Khám phá cuộc đời và di sản tâm linh của một bậc minh sư qua bài viết tưởng niệm sâu sắc về Hòa thượng Thích Minh Tuấn. Chúng ta sẽ cùng nhau dõi theo hành trình xuất gia từ thuở ấu thơ và quá trình tu học đầy tâm huyết của Ngài tại Tu viện Nguyên Thiều, dưới sự dìu dắt của các bậc cao tăng. Bài viết này mang đến những câu chuyện ý nghĩa, là nguồn cảm hứng cho những ai tìm hiểu về Phật pháp tại Chia sẻ Đạo Phật.

TIỂU SỬ HÒA THƯỢNG THÍCH MINH TUẤN
(1959-2025)
I. Thân Thế
Hòa thượng Thích Minh Tuấn, húy thượng Thị hạ Anh, pháp danh Hồng Anh, sinh ngày 13 tháng 5 năm 1959 (Kỷ Hợi) tại thôn Phước Lộc, xã Hòa Thành, huyện Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên. Ngài là con trai của cụ ông Nguyễn Liên và cụ bà Nguyễn Thị Cẩu (pháp danh Chơn Quả), một gia đình có nhiều đời kính tin Tam Bảo.
II. Quá trình Xuất gia Tu học
Năm 11 tuổi, Hòa thượng được thân phụ là Ngài Thích Nguyên Thần (hiệu Tịnh Thông) dẫn dắt đến Tu viện Nguyên Thiều, thôn Đại Lễ, xã Phước Hiệp, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định để xuất gia tu học.
Ngày 15 tháng 4 năm 1970, Cố Hòa thượng Thích Đồng Thiện, Đệ Nhất Trụ trì Tu viện Nguyên Thiều, đã chính thức làm lễ thế phát cho Ngài, ban pháp danh Thị Anh (Hồng Anh). Ngài trở thành đệ tử của Cố Trưởng lão Hòa thượng Thích Huyền Quang, vị Trưởng Ban Sáng lập và Giám viện Tu viện Nguyên Thiều.
Trong thời gian tu học, Hòa thượng vừa theo học chương trình giáo dục phổ thông, vừa miệt mài nghiên cứu Phật pháp. Nhận thấy việc học bên ngoài có phần bất tiện, Cố Hòa thượng Thích Đồng Thiện đã chỉ thị cho Cố Hòa thượng Thích Quảng Bửu, lúc bấy giờ là Quản chúng và Giáo thọ lớp Phật học tại Tu viện, dạy kèm cho Ngài các môn học phổ thông để theo kịp chương trình Phật học. Trong lớp học này có sự hiện diện của các vị tu sĩ sau này trở thành những bậc danh Tăng như Hòa thượng Thích Đồng Tu (Trụ trì Chùa Thanh Quang, Nhơn Hưng, An Nhơn, Bình Định) và Hòa thượng Thích Minh Dung (Viện chủ Chùa Quang Thiện, Ontario, California, Hoa Kỳ).
Năm 1972, do chiến tranh leo thang ở miền Trung, nhiều tu sĩ phải tản cư để đảm bảo an toàn. Hòa thượng, với nguyên quán tại Tuy Hòa, đã được Cố Hòa thượng Thích Đồng Thiện giới thiệu đến tạm trú tu học tại Phật học viện Phổ Tịnh, Tuy Hòa, Phú Yên.
Năm 1976, sau khi Phật học viện Phổ Tịnh giải tán, Hòa thượng trở về Tu viện Nguyên Thiều, tiếp tục con đường tu học dưới sự chỉ dạy của chư Tôn Trưởng lão.
Vào Rằm tháng Tám năm Canh Thân (1980), khi 22 tuổi, Ngài đã đăng đàn thọ giới Tỳ Kheo tại Đại Giới Đàn Thiện Hòa. Giới đàn có sự chứng minh và giáo thọ của các bậc Trưởng lão uyên thâm như Hòa thượng Thích Hành Trụ (Đàn đầu), Hòa thượng Thích Trí Thủ (Chủ đàn, Giới sư), Hòa thượng Thích Huệ Hưng (Yết ma) và Hòa thượng Thích Từ Nhơn (Giáo thọ).
Hòa thượng nổi bật với trí thông minh, khả năng sáng tạo, tinh thần ham học hỏi và nghiên cứu sâu rộng. Ngài còn có năng khiếu đặc biệt về văn chương, ngoại ngữ (Hán ngữ, Anh văn) và luôn sẵn lòng chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm cho các thế hệ hậu học.
III. Quá trình Sinh hoạt Phật sự
Trong suốt gần 20 năm, từ 1976 đến 1996, đối mặt với những khó khăn kinh tế chung của đất nước, đặc biệt là ở miền Trung, Hòa thượng cùng với hai vị Trưởng lão là Cố Hòa thượng Thích Đồng Thiện và Cố Hòa thượng Thích Quảng Bửu đã kiên tâm bám trụ, lao động miệt mài ngày đêm theo hạnh nguyện “Nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực” (Một ngày không làm là một ngày không ăn) của Bách Trượng Thiền sư. Các Ngài đã dốc hết sức mình gìn giữ đất đai, tài sản của Tu viện, nuôi dưỡng chúng Tăng Ni tu học và trùng tu xây dựng Tu viện Nguyên Thiều, từng bước đưa nơi đây trở thành Trường Trung cấp Phật học Nguyên Thiều, tỉnh Bình Định.
Ngày 19 tháng 9 năm 2001 (mồng 3 tháng Tám, Tân Tỵ), sau khi Cố Hòa thượng Đệ Nhất Trụ trì Tu viện Nguyên Thiều, HT Thích Đồng Thiện, viên tịch, Cố HT Thích Quảng Bửu kế nhiệm trụ trì. Hòa thượng Thích Minh Tuấn giữ vai trò Phó Trụ trì, cùng chung vai gánh vác mọi Phật sự của Tu viện.
Từ năm 2003 đến 2008, Đức Đệ Tứ Tăng Thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, Giám viện Tu viện Nguyên Thiều, đã về trú tại Tu viện. Hòa thượng tiếp tục sứ mệnh Thị giả Chính và Trợ lý, chu toàn mọi công việc được giao phó: chăm sóc sức khỏe, đảm bảo an ninh, liên lạc với các nhân sự và đối tác, hoàn thiện các văn bản quan trọng, tháp tùng Ngài trong các buổi tiếp kiến, tiếp khách… Nhờ sự tận tâm này, Cố Trưởng lão Hòa thượng Thích Huyền Quang, dù tuổi cao sức yếu, đã có thể vượt qua nhiều gian truân để hoàn thành sứ mệnh lịch sử với cương vị Tăng Thống của Giáo hội.
Vào ngày 01 tháng 05 năm 2016 (nhằm ngày 25 tháng 03 năm Bính Thân), sau khi Cố Hòa thượng Thích Quảng Bửu, Đệ Nhị Trụ trì Tu viện Nguyên Thiều, viên tịch, Hòa thượng Thích Minh Tuấn đã chính thức thừa đương trách nhiệm, đảm nhiệm vai trò Đệ Tam Trụ trì Tu viện Nguyên Thiều.
IV. Trùng tu Xây dựng, Mở mang Cơ sở Tự viện
Kể từ năm 1990, Tu viện Nguyên Thiều liên tục được trùng tu, xây dựng để đáp ứng nhu cầu hạ tầng và tiện nghi sinh hoạt cho Trường Cơ bản Phật học Tỉnh Bình Định, khai giảng và hoạt động từ năm 1992. Hòa thượng cùng với hai vị Trụ trì tiền nhiệm đã nỗ lực xây dựng giếng nước, lớp học, phòng ở, mở rộng nhà Tổ, Trai đường… cho Trường Phật học và Tu viện. Với tinh thần vô ngã, vị tha, Ngài đã công phu sửa chữa hệ thống đường sá, chiếu sáng từ Dốc Tháp Bánh Ít vào đến Tu viện, khu cư xá Ni chúng và cảnh quan chung trước tượng Phật Thích Ca lộ thiên, góp phần tôn tạo Tu viện xứng tầm với một Phật học viện và di tích lịch sử văn hóa, giáo dục.
Ngoài ra, Hòa thượng còn là Chứng minh Đạo sư cho nhiều cơ sở tự viện, bao gồm:
- Chùa Phước Điền, Phước Lộc, Tuy Phước, Bình Định.
- Chùa Lạc Sơn, 211 Nguyễn Văn Linh – Hoài Đức – Hoài Nhơn – Bình Định.
- Chùa Quan Âm, Phường Nhơn Lý – Tp Quy Nhơn – Bình Định.
- Chùa Thiện Quang, Xã Vĩnh Lộc A, Huyện Bình Chánh, Saigon, Việt Nam.
Trong suốt 9 năm giữ vai trò Trụ trì Tu viện Nguyên Thiều, dù tuổi cao sức yếu, chống chọi với bệnh tật, Hòa thượng vẫn sống đời sống thiểu dục tri túc, giản dị nơi thất ngoài vườn. Ngài luôn hoan hỷ trực tiếp chỉ đạo công việc, chăm sóc cảnh quan Tu viện, độ chúng tu học và xử lý mọi Phật sự. Thừa hưởng ân giáo dưỡng từ Đức Đệ Tứ Tăng Thống, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, nhị vị Trụ trì tiền nhiệm và chư Tôn Trưởng lão, Hòa thượng đã thể hiện phong thái ung dung tự tại, vững chãi trước mọi hoàn cảnh. Đạo phong ấy toát lên từ một bậc chân tu, thấm nhuần Đạo pháp, thấu rõ lẽ sắc không, luôn tinh cần hướng thượng, giữ vững Bồ đề tâm, một lòng trung trinh với Đạo, hội đủ Bi – Trí – Dũng: “Phú quý không mê hoặc, nghèo khổ không chuyển dời, vũ lực không khuất phục”.
Vào lúc 5 giờ sáng ngày 11 tháng 01 năm 2025 (ngày 12 tháng Chạp năm Giáp Thìn), duyên trần đã mãn, Hòa thượng đã thâu thần thị tịch tại Tu viện Nguyên Thiều, Bình Định, Việt Nam. Ngài trụ thế 66 năm, hạ lạp 44.
Dù Hòa thượng không còn hiện diện trên cõi đời này, nhưng đạo phong thoát tục, chí nguyện sắt son phụng sự Đạo Pháp, gương hy sinh thầm lặng và sự dấn thân tận tụy của Ngài mãi là tấm gương sáng ngời cho Tứ chúng và đàn hậu học noi theo.
Nam mô Từ Lâm Tế Chánh Tông Tứ Thập Nhị Thế, Nguyên Thiều Tu Viện Đệ Tam Trụ Trì. Húy thượng Thị hạ Anh, tự Minh Tuấn, hiệu Viên Minh Hòa Thượng Ân Sư Giác Linh thùy từ chứng giám.
Ngày 11/01/2025
Môn Đồ Pháp Quyến cung soạn

CẢM NIỆM CỦA MÔN ĐỒ PHÁP QUYẾN
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Ngưỡng bạch chư Tôn Hòa Thượng, Chư Thượng Tọa, Đại Đức, Tăng Ni,
Kính thưa quý vị quan khách cùng chư thiện nam, tín nữ Phật tử,
Trong giờ phút thiêng liêng trước giờ Di Quan, kính mong Chư Tôn Đức và đại chúng cho phép chúng con, hàng hậu học của Tu viện Nguyên Thiều, đối trước Kim Quan và báo thân Hòa thượng Ân sư, bộc bạch đôi lời cảm niệm về bậc Thầy kính yêu.
Ngưỡng bạch Giác Linh Thầy,
Chúng con kính gọi Thầy bằng tiếng “Thầy” với đầy tình thân thương, lòng kính ngưỡng và tri ân vô hạn. Chúng con thuộc thế hệ xuất gia đầu tiên tại Tu viện Nguyên Thiều sau năm 1975, vào giai đoạn Tu viện đang phục hồi và trùng tu để chuẩn bị cho Trường Cơ bản Phật học Bình Định khai giảng năm 1992. Thầy là người trực tiếp chỉ đạo, xem xét các công trình xây dựng, từ giếng nước, phòng ở, lớp học đến đường sá, tượng Phật, tượng La Hán… Chúng con còn nhớ Thầy đã gần gũi bàn thảo, đưa ra nhiều ý chỉ và sáng kiến cho các thợ thi công. Chúng con thật nể phục Thầy, người tu sĩ không chỉ chuyên tâm tụng kinh niệm Phật mà còn am tường về xây dựng, tháo vát và sáng tạo trong mọi công việc.
Thuở ban đầu, chúng con còn nhiều vụng dại, tập khí thế gian nặng nề. Thầy đã kiên nhẫn chỉ thẳng những lỗi lầm, giúp chúng con nhận ra rằng: “Dạy dỗ mà không nghiêm là lỗi của Thầy”. Đối với những tập nhiễm sâu dày, cần có những phương thuốc đủ mạnh để hóa giải, giúp chúng con chuyển hóa để xứng hợp với nếp sống đạo, đầy đủ uy nghi và phẩm hạnh.
Không chỉ năng động trong việc trùng tu Tự viện, chúng con dần được biết, suốt 14 năm trước đó (1976-1990), Thầy đã cùng hai vị Trụ trì tiền nhiệm trải qua bao gian lao trong hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Các Ngài phải tự túc canh tác ruộng nương, canh giữ máy nước thâu đêm, gìn giữ vườn cây ăn trái của chùa. Những vị tu sĩ đã kiên trì bám trụ trong giai đoạn ấy thật đáng kính, đã gìn giữ từng tấc đất cho chùa, tạo điểm tựa và niềm tin cho quần chúng.
Phật sự của Thầy vô cùng bận rộn: chỉ đạo công trình, tiếp đón khách thập phương, tham dự các lễ cúng, quản lý tài chính, ngoại giao, và thường xuyên thăm viếng, hỗ trợ Cố Trưởng lão Hòa thượng Thích Huyền Quang, Đức Đệ Tứ Tăng Thống. Dù vậy, Thầy vẫn dành thời gian tự học, trau dồi kiến thức, nhờ vậy mà Ngài quảng bác, đa văn, giỏi Hán ngữ và Anh ngữ. Thầy đã trang bị cho chúng con vốn liếng về nghi lễ, Anh văn và nội điển Phật pháp, chuẩn bị cho kỳ thi vào Trường Cơ bản Phật học Bình Định.
Thầy luôn ưu tư lo cho kinh tế chùa, cho chúng Tăng Ni an tâm tu học. Ngài đã đầu tư tâm sức vào việc trồng tiêu, cây cảnh, làm đồ gỗ gia dụng. Những việc làm này vừa tăng thêm thu nhập cho chùa, vừa làm đẹp cảnh quan, tăng niềm hoan hỷ cho Tăng Ni Phật tử, vừa tạo công ăn việc làm cho những người có duyên. Đây là cách tu của Thầy, thực hành hạnh động trong cuộc sống hàng ngày, chánh niệm tỉnh giác, lợi lạc cho đại chúng. Qua đó, Thầy tiếp xúc với thiên nhiên, với mọi người, hoằng pháp không chỉ ở giảng đường mà trong mọi giao tiếp, sinh hoạt, giúp mọi người tăng trưởng niềm tin, hiểu Đạo Pháp và hướng đến cuộc sống an vui, giải thoát.
Với vai trò Trụ trì Tu viện Nguyên Thiều, dù tuổi cao sức yếu, bệnh duyên, Thầy vẫn tiếp tục sinh hoạt, làm việc tại thất ngoài vườn để mọi người dễ dàng tiếp xúc. Vai trò của Thầy thật trọn vẹn: xuất gia từ nhỏ, trải qua nhiều gian truân, tha thiết tham học Phật pháp, được sự chỉ dạy của chư Tôn Trưởng lão, và tự học suốt đời. Thầy là tấm gương về phát và nuôi dưỡng Bồ đề tâm, không lùi bước trước khó khăn, tận tụy làm thị giả, trợ lý cho bậc Trưởng thượng, năng động, khéo léo trong mọi công việc, dấn thân phụng sự tích cực. Hạnh thiểu dục tri túc, sống giản dị, gắn bó với thiên nhiên, thanh cao nhưng bình dị. Những câu chuyện bên bàn trà của Thầy là những bài học đạo lý sâu sắc, những lời khai thị giúp chúng con gỡ rối, nụ cười và ánh mắt thân thương của Thầy tiếp cho chúng con năng lực vô biên, giúp chúng con thực tập sống tự tại trước nghiệp chướng.
Thầy trụ thế đủ để chăm lo hậu sự cho Tam vị Tôn sư, lưu lại chín năm để truyền trao kinh nghiệm, chỉ dạy cho chúng con hiểu cốt lõi, căn bản của người tu, dìu dắt chúng con trưởng thành, đủ sức đảm đương mọi Phật sự của Tu viện. Khi nhân duyên vừa đủ, Thầy thuận duyên buông xả.
Ngày 12 tháng Chạp năm Giáp Thìn đánh dấu sự mất mát lớn lao đối với chúng con, khi Thân Giáo của Thầy, người hội tụ tinh hoa, kế thừa và truyền đạt tinh thần của chư Tôn tiền bối, không còn nữa. Với chúng con, Tứ Trụ Nguyên Thiều đã mất. Dù biết vạn pháp là vô thường, nhưng chúng con không khỏi ngậm ngùi, bi cảm khi phải bái biệt người Thầy kính yêu đã cả đời dâng hiến cho Đạo Pháp, Tu viện và sự an lành của đại chúng. Chúng con tìm đâu được ánh mắt thân thương, nụ cười từ hòa, lời chỉ bảo ân cần, lòng quan tâm sâu sắc của người Thầy đi trước. Kể từ nay, bóng cây, ngọn cỏ, dòng sông, ngọn tháp… đều gợi nhớ hình bóng Thầy.
Người đi dấu vết chưa nhòa. Người đã ra đi nhưng người còn ở lại, hoa Đàm tuy mất vẫn còn Hương. Những ý chỉ, tâm nguyện, lời dạy bảo của Thầy, tất cả vẫn mãi sống trong tâm khảm chúng con, trở thành nguồn động lực để chúng con tiếp tục bước chân Thầy đã đi qua, thừa đương gánh vác sứ mệnh truyền đăng tục diệm, góp sức cho Thiền môn hưng thịnh, Tứ chúng an hòa, hoằng dương Chánh pháp, lợi lạc quần sanh.
Với tất cả tâm tình niệm ân sâu sắc, chúng con xin đảnh lễ tiễn biệt Thầy. Ngưỡng nguyện hồng ân Chư Phật Bồ Tát mười phương thùy từ gia hộ, Thầy xả bỏ báo thân chứng pháp thân, rời quán trọ trần gian về Tịnh cảnh. Ngưỡng nguyện Giác Linh Thầy cảm thông, chứng giám cho chúng con chu toàn Phật sự và sớm hội nhập Ta Bà, tiếp tục độ sanh.
Nam mô Từ Lâm Tế Chánh Tông Tứ Thập Nhị Thế, Nguyên Thiều Tu Viện Đệ Tam Trụ Trì. Húy thượng Thị hạ Anh, tự Minh Tuấn, hiệu Viên Minh Hòa Thượng Ân Sư Giác Linh thùy từ chứng giám.
Môn Đồ Pháp Quyến

CUNG VĂN AI TIỄN
CỐ HOÀ THƯỢNG THƯỢNG THỊ HẠ ANH TỰ MINH TUẤN HIỆU VIÊN MINH
ĐỆ TAM TRỤ TRÌ NGUYÊN THIỀU TU VIỆN TÂN VIÊN TỊCH
Kính bạch Giác Linh Hòa thượng tân viên tịch!
Chúng con cung kính nghe rằng: Các pháp hữu vi có sanh ắt có diệt, lẽ vô thường có đến phải có đi. Đức Thế Tôn giáng thế rồi nhập Niết bàn, Bồ Đề Đạt Ma về Tây, Lục Tổ an nhiên tự tại. Trên thánh dưới phàm, người trí hiểu rõ thân tứ đại là khổ, không chấp trước; kẻ mê lầm lầm tưởng năm ấm là thật, nên còn luyến lưu.
Thiết nghĩ, Thầy là bậc đạo cao siêu, ngoài đời quảng đại, việc làm vô ngại, cử chỉ khôn lường. Đường sanh tử hẳn Thầy đã tỏ tường, lẽ chân thật chắc Thầy đã thấu triệt. Thế nhưng, khi Thầy ra đi, chúng con sao tránh khỏi luyến tiếc, dù biết Thầy đã nhẹ gót về Tây. Làm sao chúng con quên đi những tháng ngày được ơn Thầy dưỡng dục?
Ô hô! Nhớ Giác linh xưa! Đất Phú Yên sinh ra, trời Bình Định xuất trần. Duyên lành quy y với đại lão Như An thượng nhân, được học tập tại Tu viện Nguyên Thiều. Thuở nhỏ sớm hôm cận kề Trưởng lão Đồng Thiện, lớn lên lại lui tới Quảng Bửu đại sư. Mới đôi mươi đã thông suốt Tam tạng kinh thư, vài hạ đã thấu tròn tâm chân thật. Cơ huyền diệu mật, tích điển bí chương, Đông Tây nội ngoại, Bắc Nam cổ kim, Ngài đều thông đạt. Tính tình chất phác, ứng xử thông minh, xứng danh con cháu pháp vương, bậc túc tôn đại sĩ.
Ngày ngày cuốc đất trồng rau nhưng không quên trau dồi kim cương trí. Đêm đêm tụng kinh gõ mõ, luôn nguyện ấp ủ đại bi tâm. Quả thực, Thầy là bậc tinh tú thiền lâm, côn bằng hải chúng, pháp môn lương đống, thạch trụ tông phong. Là chỗ bốn chúng đệ tử kính mong, nơi tục tăng trông cậy.
Chúng con cứ ngỡ gió vô thường còn xa lắm, nào ngờ sự cách biệt đã đến hôm nay. Hạc vàng sải cánh bay về nơi bảo sở trời Tây nhẹ nhàng. Đau đớn thay! Trượng thất cô liêu từ nay vắng người cốc chủ, thiền đường thanh tịch sau này thiếu bậc chân tu. Bóng tùng mịt mùng sương phủ, gốc mai man mác gió lạnh. Tháp Bạc đổ bóng sông hiu quạnh, cội sứ in mình cỏ rêu phong. Chuông Nguyên Thiều không đánh mà kêu, trống tu viện không khua lại động. Chín hồi lôi âm vang vọng, một thoáng hư mộng mơ màng. Môn đồ hiếu quyến bàng hoàng, pháp phái sơn môn luyến tiếc.
Đỉnh Thứu mây che, non Kê sương phủ, suối Tào Khê nước chảy, vườn Thiếu Thất đèn thiền leo lét. Ôi thôi! Giờ này Thầy đã nghìn thu vĩnh biệt, phút ấy con cháu ngàn dạ nhớ mong.
Từ nay nguyện học theo gương sáng bậc tăng nông, nối gót ý chí người thượng sỹ. Trên đài cao khói hương ngưỡng mong Giác linh tỏ ý, dưới chiếu cỏ sụt sùi ngấn lệ tâm thành đệ tử bày dạ tiếc thương. Người về nước Tây phương, không quên nguyện cũ; trở về bổn xứ, tiếp độ quần sanh. Qua đến Hóa thành, thẳng về bảo sở, để đàm hoa lại thế, Phật nhật trùng huy, dòng chảy đạo pháp trường kỳ, ánh sáng tông phong luôn mở rộng.
Mấy lời chúc tụng, Tôn giả chứng minh. Đệ tử nghiêng mình, cúi đầu bái hiến.
Nam mô Lâm Tế Tông Tứ Thập Nhị Thế, Chúc Thánh Pháp Phái, Nguyên Thiều Tu Viện Đường Thượng Đệ Tam Đăng huý thượng Thị hạ Anh tự Minh Tuấn hiệu Viên Minh Hoà Thượng Giác Linh Liên Toạ Thuỳ Từ Chiếu Giám.
Ngu tử: Thích Đồng Thuận
Tâm Thành Khể Thủ.

HẠNH NGUYỆN VIÊN MINH
Kính niệm tưởng Giác Linh cố HT Đệ Tam Trụ Trì, Tu Viện Nguyên Thiều,
Những ngày buốt lạnh cuối mùa Đông
Người con xa xứ mãi hoài mong
Về thăm đất Tổ, nôi yêu dấu
Sum họp mùa Xuân, sưởi ấm lòng.
Hôm nay điện thoại mấy lần reo
Đột ngột báo tin tại Nguyên Thiều
Hòa Thượng Trụ Trì vừa viên tịch
Cảm xúc tràn về biết bao nhiêu!…
Con nhớ ngày xưa mới xuất gia
Tình nghĩa Đệ – Huynh thật đậm đà
Tận tâm nhắc nhở từng cử chỉ
Hun đúc, rèn nên chí cao xa…
Thầy dạy Nghi Lễ với Anh Văn
Khuyên đàn hậu học phải siêng năng
Giúp ôn Phật Pháp vào Cơ Bản
Trang bị kế thừa những danh Tăng.
Trước kia kinh tế, việc ruộng nương
Quý Thầy đội nắng với dầm sương
Máy nổ bị hư, Thầy lo sửa
Hao gầy, còn lại chỉ bộ xương.
Bờ rào, bờ giậu, lấn đất đai
Họ vào trộm phá mít với xoài
Thầy trò đối diện bao nghịch cảnh
Bám trụ, giữ Chùa, chí không phai.
Cả ngày chỉ đạo họ dựng xây
Nào là đào giếng với trồng cây
Chăm sóc cảnh quan cho tự viện
Gồm đủ chức năng: Thợ với Thầy.
Mắt mờ vẫn thấy rõ tương lai
Chân yếu, hơi run, bước tới hoài
Sao không yên nghỉ nơi yên ấm?
Thân bệnh không màng, chẳng dừng tay?!
Thầy quên tuổi tác sắp Bảy Mươi
Sớm chiều tiếp khách vẫn cười tươi
Mặc đời đen bạc, tâm chí lớn
Lặng lẽ dấn thân, trọn kiếp Người.
Gắn bó Nguyên Thiều chí thiết tha
Vượt bao cám dỗ của tà ma
Nghịch duyên, thử thách không lay chuyển
Xuất trần, thượng sỹ, hạnh xuất gia.
Như voi ra trận chịu cung tên
Lịch sử, khúc quanh, chí vững bền
Người vốn gồm thâu: Bi – Trí – Dũng
Mài giũa, trau dồi, thế mới nên!
Người đã đi rồi, thật thế sao?!
Kỷ niệm còn đây, những năm nào
Giờ đang sống lại trong tâm trí
Thương nhớ đong đầy, dạ xuyến xao…
Nguyên Thiều vang vọng mấy hồi chuông
Chòm liễu đìu hiu, ủ rũ buồn
Duyên trần nương tạm, thôi gửi lại
Giã từ cuộc mộng, thế là BUÔNG!
Sông Côn muôn thuở sóng xôn xao
Kẽ lá cành cây vẫn xạc xào
Bóng Người lồng lộng nơi Tháp Cổ
Lung linh, sáng mãi, một vì sao…
11/1/2025, ngày nhập Kim Quan Cố HT Đệ Tam Trụ Trì
Hướng về Tu Viện Nguyên Thiều
Nén hương tưởng niệm:
Thích Đồng Trí (Minh Tuệ)

無常去來恒霜影
體入湖山悟色空
故宇重光添白朵
知非知滅了心同
Phiên âm:
Vô thường khứ lai hằng sương ảnh
Thể nhập hồ sơn ngộ sắc không
Cố vũ trùng quang thiêm bạch đóa
Tri phi tri diệt liễu tâm đồng.
Tam dịch:
Đến đi vô thường như sương ảnh
Thể hòa sông núi hiểu sắc không
Quê cũ lại ngời thêm một Phật.
Biết không biết diệt hiểu thấu lòng.
Nguyên Thiều môn nhơn
Hậu học Tâm An khấp bái giác linh Đại sư.
Nam mô Nguyên Thiều đường thượng, húy Thị Anh, tự Minh Tuấn, hiệu Viên Minh, Đại đức Hòa Thượng giác linh
Cuộc đời và đạo nghiệp của Hòa thượng Thích Minh Tuấn là một minh chứng sống động cho tinh thần phụng sự Đạo Pháp và Dân tộc, một di sản tâm linh vượt thời gian mà chúng ta có thể tiếp tục khám phá sâu hơn trong chuyên mục Tiểu sử.

