Những năm 1970, Viện Vạn Hạnh quy tụ những bậc thầy uyên bác, được ví như “Ngũ Bá Vạn Hạnh”, trong đó Thượng tọa Tuệ Sỹ là một nhân vật đặc biệt. Dù phong cách lãng tử của ông gợi nhớ đến các nhân vật kiếm hiệp, nhà báo nhận thấy khó tiếp cận Thượng tọa hơn các vị khác. Dù vậy, những câu chuyện về cuộc đời và tư tưởng của ông vẫn ẩn chứa nhiều điều đáng khám phá tại Chia sẻ Đạo Phật.
Trong giới tu sĩ trẻ tuổi những năm 1970, Thượng tọa Tuệ Sỹ là một hình ảnh nổi bật, toát lên vẻ uyên bác và phong thái cao quý. Thời bấy giờ, ảnh hưởng của các bộ truyện kiếm hiệp Kim Dung còn lan tỏa mạnh mẽ, khiến hình ảnh “Võ Lâm Ngũ Bá” từ “Anh Hùng Xạ Điêu” dường như bước ra đời thực. Những nhân vật phụ nữ trong truyện như Kim Bà Bà, Triệu Minh, Chu Chỉ Nhược, hay những nhân vật đào hoa như Đoàn Chính Thuần, hay những người gặp may mắn như Đoàn Dự, thậm chí cả những kẻ hèn hạ luồn lách như Vi Tiểu Bảo, đều có thể tìm thấy bóng dáng nơi đời thường. Trong bối cảnh đó, tại Viện Vạn Hạnh, có thể ví von năm vị tăng sĩ nổi bật như “Ngũ Bá Vạn Hạnh”: Thượng tọa Minh Châu (Trung Thần Thông Vương Trùng Dương Thượng Tọa Minh Châu, Viện trưởng), Hòa thượng Bùi Giáng (Bắc Cái Hồng Thất Công), Thiền sư Ngô Trọng Anh (Nam Đế), Thiền sư Phạm Công Thiện (Tây Độc), và Thượng tọa Tuệ Sỹ (Đông Tà).
Trong những lần ghé thăm Viện Vạn Hạnh, tôi đã có dịp tiếp xúc với nhiều chư tăng ni. Với góc nhìn của một người làm báo, tôi có thể trò chuyện cởi mở với hầu hết mọi người, ngoại trừ Thượng tọa Tuệ Sỹ. Trong “Ngũ Bá Vạn Hạnh” ấy, tôi kính trọng Thượng tọa Minh Châu, có mối quan hệ giao du với Thiền sư Phạm Công Thiện, nhưng khi đối diện với Thượng tọa Tuệ Sỹ, tôi luôn cảm thấy có một sự dè dặt nhất định, lời nói nhẹ nhàng hơn và cái nhìn cũng bớt đi phần sắc bén.
Việc xuất gia tu hành như Đại đức Sân, hay hành thiền như Thiền sư Si, đối với tôi, có thể đạt được quả vị hoặc trụ trì một ngôi chùa nhỏ. Tuy nhiên, Thượng tọa Tuệ Sỹ lại vượt lên trên những khuôn mẫu thông thường đó. Ông là một con người chân thật, và còn hơn cả sự chân thật của con người. Dù vậy, có lần ông đã tỏ ra không hài lòng với tôi. Ông đã ngồi rất lâu tại Tòa soạn Thời Tập, chỉ vì tôi đã đăng một bài thơ do ông dịch mà chưa hoàn chỉnh, coi như đã hoàn thành.
Vào thời điểm đó, cùng với các cộng sự như Đỗ Khánh Hoan, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Hữu Hiệu, Cao Huy Khanh, Lê Tài Điển và Trùng Dương, Thượng tọa Tuệ Sỹ đã tham gia Ban Biên Tập của tạp chí Thời Tập, tiền thân của Khởi Hành trước đó.
Khoảng năm 1984, khi đang ở Hoa Kỳ, tôi nghe tin Hà Nội bao vây chùa Già Lam. Từ xa hàng ngàn dặm, tôi linh cảm ngay rằng Thượng tọa Tuệ Sỹ đang gặp nguy hiểm. Ngày 30 tháng 9 năm 1988, vị chân tu ấy cùng với học giả Trí Siêu Lê Mạnh Thát, các cựu sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng Hòa như Phan Văn Trí, Tôn Thất Kỳ, và 17 cá nhân khác thuộc Mặt Trận Nhân Quyền Việt Nam và Lực Lượng Việt Nam Tự Do, đã bị kết án tử hình. Tôi đã nhờ Giáo sư Đỗ Đình Tuân dịch một bài thơ của bạn tôi sang tiếng Anh, có tựa đề “Mười Năm Cuộc Lữ”. Ngay lập tức, tôi thực hiện một bản tin bằng tiếng Anh và đọc nó tại một Đại hội của Văn Bút Hoa Kỳ ở Los Angeles. Tôi đã đọc nguyên văn bài thơ của Thượng tọa Tuệ Sỹ, và sau đó, ông Trịnh Y Thư đã đọc bản dịch tiếng Anh. Tổ chức Văn Bút Quốc tế, thông qua tài liệu do bà Jeanne-Leedom Arckeman, Chủ tịch Văn Bút Hoa Kỳ Miền Tây lúc bấy giờ, đã tích cực can thiệp vào vụ việc chùa Già Lam. Tạp chí Văn Học cũng đã thực hiện một số đặc biệt về vấn đề này ba tháng sau đó. Tôi đã nhận trách nhiệm thiết kế bìa và viết ba đoạn thơ cảm khái, với nhan đề “Trí, Tuệ”.
Nhà Lý Văn Lang Công Uẩn ôi!
Bao nhiêu thế kỷ đã qua rồi?
Thăng Long rồng hiện xem bờ cõi
Cửa mở Già Lam thả phượng chơi.
Mỏng mảnh như mây gió thổi về
Vén tầm vô hạn xuống bờ mê
Gác chuông Trí, Tuệ kinh vừa giảng
Dưới đáy trần gian quỉ kéo đi.
Vẫn tiếng sông sầu róc rách trôi
Bến Vàng lớp lớp mộng lôi thôi
Vung tay Sỹ hận hề, tung sách
Chữ nghĩa nghìn trang, Trí vá trời.
(Viên Linh, Văn Học, số 35.12.1988 – tr18)
Trong cuộc sống đầy giấy mực của tôi, Thượng tọa Tuệ Sỹ hiện lên như một dòng sông băng. Dòng sông băng ấy có thể đóng băng, nhưng cũng có thể bốc hơi, mang theo hơi ấm. Ông nói và viết rất chắt lọc, không thừa lời, cũng không cao giọng, ngay cả khi không vui.
“Anh đọc lại đi. Tôi đã dịch xong đâu.”
Thượng tọa Tuệ Sỹ ngồi im, hai tay đặt trên thành ghế, cả người chìm trong chiếc ghế gỗ màu gụ của Tòa soạn Thời Tập, cũng là văn phòng nhà in Phúc Hưng của chúng tôi tại đường Nguyễn Trãi, Chợ Lớn.
“Tôi nghĩ xong rồi. Xong rồi anh mới đưa tôi đăng chứ?”
“Tôi đưa anh đọc.”
“Tôi thấy hay thì đăng.”
Câu nói này dường như đã làm tác giả cuốn “Triết Học Về Tánh Không” phật lòng. Một lần nữa, ông yêu cầu tôi đọc lại xem có phải là thơ không mà tôi đã đăng lên Thời Tập.
Theo quan điểm của một Chủ bút, tôi luôn chủ trương rằng thơ của các tác giả vô danh phải thật hay mới được đăng. Còn với những tác giả đã có tên tuổi, dù bài viết có đôi chút khiếm khuyết, tôi vẫn đăng tải, trừ khi quá sơ sài. Bởi lẽ, những người có tên tuổi sẽ tự chịu trách nhiệm về bài viết của họ, trong khi người chịu trách nhiệm chính đối với tác giả vô danh lại là người tuyển chọn bài đăng. Do đó, nếu tôi nhận được một bài thơ loại B nhưng mang tên Đinh Hùng hay Vũ Hoàng Chương, tôi vẫn sẽ đăng. Tương tự, bài thơ “Vua Tần Uống Rượu” do Tuệ Sỹ dịch từ thơ Lý Hạ, không có lý do gì để tôi từ chối đăng tải. Khoảng năm 1973-1974, Thượng tọa Tuệ Sỹ đã có một vị thế rất đáng nể.
Đọc lại, quả thật có thấy thiếu vần. Đoạn đầu, tôi cho rằng có thể coi là có vần trắc, dựa trên sự tương đồng âm thanh giữa hai chữ “cực” và “biếc”. Đoạn hai chắc chắn có vần, với hai chữ “tình” ở câu trên và chữ “sênh” ở câu dưới. Đoạn ba, tôi đồng ý là không có vần, nhưng nếu nối với đoạn hai, thì chữ “canh” đi với chữ “sênh” có thể coi là đồng âm. Đoạn bốn, tôi cũng đồng ý là không có vần, nhưng điều đó không quá quan trọng. Còn hai câu kết…
Thượng tọa Tuệ Sỹ rất giận. Tôi thấy hai bàn tay ông nổi rõ những đường gân xanh trên thành ghế. Ông đã nói gì đó mà tôi không còn nhớ nguyên văn, nhưng đại ý là những điều đó mà cũng coi là có vần được sao? Tôi đáp lại rằng nếu không có vần thì coi như thơ tự do. Toàn bài, đối với ông là chưa hoàn tất, nhưng đối với tôi, tôi thấy nó hay. Tôi nhận thấy sự tức giận thực sự của ông, và ông đã im lặng rất lâu.
Nguyễn Đức Sơn từng nổi giận tại Tòa soạn Thời Tập, la hét như người lên cơn, đi đi lại lại, hai đầu gối nhấc cao, làm tà áo lam của ông gãy khúc. Ông tức giận vì tôi đã đăng bài thơ của ông theo chiều dọc gáy tờ báo, nghĩa là phải xoay 90 độ mới đọc được. Nhưng sự giận dữ của Thượng tọa Tuệ Sỹ lại giống như mặt hồ đóng băng: im lặng, tĩnh lặng đến chết. Một lúc sau, ông đứng dậy ra về mà không nói một lời nào. Dù vậy, trước đó, Khởi Hành (1969-1972) và sau này là Thời Tập (1973-1975) vẫn là hai tờ tạp chí đăng tải nhiều tác phẩm của Thượng tọa Tuệ Sỹ nhất. Trong số đó, có ít nhất hai bài thơ xuất sắc: “Sơ Huyền” (Tang thương một giải tóc thề) và “Mơ Tuổi Vàng” (Đôi mắt ướt tuổi vàng khung trời hội cũ – bài thơ này đã khiến Bùi Giáng choáng váng), cùng ba truyện ngắn và tùy bút đặc sắc: Truyện “Chuyến Xe Đò Cao Nguyên” kể về một “cuộc lữ nhỏ” trên đường Pleiku; truyện Sư Thiện Chiếu về “cuộc lữ lớn” của một vị sư dựng nước; hay “Quỉ Thi” của Lý Hạ…
Sau khi Đại Đức rời đi, tôi ngồi đọc lại bài “Vua Tần Uống Rượu”. Quả thực, nó vẫn còn chưa hoàn chỉnh, nhưng tôi tin rằng nó vẫn hay. Tháng Tư năm 1998, tôi đến Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ để sao chép lại bài này. Trên đường trở về California, tôi bị mất cắp tại phi trường Fort Worth, Texas. Tháng Mười Hai năm 1998, tôi quay lại Washington D.C. để sao chép lần thứ hai, và bản sao thu nhỏ được trình bày như trên. Đối với tôi, đọc lại bài thơ này ở thời điểm hiện tại, nó vẫn hay như ngày nào.
Dịch thơ là phải làm nổi bật ý tứ của tác giả. Dịch đúng vần mà không đạt ý thì đâu phải là dịch hay? Đó là mượn ý của người khác. Câu “Tần Vương kỵ hổ du bát cực” mà dịch thành “Vua Tần cưỡi cọp chơi tám cực” thì còn gì hay hơn? Vừa đối chữ, vừa chỉnh thanh. Câu “Kiếm quang chiếu không không tự bích” được dịch thành “Ánh kiếm chỉ trời trời tự biếc” thì đã thể hiện hết ý tứ, ai có thể dịch hay hơn? Hai chữ “không không” được dịch thành “trời trời”, đâu phải ai cũng làm được? Câu “Hy Hòa xao nhật pha lê thanh dịch” được dịch là “Hy Hòa rung mặt nhật rộn tiếng pha lê” thì đúng nghĩa, dù phải thêm chữ “mặt” và “rộn”.
Câu dưới, “Kiếp hôi phi tận” dịch là “Kiếp tro bay hết” thì còn gì hay hơn? Cụm từ “Cổ kim bình” ta không cần dịch cũng được, cứ để nguyên, ai mà không hiểu? Vị tu sĩ này thật khó tính.
Hãy xem những bài khác, Thượng tọa Tuệ Sỹ đã dịch như thế nào.
Bài “Thu Lai” của Lý Hạ:
Đồng phong kinh tâm tráng sĩ khổ
Suy đăng lạc vĩ đề hàn tố
Thùy khan thanh giản nhất thiên thơ
Bất khiển hoa trùng phấn không đố
Tư khiên kim dạ trường ưng trực
Vũ lãnh hương hồn điếu khách thơ
Thu phần quỉ xướng bảo gia thi
Hận huyết thiên niên thổ trung bích
Thượng tọa Tuệ Sỹ dịch nghĩa:
Gió heo may rợn hồn tráng sĩ
Lạnh se da, dế rỉ đèn lu.
Dở trang bóng chữ lờ mờ
Mấy rây mọt phấn ơ hờ điểm hoa.
Buồn ray rứt kéo ra ruột thẳng
Khóc người thơ, mưa lạnh hồn ma
Tanh hôi giọng quỉ trên gò
Máu hờn thiên cổ xanh mồ cỏ thu.
(Tuệ Sỹ, Thời Tập, 1973)
Như chính dịch giả đã ghi chú, đây chỉ là bản dịch nghĩa. Dịch giả đã sử dụng thể song thất lục bát, với hai câu bảy chữ, rồi một câu sáu chữ và một câu tám chữ. Câu thứ ba có hai chữ thật tuyệt vời: “Bóng Chữ”. Phải chăng nhà thơ Lê Đạt ở Hà Nội đã đọc bài này trước khi xuất bản tập thơ “Bóng Chữ” cách đây vài năm?
Ta làm kẻ rong chơi từ hỗn độn
Treo gót hài trên mái tóc vào thu…
(Tuệ Sỹ, Mười Năm Trong Cuộc Lữ)
Tính đến nay, kể cả những bài thơ đầu tiên đăng trên Tạp chí Tư Tưởng vào năm 1970, Thượng tọa Tuệ Sỹ mới chỉ công bố dưới 10 bài thơ. Trong thời gian bị giam giữ, ông đã gửi ra ngoài một số bài, nhưng ít người có cơ hội đọc.
Dâng nhúm cơm tù phạm
Cúng dường Đấng Tối Cao
Cõi Đời đằm máu hận
Nâng chén nước mắt trào.
(Tuệ Sỹ, Cúng Dường)
Thơ của Thượng tọa Tuệ Sỹ giai đoạn đầu cho thấy sự pha trộn kỹ thuật của một người đã nghiền ngẫm “Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh” của Nguyễn Du, “Cung Oán Ngâm Khúc” của Nguyễn Gia Thiều, và cả “Chinh Phụ Ngâm” của Đặng Trần Côn. Đó là những “Truyện Thơ”, tức là những bài thơ có câu chuyện để kể.
Trong giới thi sĩ Miền Nam những năm 1970, ít ai sử dụng thể thơ truyện như tám chữ hay song thất lục bát. Thượng tọa Tuệ Sỹ đã dùng thể song thất một vài lần, nhưng phần lớn là thể tám chữ. Trong 10 bài thơ đã được công bố của ông, chúng ta có thể đọc:
Này đêm rộng như khe rừng cửa biển
Hai bàn tay vén lại tóc xa xưa
(Không Đề – Tạp chí Tư Tưởng bộ mới, số 8, 12.1970)
Ta làm kẻ rong chơi từ hỗn độn
Treo gót hài trên mái tóc vào thu.
(Mười Năm Trong Cuộc Lữ, Tư Tưởng)
Tôi vẫn đợi những đêm xanh khắc khoải
Màu xanh xao trong tiếng khóc ven rừng
(Tôi Vẫn Đợi)
Chuyện đã kể rồi hồng hoang lững thững
Vẫy tay chào nối gót chẳng buồn trông
(…)
Đôi mắt ướt tuổi vàng khung trời hội cũ
Áo màu xanh không xanh mãi (trên) đồi hoang.
(Mơ Tuổi Vàng, Khởi Hành)
Thơ tám chữ, về bản chất, là thơ kể chuyện. Bài thơ tám chữ được nhắc đến nhiều nhất thời Tiền chiến là “Nhớ Rừng” của Thế Lữ:
Gậm một mối căm hờn trong cũi sắt,
Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua.
(Thi Nhân Việt Nam, Hoài Thanh Hoài Chân, Hoa Tiên, 1968)
Sau năm 1954, Đinh Hùng được xem là “vua thơ tám chữ” ở Miền Nam:
Lòng đã khác, ta trở về Đô Thị
Bỏ thiên nhiên huyền bí của ta xưa.
(Bài Ca Man Rợ)
Ta thường có từng buổi sầu ghê gớm
Ở bên Em-Ôi biển sắc rừng hương!
(Kỳ Nữ)
Trong lớp các thi sĩ cùng thời, Thượng tọa Tuệ Sỹ nổi bật với những bài thơ tám chữ mênh mang, kể những câu chuyện từ tâm thức hồng hoang xáo trộn với thời thế nhiễu nhương. Trong đó, những hình ảnh hùng vĩ nhất là núi rừng, dòng sông cạn, triều dâng, nước chảy, lũ lụt, bờ bến lạ, ghềnh đá dựng, suối trăng, tóc xa xưa, tóc huyền, tóc vào thu, tóc cũ, tóc trắng, nói mộng, viễn mộng, cuộc lữ… Nếu thơ Phạm Thiên Thư tràn đầy sắc xanh hoa vàng của một thiên nhiên êm đềm, thì thơ Thượng tọa Tuệ Sỹ lại mang nét hùng vĩ, phiêu lãng với màu đá, màu rừng già khô lạnh, thác ghềnh, và mái tóc sơ huyền. Đó là những hình ảnh thiên nhiên khác biệt.
Thơ tám chữ không hề ủy mị như lục bát. Thượng tọa Tuệ Sỹ tuy nhỏ bé nhưng rất cứng cỏi. Lời thơ của ông không phải là lời nói suôn sẻ, êm tai, mà là sự dồn nén của những tâm sự ngổn ngang. Trước hết, khi nghĩ về bản thân, có thể ông đã nghĩ như sau:
Như cánh hải âu cuối trời biển lộng
Bồng bềnh bay theo cánh mỏng ngàn đời…
Cánh hải âu ấy thường bay lượn trên những bờ biển hoang vu, tìm kiếm nét hồng trong đá xám, khám phá điều huyền nhiệm trong những biểu tượng của sự hưng thịnh và suy tàn:
Chiều lắng đọng thênh thang ghềnh đá dựng
Những nỗi buồn nhân tế cũng phôi pha.
Màu nhiệm nào đằng sau bao hủy diệt
Mà nụ hồn vừa nở thắm ven khe.
…
Nếu tự ví mình như cánh chim, thì cánh chim của Thượng tọa Tuệ Sỹ cảm nhận được sự khắc nghiệt của thiên nhiên đất trời:
Hàng thạch thảo dọc thiên đường tàn úa
Tháng ngày qua thoáng hắt bóng trên đồi
Con chim sớm bay tìm từng hạt lúa…
…
Một buổi sáng nghe chim buồn đổi giọng
Người thấy ta xô dạt bóng thiên thần.
Thượng tọa Tuệ Sỹ (Phạm Văn Thương) sinh ngày 15 tháng 2 năm 1943 tại Paksé, Lào, quê quán Quảng Bình, miền Trung Việt Nam. Ông quy y Phật pháp từ thuở thiếu thời, tốt nghiệp Viện Cao Đẳng Phật Học Sài Gòn năm 1964 và Viện Đại học Vạn Hạnh năm 1965, chuyên ngành Phật học. Ông được đặc cách bổ nhiệm Giáo sư thực thụ Viện Đại học Vạn Hạnh từ năm 1970 nhờ những công trình nghiên cứu và khảo luận triết học có giá trị cao, như “Đại Cương Về Thiền Quán”, “Triết Học Về Tánh Không” (Sunyavada) (An Tiêm, Sài Gòn, 1970). Ông thông thạo chữ Hán, Pháp, Anh, đọc được chữ Pali và Phạn. Ông cũng nghiên cứu sâu về tiếng Đức, đặc biệt là các tác phẩm của Heidegger và Hoelderlin. Bản dịch tiếng Việt của cuốn “Thiền Luận” nổi tiếng của D.T. Suzuki là do ông thực hiện.
Thượng tọa Tuệ Sỹ là một học giả uyên bác về Phật giáo Nguyên thủy và Đại thừa. Ông đã nghiên cứu Tô Đông Pha từ nguyên tác và để lại một tác phẩm giàu chất thơ: “Tô Đông Pha, Những Phương Trời Viễn Mộng” (Ca Dao, Sài Gòn, 1973). Khi có thời gian rảnh, ông chơi đàn dương cầm. Ông sáng tác nhiều thơ, viết một số truyện ngắn đặc sắc, phần lớn được đăng trên Tạp chí Khởi Hành (1969-1972) và Thời Tập (1973-1975) khi ông giữ vị trí trong Ban Biên Tập. Ông cũng từng là Chủ bút Tạp chí Tư Tưởng của Viện Đại học Vạn Hạnh.
Vào ngày 1 tháng 4 năm 1984, Thượng tọa Tuệ Sỹ bị chính quyền Hà Nội bắt giữ cùng Giáo sư Trí Siêu Lê Mạnh Thát và 19 tăng ni, sĩ quan thuộc Quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Họ bị kết án về tội mưu đồ vũ trang lật đổ chính quyền. Trong phiên tòa kéo dài nhiều ngày vào cuối tháng 9 năm 1988, ngày 30, ông cùng Giáo sư Lê Mạnh Thát bị tuyên án tử hình. Phía Cộng sản cho rằng đã tìm thấy vũ khí tại chùa Già Lam.
Nhờ sự đấu tranh tích cực của các tổ chức Nhân quyền Quốc tế, bao gồm Ân Xá Quốc Tế và Văn Bút Thế Giới, cùng Ủy ban Đấu tranh cho Quyền Làm Người Việt Nam, Hà Nội đã buộc phải giảm án xuống chung thân khổ sai, và giam giữ Thượng tọa Tuệ Sỹ tại trại A.20 ở Phú Yên. Vào tháng 10 năm 1994, cùng với 200 tù nhân khác, ông tham gia biểu tình đòi gặp phái đoàn Liên Hiệp Quốc và thực hiện các quyền khác, do đó bị Hà Nội đày ra Bắc.
Những lời tuyên bố của người tù lương tâm Tuệ Sỹ tại tòa, cũng như khí phách kiên cường trong tù, là một tấm gương sáng chói và là niềm tự hào của Phật giáo: “Lập trường của chúng tôi là lập trường của Phật giáo, là lập trường của toàn khối dân tộc” (trích theo Hòa thượng Thích Mãn Giác). Năm 1998, Hà Nội trả tự do cho Thượng tọa cùng một số người khác. Trước đó, ông đã tuyệt thực trong tù. Trước khi phóng thích, chính quyền yêu cầu Thượng tọa Tuệ Sỹ ký đơn xin khoan hồng gửi Chủ tịch nước Trần Đức Lương. Thượng tọa trả lời: “Không ai có quyền xét xử tôi, không ai có quyền ân xá tôi”. Họ nói nếu không viết đơn sẽ không thả. Thượng tọa Tuệ Sỹ không viết và tuyệt thực. Cuối cùng, họ buộc phải thả ông sau 10 ngày tuyệt thực, vào ngày 1 tháng 9 năm 1998.
Sáng hôm sau, lúc 10 giờ 45, Thượng tọa Tuệ Sỹ được đưa lên tàu hỏa về Nam. Ông ngồi suốt 36 tiếng đồng hồ trên tàu, nhưng vì sức khỏe quá yếu sau 10 ngày nhịn ăn trong tù, ông không thể chịu đựng thêm. Ông xuống tàu tại Nha Trang và vào Học viện Hải Đức.
Thượng tọa Tuệ Sỹ tuyệt thực một mình, không có tổ chức hay báo chí nào hay biết. Ông tuyệt thực “để khẳng định mình”, như chính ông đã nói. Một thời gian sau, Hà Nội lại ra lệnh ông phải trở về nơi cũ là chùa Già Lam ở Gia Định, thay vì được ở lại Hải Đức. Ông từ chối, viết một lá thư gửi chính quyền Hà Nội, nói rằng hoặc là ở lại Hải Đức, hoặc là trở lại nhà tù. Tin này đã được loan tải trên báo chí hải ngoại.
Tác giả của “Những Phương Trời Viễn Mộng” đã phải trải qua 14 năm trong các nhà tù Cộng sản. Vào giữa tháng 4 năm 1999, Hòa thượng Quảng Độ đã đề cử Thượng tọa Tuệ Sỹ làm Tổng Thư ký Viện Hóa Đạo.
Hình ảnh thiên nhiên khắc nghiệt, và hình ảnh con người cũng không khá hơn. Chia ly, mất mát, ngay cả với người mẹ thân yêu:
Mẹ già thôi khóc cho thân phụ
Lại khóc cho đời ta phiêu linh
Con người trong thơ Tuệ Sỹ không được khắc họa bằng vóc dáng, dung nhan, đôi môi, khóe mắt, tiếng cười hay giọng nói. Con người trong thơ ông chỉ hiện diện qua mái tóc. Có đến năm bảy kiểu tóc khác nhau trong tâm thức của “Đông Tà”:
Tang thương một giải tóc huyền
Bãi dâu ngàn suối mấy miền hoang vu.
Gởi thân gió cuốn sa mù
Áo xanh cát trắng trời thu muộn màng
Chênh vênh hoa đỏ nắng vàng
Gót xiêu dốc núi vai mang mây chiều
Tóc huyền loạn cả nguyên tiêu
Lãng du ai ngỡ cô liêu bạc đầu
(Sơ Huyền, Khởi Hành)
Xưa xanh lên tóc huyền sương nặng
Trong giấc mơ lá dạt xa bờ.
(Mùa Mưa Cao Nguyên, Khởi Hành)
Bờ bến lạ chút tự tình với bóng
Mây lạc loài ôi tóc cũ ngàn năm
Nào đâu nữa tóc em như gió cuốn
Người ra đi tâm sự với hoàng hôn
Tượng đồng tạc bóng cô liêu
Trời xanh tóc trắng bao nhiêu chuyện rồi
Này đêm rộng như khe rừng cửa biển
Hai bàn tay vén lại tóc xa xưa
(Không Ðề, Tư Tưởng)
Mái tóc trong thơ Tuệ Sỹ có phải là bờ môi nhục cảm trong thơ Xuân Diệu, bởi Xuân Diệu không ngại tiếp xúc? Có phải là con mắt đắm đuối của Hàn Mặc Tử, vì Hàn Mặc Tử không thể chạm vào? Hay đó là bàn tay trong thơ Lưu Trọng Lư, bởi Lưu Trọng Lư e ngại sự chia phôi?
Mái tóc trong thơ Tuệ Sỹ có phải là bờ vai của Huy Cận, vì Huy Cận muốn tựa đầu? Là xiêm áo của Bích Khê, vì Bích Khê suốt đời mong ước một dáng hình kiều diễm? Mái tóc của Tuệ Sỹ có phải là bàn chân của Đinh Hùng, vì Đinh Hùng luôn quỳ dâng, sùng bái? Là tấm lưng mềm của Vũ Hoàng Chương, bởi Vũ Hoàng Chương thích ôm ghì đôi tay, tiến đôi chân? Mái tóc ấy là gì? Một thục nữ? Một giai nhân? Những câu hỏi này đêm nay tôi không thể trả lời. Tôi chỉ biết rằng mái tóc trong thơ Tuệ Sỹ chưa chắc đã có thật, nhưng cũng có thật; chưa hẳn là không có, mà vẫn là không. Mái tóc ấy, biết đâu chẳng phải là một phương trời viễn mộng, cái viễn mộng thanh cao của một thị giả thích ngắm nhìn đất đỏ, áo xanh, cỏ vàng, đêm đen, nụ hồng và mái tóc? Mái tóc ấy nhất định là người, nhưng là ai? Hay chẳng là ai cả, mà chỉ là những đổi thay trong “Cuộc Lữ”, từ lúc mưa xanh đến nắng hạ, từ thuở hồng hoang đến cảnh tàn úa thiên đường?
Và, tâm thức ấy, vì sao lại nhìn thấy cả nhà tù, như trong bài “Tôi Vẫn Đợi”:
Tôi vẫn đợi những đêm xanh khắc khoải
Màu xanh xao trong tiếng khóc ven rừng
Trong bóng tối hận thù tha thiết mãi
Một vì sao bên khóe miệng rưng rưng.
Tôi vẫn đợi những đêm đen lặng gió
Màu đen huyền ánh mắt tự ngàn xưa
Nhìn hun hút cho dài thêm Lịch Sử
Dài con sông tràn máu lệ Quê Cha…
Tôi vẫn đợi suốt đời quên sóng vỗ
Quên những người xuôi ngược Thái Bình Dương
Người ở lại với bàn tay bạo chúa
Cọng lau gầy trĩu nặng bóng tà dương.
Rồi trước mắt ngục tù thân bé bỏng
Ngón tay nào gõ nhịp xuống tường rêu
Rồi khép lại hàng mi về cõi mộng
Như sương mai như bóng chớp mây chiều.
Bài thơ trên quả thực là một định mệnh được an bài như ngàn sao đã định. Định mệnh từ một sự định đoạt của ngàn sao, của hư không. Của 14 năm tù đày. Vì Quê Hương và Đạo Pháp.
Hành trình đầy biến cố của Thượng tọa Tuệ Sỹ, từ tù đày đến quê nhà và những suy tư sâu sắc, mang đến nhiều góc nhìn thú vị. Để hiểu rõ hơn về cuộc đời và sự nghiệp của vị thiền sư uyên bác này, mời quý độc giả khám phá thêm trong chuyên mục Tiểu sử.
