Tỳ Ni Đa Lưu Chi: Thiền Sư Truyền Thừa

× 🎁 Ưu đãi Shopee hôm nay – Nhấn nhận ngay!
🔥 Ưu đãi Shopee - Bấm để xem ngay!
0
(0)

Khám phá hành trình đầy ý nghĩa của Thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi, người đã mang dòng Thiền Tỳ-ni-đa-lưu-chi đến Việt Nam, từ quá trình tìm cầu chân lý đến việc hoằng pháp và truyền thừa. Tham khảo thêm các bài viết về Phật pháp tại Website Chia sẻ Đạo Phật.

TỔ VINITARUCI (?-594)

Người Khai Sáng Dòng Thiền Tỳ-ni-đa-lưu-chi Tại Việt Nam

Tổ Vinitaruci, xuất thân từ dòng dõi Bà-la-môn tại Nam Thiên Trúc (miền Nam Ấn Độ), ngay từ thuở thiếu thời đã bộc lộ chí hướng khác thường. Người đã dành nhiều năm đi khắp miền Tây Trúc để tìm cầu chân lý trong Thiền Tông. Tuy nhiên, duyên lành chưa hội đủ, Người tiếp tục hành trình sang phương Đông.

Vào năm 574, dưới triều đại nhà Trần Tuyên Đế, niên hiệu Thái Kiến thứ sáu, Tổ Vinitaruci đã đến Trường An, Trung Quốc. Cùng thời điểm này, Chu Vũ Đế tiến hành cuộc đàn áp Phật giáo, khiến Người buộc phải di chuyển đến vùng đất Nghiệp (nay thuộc Hồ Nam). Tại đây, Người đã may mắn gặp được Thiền sư Tăng Xán, vị Tổ đang ẩn tu trên núi Tư Không. Chứng kiến phong thái phi phàm của Tổ Tăng Xán, Tổ Vinitaruci phát tâm kính mộ sâu sắc. Người ba lần chắp tay trước Tổ, nhưng Tổ vẫn an nhiên nhập định, không lời đáp.

Xem thêm: Hòa thượng Thích Tố Liên: Vị Lãnh Đạo Chấn Hưng Phật Giáo và Di Sản Vô Giá

Sau giây lát trầm tư, Tổ Vinitaruci chợt giác ngộ và thấu hiểu. Người bèn thành kính đảnh lễ ba lần, và Tổ Tăng Xán chỉ gật đầu đáp lại. Lùi lại ba bước, Tổ Vinitaruci kính cẩn thưa:

– Đệ tử từ lâu chưa được an ổn. Kính mong Hòa thượng vì lòng đại từ bi, cho phép con được theo hầu hạ Ngài.

Tổ Tăng Xán đáp:

– Ngươi nên nhanh chóng sang phương Nam để giáo hóa chúng sanh, chớ nên ở lại đây lâu.

Tìm hiểu thêm: Minh Nhựa: Thiếu gia ăn chơi bậc nhất Sài Gòn giờ là đại gia "sống vì Phật"

Sau khi nhận được sự truyền thừa tâm ấn từ Tổ Tăng Xán, Người rời đi và đến Quảng Châu, trụ trì tại chùa Chế Chỉ. Trong sáu năm ở đây, Người đã hoàn thành việc dịch bộ kinh “Tượng Đầu Tinh Xá” từ tiếng Phạn sang chữ Hán. (Kinh Phật thuyết Tượng Đầu Tinh Xá, Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng số 466).

Đến năm 580, niên hiệu Đại Tường thứ hai nhà Chu, Tổ Vinitaruci đến Việt Nam và trụ trì tại chùa Pháp Vân. Ngôi chùa này, còn được biết đến với tên chùa Dâu hay chùa Diên Ứng, tọa lạc tại xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc, cách Hà Nội khoảng 25km về phía Đông. Trải qua các triều đại, chùa đã mang nhiều tên gọi khác nhau như chùa Cổ Châu (thời Lý), chùa Thiền Định hoặc chùa Siêu Loại (thời Trần), và chùa Diên Ứng (thời Hậu Lê).

Tại đây, Người đã dịch xong bộ kinh Đại Thừa Phương Quảng Tổng Trì. (Kinh Phật thuyết Đại Thừa Phương Quảng Tổng Trì, Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng số 275).

Một ngày nọ, Tổ Vinitaruci gọi đệ tử thân cận là Pháp Hiền vào thất và dạy rằng:

Khám phá: Hòa thượng Thích Minh Chiếu: Thiền sư tài đức, người bảo tồn ngọn lửa Chánh pháp

– Tâm ấn của chư Phật là sự thật, không hề lừa dối. Nó tròn đầy như hư không, không thiếu không thừa, không đến không đi, không được không mất, không một không khác, không thường không đoạn. Bản thể của nó vốn không sinh, không diệt, không xa lìa mà cũng chẳng phải xa lìa. Danh xưng này chỉ là giả lập để đối trị với tâm vọng duyên mà thôi. Vì lẽ đó, chư Phật trong ba đời, các bậc Tổ sư qua nhiều đời đều nhờ đó mà thành tựu. Ta cũng nhờ đó mà chứng ngộ, ngươi cũng nhờ đó mà thành tựu, cho đến tất cả hữu tình và vô tình cũng đều nhờ đó mà được giải thoát. Tổ Tăng Xán khi truyền tâm ấn cho ta đã dặn ta mau về phương Nam giáo hóa, không nên ở đây lâu. Nay ta đã đi qua nhiều nơi, đến đây gặp được ngươi, quả thực là ứng theo lời tiên tri. Vậy ngươi hãy khéo gìn giữ, vì giờ của ta đã điểm.

Nói xong, Tổ Vinitaruci chắp tay và an nhiên thị tịch. Sau đó, đệ tử Pháp Hiền đã thực hiện lễ hỏa táng, thu thập xá lợi và xây tháp cúng dường. Sự kiện này diễn ra vào năm 594, niên hiệu Khai Hoàng thứ mười bốn nhà Tùy.

Về sau, Vua Lý Thái Tông (trị vì 1028-1054) đã sáng tác một bài kệ để tưởng nhớ và tôn vinh công đức của Tổ:

Mở lối nước Nam đến
Nghe Ngài giỏi tập thiền.
Hiện bày các Phật tánh
Xa hiệp một nguồn tâm.
Trăng Lăng-già sáng rỡ
Hoa Bát-nhã ngạt ngào.
Bao giờ được gặp mặt
Cùng nhau bàn đạo huyền.

(Nguyên văn chữ Hán):
Sáng tự Nam lai quốc
Văn quân cửu tập thiền
Ứng khai chư Phật tính
Viễn hợp nhất tâm nguyên
Hạo hạo Lăng-già nguyệt
Phân phân Bát-nhã liên.
Hà thời hạnh tương kiến
Tương dữ thoại trùng huyền.

Tìm hiểu sâu hơn về hành trình và tư tưởng của các bậc tiền bối, bạn có thể khám phá thêm trong chuyên mục Tiểu sử.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang