Tuổi Trẻ và Tâm Tình Người Thầy: HT Thích Nguyên Siêu

× 🎁 Ưu đãi Shopee hôm nay – Nhấn nhận ngay!
🔥 Ưu đãi Shopee - Bấm để xem ngay!
0
(0)

Trong dòng chảy vô thường của thời gian, những dấu ấn của quá khứ luôn hiện hữu, đặc biệt là những bài học quý giá từ người thầy. Ngay cả khi đang đảm nhiệm những trọng trách học thuật và biên tập, Thầy Thích Nguyên Siêu vẫn dành trọn tâm huyết truyền thụ đạo lý cho thế hệ Tăng sinh trẻ tuổi. Sự nghiệp giáo dục và hoằng pháp của Ngài, được vun đắp bởi tầm nhìn khai phóng, đã tạo nên một nền tảng vững chắc cho Phật pháp, mở ra con đường tiếp cận chân lý sâu sắc hơn tại chiasedaophat.com.

Thời gian trôi đi như dòng nước, vội vã và không chờ đợi. Giữa dòng chảy ấy, những kỷ niệm và bài học quý báu vẫn còn đọng lại.

Hơn ba thập kỷ trước, vào đầu những năm 1970, Thầy đã bắt đầu giảng dạy cho các Tăng sinh tại Tu viện Hải Đức trên đồi Trại Thủy, Nha Trang. Dù đang là Giáo sư tại Đại học Vạn Hạnh và Tổng Thư ký Tòa soạn Tư Tưởng Vạn Hạnh, Thầy vẫn dành thời gian quý báu để truyền thụ những bài học về đạo lý, sự chân thật và tình người.

Khi ấy, các Tăng sinh chỉ mới đôi mươi, người viết cũng chỉ vừa tròn 19 tuổi. Khung cảnh mái trường tu viện thân thương, với sự quan tâm dìu dắt của ban Giám đốc, trong đó có Thầy, đã trở thành những ký ức không thể nào quên. Phương châm “tiếp dẫn hậu lai, báo Phật ân đức” luôn được các bậc tôn túc dày công vun đắp.

Đặc biệt, Ôn Già Lam, Giám viện các Phật học viện Báo Quốc (Huế), Hải Đức (Nha Trang) và Quảng Hương Già Lam (Sài Gòn), đã có tầm nhìn cấp tiến khi cho phép Tăng sinh theo học song song hai chương trình: chuyên ngành Phật học và chương trình phổ thông. Ôn tin rằng kiến thức thế gian sẽ giúp quý Thầy dễ dàng tiếp cận và hoằng pháp lợi sanh trong xã hội hiện đại. Với sự cảm thông sâu sắc cho thế hệ trẻ, Ôn khuyến khích Tăng sinh tự do lựa chọn ngành học phù hợp.

Nhận thấy điều này, Ôn Đổng Minh, một bậc tôn túc đã viên tịch, đã khuyên Tăng sinh nên ưu tiên các ngành khoa học thay vì văn chương, triết học. Ôn chia sẻ:

“Đi vào ban văn chương rồi về làm thơ phú gửi tâm tư theo mây gió, liệu có ích lợi gì? Hãy chọn các ngành khoa học như Toán, Hóa học… để nghiên cứu, chế biến ra những sản phẩm thiết thực như xì dầu Lá Bồ Đề hay Hương Giải Thoát, còn có ý nghĩa hơn nhiều.”

Luôn tâm niệm sự thiết thực và phụng sự, Ôn Đổng Minh mong muốn tận dụng khả năng của giới trẻ để cống hiến cho Đạo và Đời, tránh lãng phí nguồn tài lực quý báu từ sự đóng góp của đàn na tín thí.

Tìm hiểu thêm: Thích Nhất Hạnh: Dấu Ấn Thiền Định Từ Cố Đô Huế Đến Thế Giới

Chính nhờ sự động viên và khích lệ đó, nhiều anh em Tăng sinh đã trở thành bác sĩ, hiệu trưởng, giáo sư hoặc giảng dạy tại các Phật học viện, góp phần không nhỏ vào sự hưng thịnh của Phật giáo Việt Nam thời bấy giờ.

Giờ đây, khi các bậc tôn túc năm xưa đã lần lượt viên tịch, chỉ còn lại những dấu ấn sâu đậm trong lòng các thế hệ Tăng sinh. Người viết không khỏi bồi hồi khi nhớ lại những buổi họp bàn Phật sự tại cốc của Ôn Giám viện, với sự hiện diện của Ôn Già Lam, Ôn Từ Quang, Ôn Từ Đàm, Ôn Đổng Minh, Ôn Trừng San và Thầy Tuệ Sỹ. Sự ra đi của các Ngài để lại một khoảng trống lớn, khiến cho Viện Cao Đẳng nay chỉ còn là “xác không hồn”, lặng lẽ nép mình dưới rặng Bồ Đề.

Mỗi lần nghĩ về Phật học viện Hải Đức xưa, lòng người viết lại trào dâng xúc động. Bao lớp bụi thời gian đã phủ mờ những hình ảnh, công sức của các thế hệ đi trước. Bóng dáng uy nghiêm của Ôn Già Lam, sự an nhiên tự tại của Ôn Từ Đàm, hay phong thái nghiêm nghị nhưng đầy kính trọng của Ôn Đổng Minh mỗi khi ghé thăm viện, tất cả đã lùi vào dĩ vãng, chỉ còn là những kỷ niệm khó phai mờ về tình nghĩa thầy trò.

Sự hiện thân của các bậc tôn túc vào đời để độ sinh, hành đạo rồi viên mãn, thuận thế vô thường, sinh diệt chỉ là huyễn duyên. Dù các Ngài đã nhẹ nhàng rời đi, nhưng với Tăng sinh hậu học, tình ân sư, nghĩa thầy trò vẫn còn nặng trĩu, khó nguôi ngoai khi nhớ về những ngày tháng dưới mái học viện.

Những mùa an cư kiết hạ, những buổi lễ Yết Ma Kiết Giới trường trang nghiêm với sự chủ trì của Ôn Từ Quang và sự hỗ trợ của Ôn Đổng Minh, tất cả đều khắc sâu trong tâm trí những anh em Tăng sinh thời đó. Hình ảnh Ôn Đổng Minh kiên trì vượt qua bao mùa mưa nắng để đến viện, không sót một bữa cơm, tận tụy nuôi dưỡng đàn con, khiến người viết vô cùng kính trọng và thương quý.

Trong những mùa an cư ấy, Ôn Từ Đàm giảng dạy về Bát Thức Quy Củ Tụng hoặc Thủ Lăng Nghiêm, Ôn Đổng Minh truyền trao luật học hoặc Duy Thức Phương Tiện Đàm. Lời dạy rành rọt, nghiêm minh như tấm lòng nồng ấm được trao truyền.

Đặc biệt, sự kiện Đại Giới Đàn Phước Huệ năm 1973 với sự chủ trì của Ôn Già Lam và Đàn Đầu Hòa Thượng Từ Quang, đã để lại ấn tượng sâu sắc. Buổi lễ trang nghiêm, đêm hô canh, thiền hành vang vọng núi rừng Trại Thủy, cùng với tấm biển “Tuyển Phật Trường” được tôn trí trang trọng, tất cả đều thể hiện sự huy hoàng của việc xiển dương chánh pháp.

Câu đối treo tại giảng đường: “Kích Pháp Cổ, Xuy Pháp Loa Phổ Cáo Mộc Xoa Ứng Thế” (Đánh trống Pháp, thổi loa Pháp Báo Hiệu Giới Luật Ứng Hiện Nơi Đời) càng nhấn mạnh ý nghĩa thiêng liêng của giới đàn.

Xem thêm: Bóng Hồi Ký Thích Thiện Hiền: Giọng Kêu Của Hòa Thượng Thích Đức Nhuận

Trong buổi lễ, Ôn Từ Quang được cung thỉnh ngồi trên kiệu, khiêng từ cổng viện lên chánh điện. Sau buổi lễ, Ôn chia sẻ một cách hài hước về nỗi sợ hãi khi ngồi trên kiệu dốc, khiến mọi người bật cười, thể hiện nét đạo vị gần gũi của các bậc tôn túc.

Đó là những phẩm hạnh cao quý, tánh đức từ bi, trí tuệ sáng ngời của các bậc thạch trụ Thiền gia. Nay rừng thiền vắng bóng các Ngài, cửa viện âm ba bặt dứt. Dòng từ thanh thản nhẹ bước tiêu diêu miền Tịnh độ, chỉ còn lại những dấu chân xưa trên bậc thềm, sân viện, và hương thơm giới đức còn vấn vít mái chùa.

Gần 40 năm xa viện, nhưng mọi thứ vẫn còn như mới hôm qua. Giờ đây, chỉ còn lại Thầy, người đã trải qua bao thăng trầm của cuộc đời, từng đối mặt với án tử hình nhưng với ý chí kiên cường, vẫn tiếp tục giáo dục Tăng sinh và các thế hệ kế tiếp.

Thầy luôn khẳng định với Tăng sinh:

“- Người xuất gia, khi cất bước ra đi là hướng đến phương trời cao rộng, tâm tính và hình hài không theo thế tục, không buông mình chiều theo mọi giá trị hư dối của thế gian, không cúi đầu khuất phục trước mọi cường quyền bạo lực. Một chút phù danh, một chút lợi thế, một chút an nhàn tự tại, đấy chỉ là những giá trị nhỏ bé, tầm thường và giả ngụy, mà ngay người đời còn vất bỏ không tiếc nuối để giữ tròn tiết nghĩa. Chớ khoa trương bảo vệ chánh pháp mà thực tế chỉ ôm giữ chùa tháp làm chỗ ẩn núp cho ma vương, làm nơi hội tụ của cặn bã xã hội. Chớ hô hào truyền pháp giảng kinh, thực chất là mượn lời Phật để xu nịnh Vua quan, cầu xin một chút ân huệ dư thừa của thế tục, mua danh bán tước. Xưa kia, khi Vua Chúa bắt Sư Tăng cúi đầu nhận tước lộc của Triều đình để làm tôi tớ cho Vương hầu, Chư Tổ đã sẵn sàng đặt đầu mình trước gươm bén, giữ vững khí tiết của người xuất gia, bước theo chân vô úy, vô cầu của các Thánh đệ tử, được gói trọn trong thanh quy: “Sa môn bất kỉnh vương giả.”

Lời nói khí khái của bậc xuất trần thượng sĩ, thể hiện tinh thần không khiếp sợ cường quyền: “Không ai có quyền xét xử tôi, thì không ai có quyền ân xá tôi.”, dẫu đứng trước vành móng ngựa. Thầy giữ tròn tiết tháo của người đệ tử Phật, của kẻ sĩ ý thức được vận mệnh quốc gia dân tộc, và đảm đương sứ mệnh hoằng truyền giáo pháp.

Thầy luôn tâm niệm đào tạo Tăng tài, giáo dục tuổi trẻ – nguồn tài nguyên vô tận – để hộ đạo giúp đời, mang niềm an vui đến cho quê hương, dân tộc. Thầy đã đóng góp nhiều công trình nghiên cứu, dịch thuật, sưu khảo giáo pháp, làm phong phú thêm cho Phật giáo Việt Nam.

Khám phá: Hòa thượng Thích Trí Tịnh: Từ "Nguyễn Văn Bình" đến bậc chân tu khai sáng

Với tâm niệm đó, Thầy luôn đồng hành cùng nhiều thế hệ Tăng sinh: thế hệ học Tăng 30 năm trước tại Viện Cao Đẳng Hải Đức, Nha Trang; thế hệ học Tăng thập niên 80 tại Tu viện Quảng Hương Già Lam; và thế hệ học Tăng tại Thừa Thiên – Huế hiện nay. Thầy quán chiếu môi trường xã hội, truyền thống Việt Nam, cũng như lẽ thăng trầm sinh diệt của cuộc đời.

Thầy chia sẻ:

“… Thế hệ của Thầy thừa hưởng được nhiều từ Thầy Tổ, nhưng chưa hề báo đáp ân đức giáo dưỡng cao dày trong muôn một. Chỉ mới tròn 30 tuổi đã phải khép cổng chùa, xách cuốc lên rừng, xuống biển, cũng mưu sinh lao nhọc như mọi người. Rồi lại vào tù, ra khám cũng linh đinh theo vận nước thăng trầm. Sở học, sở tri cũng cùn mòn theo tuổi đời, năm tháng. Duy chưa có điều gì thất thố làm điếm nhục tông môn, uổng công Sư trưởng tài bồi. Một chút niềm tin chưa hề thoái thất, chỉ mong cùng chia sẻ với thế hệ kế thừa. Một thế hệ đang trưởng thành để khơi tỏ ngọn đèn Chánh pháp giữa một đất nước thấm nhuần phong hóa.”

Tất cả tâm tư của Thầy được diễn đạt đến anh em học Tăng bằng máu và nước mắt, bằng trái tim nồng nhiệt lo lắng cho thế hệ tương lai. Thầy đặt niềm tin nơi thế hệ tiếp nối giữ tròn tiết tháo của kẻ sĩ, không bị lung lạc bởi thế tục lợi danh, đi trên con đường Chánh pháp, nêu cao chí nguyện xuất trần để không phụ lòng Thầy Tổ.

Thầy khuyên:

“Cầu mong các con có đủ dũng mãnh để đi bằng đôi chân của mình, nhìn bằng đôi mắt của mình; tự xác định hướng đi cho chính mình. Thầy sẽ là người bạn đồng hành với các con trên đoạn đường bóng xế của đời mình.”

(Thư gởi Tăng sinh Thừa Thiên – Huế, ngày 28-10-2003)

Tâm tình của một bậc Thầy cao cả, một ân sư của nhiều thế hệ Tăng sinh, mãi mãi là nguồn cảm hứng và động lực cho tất cả.

Những chia sẻ sâu sắc về tâm tình người thầy, cùng những bài học quý giá của HT Thích Nguyên Siêu đã mang đến cho người đọc nhiều suy ngẫm về đạo lý, sự cống hiến và trách nhiệm. Để tìm hiểu thêm về cuộc đời và sự nghiệp của những bậc cao tăng, hãy cùng khám phá chuyên mục Tiểu sử.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang