caught the attention of The Most Venerable Thích Đức Nhuận, who introduced him to Vạn Hạnh University. The Most Venerable Thích Mãn Giác, then Vice-President, proposed granting him a Bachelor’s degree, but he respectfully declined.
In 1970, his significant Buddhist research and philosophical treatises, such as “An Outline of Meditation” (published by Liên Hoa in 1967) and “The Philosophy of Emptiness” (published by An Tiêm in Saigon in 1970), earned him an appointment as a full professor at Vạn Hạnh University. He later served as the Acting Dean of the Faculty of Buddhist Studies from 1972 to 1973. He was proficient in classical Chinese and fluent in English, French, Lao, Thai, and Japanese, as well as the ancient languages of Pali and Sanskrit. He also possessed a strong command of German, with a deep study of Heidegger and Hoelderlin. The renowned “Essays in Zen Buddhism” by D.T. Suzuki, volumes 2 and 3, were translated by him into Vietnamese and reprinted multiple times between 1972 and 1975.
In 1973, observing his dedication to research and teaching, The Most Venerable Thích Trí Thủ urged him to prepare for full ordination as a Bhikkhu. Consequently, Novice Tuệ Sỹ officially received full ordination (Upasampadā) at the Phước Huệ Great Ordination Platform held at the Buddhist Academy of Central Vietnam in Nha Trang in 1973. The ceremony was presided over by The Most Venerable Thích Phúc Hộ (Ordination Master), with The Most Venerable Thích Giác Tánh serving as Kammavācācariya and The Most Venerable Thích Trí Nghiêm and The Most Venerable Thích Huệ Hưng as Acāryas.
The Most Venerable Thích Tuệ Sỹ was not only deeply knowledgeable in Theravāda and Mahāyāna Buddhism but also well-versed in Western philosophy, literature, poetry, and music. He engaged directly with the original works of celebrated Chinese literary figures such as Su Dongpo, Li He, and Du Fu. Beyond his philosophical and Buddhist scholarly contributions, he authored the evocative work “Tô Đông Pha, The Distant Dreamy Skies” (1973, Ca Dao Press, Saigon). A gifted musician, he played the guitar, violin, piano, and flute, and possessed a profound understanding of both traditional Vietnamese music and Western classical music. His poetry, short stories, philosophical essays, and critical literary analyses, largely published in the Saigon magazines “Khởi Hành” (1969-1972) and “Thời Tập” (1973-1975), garnered significant acclaim. He also served as the Executive Editor of Vạn Hạnh University’s “Tư Tưởng—Thought” magazine. His notable Chinese poetry collection, “Ngục Trung Mỵ Ngữ” (Whispers from Prison), was written during his imprisonment after 1975. His later poetry collections, “Giấc mơ Trường Sơn” (The Trường Sơn Dream), “Những điệp khúc cho dương cầm” (Refrains for Piano), and “Thiên Lý Độc Hành” (Odyssey Unto Self), were translated into English, French, and Japanese and widely distributed internationally.
From a young age, he had memorized key Mahāyāna sutras such as the Lotus Sutra, Vajracchedika Prajñāpāramitā Sūtra, Śrīmālā-siṃhanāda Sūtra, and the Vimalakirti Sutra. The Vimalakirti Sutra, in particular, champions the ideal of embodying the Bodhisattva path without outward religious markers. It highlights the principle that one’s suffering is intertwined with the suffering of all sentient beings, inspiring selfless service. Inspired by this ideal and drawing upon his profound Buddhist knowledge, The Most Venerable Thích Tuệ Sỹ composed the discourse “The Legend of Vimalakirti.” He exemplified this spirit through his unwavering commitment to serving others and became a symbol of peaceful advocacy for human rights and religious freedom in Vietnam.
In 1973, he returned to Nha Trang to serve as the Academic Dean of the Hải Đức College of Buddhist Studies.
Following the events of April 30, 1975, the college was closed. He then retreated to a monastic property on the outskirts of Vạn Giã forest, approximately 60 kilometers from Nha Trang.
By 1977, he had moved to Saigon, residing at Già Lam Temple in the Gò Vấp district. In 1978, he was imprisoned by the government for three years without trial, cited for “illegal residency.” He was released in late 1980.
Due to the hardships of years of wandering and imprisonment, and sensing that his monastic precepts might have been compromised, he underwent full Bhikkhu ordination again at Quảng Hương Già-lam Monastery in 1982. The ceremony was officiated by The Most Venerable Thích Trí Thủ as the Ordination Master, with The Most Venerable Thích Trí Quang as the Venerable Witness and The Most Venerable Thích Trí Tịnh as the Preceptor.
From 1980 to 1984, he served as a Dharma instructor for a special training program at Quảng Hương Già Lam Monastery, under the directorship of Elder Most Venerable Thích Trí Thủ.
In April 1984, he was arrested along with Professor Trí Siêu Lê Mạnh Thát and seventeen other monks and lay Buddhists. In September 1988, following a trial that lasted several days, The Most Venerable Thích Tuệ Sỹ and Professor Trí Siêu were sentenced to death for alleged “conspiracy to overthrow the government.” They had chosen to represent themselves, refusing state-appointed defense lawyers. Intense campaigning by domestic and international figures, along with intervention from international human rights organizations, led to the sentence being commuted to 20 years of hard labor. He was initially imprisoned in Xuân Lộc, Đồng Nai province, and later transferred to camp A-20 in Phú Yên province. Due to his continued resistance within the prison system, he was isolated and moved to Ba Sao prison in northern Vietnam in October 1994. On August 3, 1998, Human Rights Watch recognized his human rights activism by awarding him the Hellman-Hammett Award, alongside seven other activists.
In 1998, he was released by the Vietnamese authorities, along with several others. Prior to his release, he had undertaken a hunger strike in prison. The authorities had pressured him to sign a petition to the President requesting clemency. He firmly stated, “We do not recognize the validity of this trial or the legality of this verdict. If you have no right to detain us, how can you have the right to grant us amnesty?” When police insisted that a petition was necessary for his release, he reiterated, “That is your concern; but if you continue to pressure me to sign, I will engage in a hunger strike in protest.” He was released on September 1, 1998, after enduring a 14-day hunger strike, including the last four days without water. This solitary protest was unknown to the outside world. Observing his rapid health decline, the authorities promptly arranged for medical care and his release from prison.
At 10:45 a.m. on September 2, 1998, he was placed on a train heading south. After 36 hours of travel, severely weakened by the hunger strike, he could no longer continue and was disembarked at Nha Trang station. He stayed temporarily at the Hải Đức Buddhist Institute. Shortly thereafter, authorities ordered him to return to Già Lam Temple in Saigon and forbade him from staying in Nha Trang. He refused, writing a letter to the authorities stating, “Either I am free to live where I choose, or I will return to prison. You cannot release me from a small prison only to confine me within a larger one—this entire country.” This stance was widely reported in overseas media at the time.
Throughout his life, The Most Venerable Thích Tuệ Sỹ faced a death sentence, 17 years of imprisonment, and three periods of house arrest, enduring harsh conditions in prisons across the South, Central, and North of Vietnam. Yet, these trials did not alter his unwavering commitment to his chosen values, maintaining a serene and compassionate disposition without any trace of resentment.
In April 1999, The Most Venerable Thích Quảng Độ nominated him as Secretary-General of the Viện Hóa Đạo (Institute for the Propagation of the Dharma) of the Unified Buddhist Church of Vietnam (GHPGVNTN).
In 2002, serving as First Deputy Head of the Viện Hóa Đạo, he became a key leader within the Unified Buddhist Church of Vietnam. Alongside The Most Venerable Thích Huyền Quang and The Most Venerable Thích Quảng Độ, he made significant contributions to the struggle for religious freedom in Vietnam, particularly advocating for the restoration of the Unified Buddhist Church of Vietnam’s activities.
His pronouncements in court as a prisoner of conscience and his resolute spirit in captivity serve as a luminous example and a source of immense pride for Buddhism and the nation. He famously declared, “Our position is the position of Buddhism, the position of the entire national bloc.” For him, Buddhism’s strength lay not in politics but in culture and society, with education playing a pivotal role. He stressed that for education to be effective, it must be independently formulated by the Sangha, free from external control or imposition, to cultivate virtuous and capable monks and nuns who can serve society and uphold the dignity of the Sangha.
In early March 2003, following the instruction of Elder Most Venerable Thích Huyền Quang, who was under house arrest at Quảng Hương Già-lam, he accompanied him to Hanoi for medical treatment. The purpose was to meet with Prime Minister Phan Văn Khải to address the suspension of the Unified Buddhist Church of Vietnam’s activities since 1975, as well as the ongoing persecution and house arrest of himself, The Most Venerable Thích Quảng Độ, and other Buddhist figures. During this visit, diplomatic representatives from six EU member states and the United States proactively met with him, inviting him to their offices in Hanoi, unaccompanied by attendants or translators.
On October 1, 2003, he, along with The Most Venerable Thích Huyền Quang and The Most Venerable Thích Quảng Độ, convened an Extraordinary General Assembly of the Unified Buddhist Church of Vietnam at Nguyên Thiều Monastery in Bình Định. Following this assembly, the two Elder Monks, along with himself and other participants, were placed under stringent government surveillance and house arrest. Undeterred, he worked with the two Elder Monks to entrust overseas branches of the GHPGVNTN with organizing an Extraordinary General Assembly at Quảng Đức Monastery in Melbourne, Australia, in the same year. This assembly officially announced the leadership structure of the Church, both domestically and internationally, and Elder Most Venerable Thích Huyền Quang was enthroned as the Fourth Supreme Patriarch of the GHPGVNTN.
In 2008, The Most Venerable Thích Huyền Quang, the Fourth Supreme Patriarch, passed away. The position was succeeded by Elder Most Venerable Thích Quảng Độ, who became the Fifth Supreme Patriarch of the GHPGVNTN.
From this point onwards, he dedicated his time and remaining strength to writing, translating Buddhist scriptures, and mentoring groups of monks in Buddhist studies and translation. During this period, he completed the translation and revision of four Āgama sutra collections, the Vimalakirti Sutra, the Four-Part Vinaya, and major philosophical works such as the Triṃśikā-vijñapti-kārikā (Abhidharmakośa) and others.
In March 2019, recognizing his declining health, the Fifth Supreme Patriarch invited him to Từ Hiếu Temple in District 8, Saigon. There, the Patriarch conferred upon him the final instructions and the seal of the Supreme Council Sangha (Sangharaja Institute), entrusting him with the leadership and executive responsibilities of the Institute following his passing.
In February 2020, the Fifth Supreme Patriarch passed away peacefully at Từ Hiếu Temple. At that time, The Most Venerable Thích Tuệ Sỹ was undergoing intensive medical treatment in Japan and was unable to return to Vietnam due to the COVID-19 pandemic.
As soon as commercial flights resumed in October 2020, he was among the first to return to Vietnam, despite Japanese doctors advising him to stay for treatment and warning of a limited life expectancy if he departed.
In 2021, as the COVID-19 pandemic surged across Asia, particularly in Saigon, and medical services were severely restricted due to lockdowns, he tenaciously battled his severe illness. Each day, he diligently worked at his translation desk, revising texts and organizing the catalog for the ambitious project of translating the Vietnamese Buddhist Canon to international academic standards.
In November 2021, he presided over the inaugural meeting of the Dharma Propagation Council, which resolved to establish a Provisional Tripitaka Translation Council. This council would continue the work of the original Tripitaka Translation Council, initiated in 1973 by senior monks of the Central Religious Council – Supreme Council Sangha of the Unified Buddhist Church of Vietnam, but which had been interrupted by conflict and other obstacles.
On December 3, 2021, the Provisional Tripitaka Translation Council was formally established via Directive No. 11/VTT/VP. Translation, revision, textual verification, and printing efforts were subsequently accelerated according to established protocols. The first 29 volumes were slated for publication in 2022, representing a collective effort by venerable monks, nuns, and lay Buddhists both within Vietnam and abroad, laying the foundation for the ongoing Vietnamese Buddhist Canon project initiated in October 1973.
In 2022:
On August 21, at Phật Ân Temple in Long Thành, Đồng Nai, the Central Religious Council of the Unified Buddhist Church of Vietnam elected him as Chief Secretary and Acting Executive Head of the Supreme Council Sangha.
On August 22, at Từ Hiếu Temple in District 8, Saigon, a ceremony was held to transfer the official seal and inaugurate him as the head of the Supreme Council Sangha.
Subsequently, he devoted all his remaining time and energy to translating Buddhist scriptures, editing, and verifying the translations of younger scholars.
In his final days, from his sickbed, he meticulously organized and provided instructions for the affairs of the Unified Buddhist Church of Vietnam and the Vietnamese Buddhist Canon translation project. He peacefully passed away at Phật Ân Temple, Long Thành district, Đồng Nai province, Vietnam, at 4:00 PM on November 24, 2023, corresponding to the 12th day of the 10th lunar month of the Year of the Cat. He lived for 79 years and completed 46 years of monastic observance [*].
His passing is a profound loss not only for the Unified Buddhist Church of Vietnam but also a shared sorrow for Vietnamese Buddhism and a regrettable absence of a brilliant national intellectual and cultural luminary. However, the immense cultural and educational legacy he leaves behind will undoubtedly serve as an invaluable resource for practitioners and scholars for generations to come.
Homage to the 44th generation of the True Lâm Te Sect, Unified Buddhist Church of Vietnam, Chief Secretary cum Acting Executive Head of the Supreme Council Sangha (Sangharaja Institute), Dharma name: thượng Nguyên hạ Chứng, posthumously titled Tuệ Sỹ, Elder Most Venerable.
Saigon, November 24, 2023
Compiled by the Dharma disciples and relatives.
[*] In Buddhist monastic tradition, seniority is measured by the number of years since full ordination (Giới lạp) or the number of completed summer retreats (Hạ lạp). While The Most Venerable Thích Tuệ Sỹ’s Giới lạp reached fifty years by 2023, he had requested that four years spent in wandering and imprisonment be deducted, as he felt his monastic discipline might have been compromised during those times. Respecting his wishes, his disciples recorded forty-six years of monastic observance.
Để tìm hiểu sâu hơn về cuộc đời và sự nghiệp của những bậc trưởng lão như Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ, mời quý độc giả khám phá thêm trong chuyên mục Tiểu sử.

