Cuộc đời Đức Đệ Ngũ Tăng Thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, Hòa thượng Thích Quảng Độ, là một hành trình đầy ý chí và trí tuệ, bắt đầu từ vùng quê Thái Bình. Từ thuở thiếu thời, ngài đã sớm bén duyên với Phật pháp, bươn bả trên con đường tu tập và học vấn uyên thâm khắp châu lục, góp phần định hình tư tưởng Phật giáo Việt Nam. Khám phá sâu hơn về cuộc đời và di sản của ngài tại Chiasedaophat.
SƠ LƯỢC TIỂU SỬ
TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG
THÍCH QUẢNG ĐỘ
ĐỆ NGŨ TĂNG THỐNG
GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT
THÂN THẾ
Hòa thượng Thích Quảng Độ, thế danh Đặng Phúc Tuệ, sinh ngày 27 tháng 11 năm 1928 tại xã Nam Thanh, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Ngài xuất thân trong một gia đình nông nghiệp, có truyền thống Nho học và kính tin Phật Pháp. Thân phụ là cụ ông Đặng Phúc Thiều, thân mẫu là cụ bà Đào Thị Huân. Ngài là người con út trong ba người con trai.
XUẤT GIA TU HỌC
Năm 1934, Ngài bắt đầu học tập tại trường làng. Đến năm 1942, Ngài xuất gia với Hòa thượng Thích Đức Hải, trụ trì chùa Linh Quang, thôn Thanh Sam, xã Trường Thịnh, tỉnh Hà Đông. Tại đây, Ngài được ban pháp danh Quảng Độ và sau đó được gửi đến tu học tại Phật học viện Quán Sứ Hà Nội.
Năm 1944, Ngài thọ giới Sa di, và đến năm 1947, Ngài đăng đàn thọ Cụ túc giới.
Năm 1952, Tổng hội Phật giáo Việt Nam được thành lập tại Bắc Việt. Hòa thượng Thích Quảng Độ được cử đi du học tại Phật học viện Kelaniya Pirivena ở Tích Lan.
Tiếp nối hành trình học tập, từ năm 1952-1953, Ngài tiếp tục du học tại Ấn Độ cùng với các vị Thích Minh Châu, Thích Quảng Liên, Thích Trí Không và Thích Huyền Dung. Trong thời gian này, Ngài cũng có dịp chiêm bái các thánh tích Phật giáo tại Nepal, Bhutan và Tây Tạng.

THỜI KỲ HÀNH ĐẠO
Năm 1958, Ngài trở về Sài Gòn, tập trung vào việc giảng dạy và dịch thuật kinh sách. Trong biến cố Phật giáo năm 1963, Ngài đã tham gia Ủy ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo với vai trò Thông tin Báo chí. Trong cuộc đàn áp Phật giáo ngày 20 tháng 8 năm 1963, Ngài đã bị chính quyền Ngô Đình Diệm bắt giữ cùng hàng ngàn Tăng Ni, Phật tử khác.
Sau cuộc đảo chính ngày 01 tháng 11 năm 1963, Ngài được trả tự do. Tuy nhiên, trong thời gian bị giam cầm, Ngài đã phải chịu đựng sự tra tấn dã man. Di chứng từ đó khiến Ngài phải điều trị bệnh trong ba năm. Năm 1966, Ngài sang Nhật Bản để phẫu thuật phổi. Đến năm 1967, sau khi bình phục, Ngài mới trở về Việt Nam. Trên đường về, Ngài đã ghé thăm và khảo sát tình hình Phật giáo tại Đài Loan, Hồng Kông, Thái Lan và Miến Điện.
Trở về nước, Ngài tiếp tục sự nghiệp dịch thuật và giảng dạy tại các cơ sở Phật học uy tín như Phật học viện Từ Nghiêm, Phật học viện Dược Sư, Viện Đại học Vạn Hạnh (Sài Gòn) và Viện Đại học Hòa Hảo (An Giang).
Năm 1972, Hòa thượng giữ chức vụ Phát ngôn nhân kiêm Thanh tra của Viện Hóa Đạo thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất.
Tháng 11 năm 1973, tại Đại hội kỳ V, Ngài được tín nhiệm bầu giữ chức Tổng Thư ký Viện Hóa Đạo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất.
Trong thập niên 1970-1980, do kiên quyết bảo vệ sự độc lập của Giáo hội trước sự giám sát của nhà nước và lên tiếng tố cáo các hành vi đàn áp tôn giáo, Hòa thượng cùng với Hòa thượng Huyền Quang và năm vị Giáo phẩm khác đã bị chính quyền bắt giữ từ tháng 4 năm 1977. Đến tháng 12 năm 1978, Ngài được trả tự do sau phiên tòa tại Sài Gòn, nhờ sự can thiệp của giới chính trị và truyền thông châu Âu.
Năm 1982, Ngài và thân mẫu bị buộc phải rời Sài Gòn, an trí tại quê nhà xã Vũ Đoài, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.
Mười năm sau, Hòa thượng tự ý rời khỏi nơi cưỡng bách an trí, trở vào Nam để tham gia hoạt động đòi quyền tự do tôn giáo. Bất chấp lệnh trục xuất về Bắc, Ngài khẳng định quyền cư trú của công dân Việt Nam trên khắp lãnh thổ.
Tháng 8 năm 1995, Công an Sài Gòn đã bắt tạm giam Hòa thượng khi Ngài đang thực hiện nhiệm vụ cứu trợ đồng bào miền Tây Nam Bộ bị bão lụt. Sau đó, Tòa án Sài Gòn tuyên phạt Ngài 5 năm tù giam và 5 năm quản chế với cáo buộc “phá hoại chính sách đoàn kết và lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích Nhà nước”.
Năm 1998, dưới áp lực từ chính phủ Hoa Kỳ, Hòa thượng được trả tự do nhưng vẫn chịu sự quản thúc và cấm thuyết pháp. Mọi hoạt động ra vào Thanh Minh Thiền Viện đều bị giám sát chặt chẽ.
Năm 2003, tại Đại hội Đặc biệt của GHPGVNTN tổ chức tại Tu viện Nguyên Thiều, Bình Định, Hòa thượng Thích Huyền Quang được cung cử vào tôn vị Tăng Thống, còn Hòa thượng Thích Quảng Độ được cử làm Viện trưởng Viện Hóa Đạo GHPGVNTN.
Cùng năm 2003, Hòa thượng Thích Quảng Độ được Tổ chức People in Need (Cộng hòa Czech) trao giải thưởng Homo Homini vì những đóng góp trong việc bảo vệ nhân quyền, tự do dân chủ và tự do tôn giáo tại Việt Nam.
Năm 2006, Ngài nhận Giải Thorolf Rafto vì những nỗ lực “dũng cảm và kiên trì chống đối ôn hòa chế độ Cộng sản Việt Nam”. Ngài được xem là một nhà lãnh đạo kiên định, không nao núng trước thế quyền, kiên quyết đòi quyền tự do sinh hoạt cho GHPGVNTN. Vì những cống hiến này, Ngài đã nhiều lần được đề cử cho giải Nobel Hòa Bình.
Năm 2008, sau khi Hòa thượng Thích Huyền Quang viên tịch, theo di chúc, Hòa thượng Thích Quảng Độ được ủy thác đảm đương tôn vị Đệ Ngũ Tăng Thống của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, và tạm thời giữ chức vụ Xử lý Thường vụ Viện Tăng thống.
Tháng 11 năm 2011, tại Đại hội kỳ IX của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tại Hoa Kỳ, Hòa thượng chính thức được suy tôn là Đệ Ngũ Tăng Thống của Giáo hội.
Sau 20 năm lưu trú tại Thanh Minh Thiền Viện, vào ngày 15 tháng 9 năm 2018, Hòa thượng buộc phải rời đi và sau đó trở về quê nhà Thái Bình vào ngày 5 tháng 10 năm 2018. Đến ngày 18 tháng 11 năm 2018, Ngài trở lại Sài Gòn và an trú tại chùa Từ Hiếu, Quận 8 cho đến ngày viên tịch.
CÔNG TRÌNH PHIÊN DỊCH VÀ BIÊN SOẠN
Trong suốt cuộc đời tu hành và hành đạo, dù phải đối mặt với nhiều khó khăn, tù đày và bận rộn Phật sự, Hòa thượng Thích Quảng Độ đã dành trọn tâm huyết cho việc hoằng dương Chánh pháp. Sự nghiệp trước tác và phiên dịch của Ngài nhằm truyền bá giáo lý Phật Đà đến với chúng sanh. Một số tác phẩm tiêu biểu của Ngài bao gồm:
- Kinh Mục Liên (3 quyển)
- Kinh Đại Phương Tiện Phật Báo Ân (7 quyển)
- Truyện Cổ Phật Giáo
- Thoát Vòng Tục Lụy (tiểu thuyết lịch sử, nguyên tác của Thích Tinh Vân)
- Dưới Mái Chùa Hoang (truyện)
- Nguyên Thủy Phật Giáo Tư Tưởng Luận (nguyên tác của Kimura Taiken)
- Tiểu Thừa Phật Giáo Tư Tưởng Luận (nguyên tác của Kimura Taiken)
- Đại Thừa Phật Giáo Tư Tưởng Luận (nguyên tác của Kimura Taiken)
- Chiến Tranh và Bất Bạo Động (nguyên tác của S. Radhakrishnan)
- Từ điển Phật học Hán Việt (Ngài tham gia hiệu đính)
- Phật Quang Đại Từ điển (9 tập)
- Thơ trong tù (1977-1978)
- Thơ lưu đày (1982-1992)
VIÊN TỊCH VÀ TANG LỄ
Vào lúc 21 giờ 30 phút ngày 22 tháng 2 năm 2020 (nhằm ngày 29 tháng Giêng năm Canh Tý), Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ đã thuận thế vô thường, an nhiên viên tịch tại Phương trượng Chùa Từ Hiếu, Sài Gòn, trụ thế 93 năm, 73 hạ lạp.
Theo di huấn của Ngài, tang lễ được tổ chức đơn sơ, không quá ba ngày. Tăng Ni, Phật tử đến lễ bái, thọ tang mà không phúng điếu, không vòng hoa, trướng liễn, không điếu văn, tiểu sử hay cảm tưởng. Sau khi hỏa táng, tro cốt của Ngài được rải xuống biển.
Cuộc đời gần một thế kỷ của Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ là một hành trình không ngừng nghỉ cho sự nghiệp xiển dương đạo pháp. Ngài là tấm gương sáng ngời về đạo hạnh, sự nghiệp hoằng hóa và tinh thần vô úy của một vị Bồ Tát tại thế. Dù thân tứ đại đã hoại diệt, nhưng pháp thân và những cống hiến của Ngài sẽ mãi là ngọn đuốc soi đường cho Tăng Ni, Phật tử Việt Nam.
Nam Mô Tân Viên Tịch Ma Ha Tỷ Kheo Bồ Tát Giới, Việt Nam Phật Giáo Thống Nhất Giáo Hội, Nguyên Viện Trưởng Viện Hóa Đạo, Đệ Ngũ Tăng Thống, húy thượng Quảng hạ Độ, Đại Lão Hòa Thượng Giác Linh thùy từ chứng giám.
TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH QUẢNG ĐỘ
ĐỆ NGŨ TĂNG THỐNG
GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT
Biography of The Most Venerable
THÍCH QUẢNG ĐỘ
The Fifth Patriarch
of the Unified Buddhist Church of Vietnam
(1928 – 2020)
The Most Venerable Thích Quảng Độ was born Đặng Phúc Tuệ in Thai Binh province, Northern Vietnam, on November 27, 1928. He came from a farming family with a tradition of Confucian scholarship and deep faith in Buddhism. He was the youngest of three sons.
At the age of 14, the Most Venerable Thích Quảng Độ was ordained as a monk under his master, the Most Venerable Thích Đức Hải, at Linh Quang Temple. In the early 1950s, the newly established General Association of Vietnamese Buddhism nominated him to pursue further Buddhist studies in Sri Lanka and India, alongside several other distinguished Buddhist scholars.
Returning to Vietnam in 1958, the Most Venerable Thích Quảng Độ dedicated himself to teaching and translating Buddhist scriptures. He also became an active proponent of Buddhist rights, opposing the anti-Buddhist policies of the Ngô Đình Diệm government. Following a raid on Buddhist temples in Hue and Saigon, he was arrested on August 20, 1963. The Most Venerable Thích Quảng Độ and thousands of other Buddhists endured torture and persecution during their imprisonment.
After the overthrow of the Diem regime in a military coup in November 1963, the Most Venerable Thích Quảng Độ was released. However, the severe mistreatment he suffered during imprisonment led to a prolonged struggle with tuberculosis, necessitating lung surgery in Japan in 1966. Upon his recovery and return to Vietnam in 1967, he resumed his work of sutra translation and teaching. During this period, he also visited Taiwan, Hong Kong, Thailand, and Burma to observe the state of Buddhism in Asia.
From 1972 onwards, the Most Venerable Thích Quảng Độ held significant positions within the Unified Buddhist Church of Vietnam, including serving as the Secretary-General of the Institute for the Dissemination of Dharma.
Following the Communist government’s assumption of power in 1975, the Most Venerable Thích Quảng Độ, along with other Buddhist leaders, faced renewed persecution due to their advocacy for religious freedom in Vietnam. He was arrested in April 1977 and spent 20 months in solitary confinement. He was tried and released in December 1978, partly due to the intervention of European governments and media.
In 1982, he and his mother were expelled from Saigon and compelled to reside in their native province of Thai Binh in Northern Vietnam.
Ten years later, defying the government’s order, the Most Venerable Thích Quảng Độ returned to the South to continue his efforts for religious freedom. He was subsequently re-arrested and sentenced to five years in prison and five years of probation on charges of “undermining national unity policies and exploiting democratic freedoms to harm state interests.” In 1998, under pressure from the U.S. government, he was released but remained under surveillance, with his preaching activities restricted.
In 2003, the Most Venerable Thích Quảng Độ was appointed President of the Institute for the Dissemination of the Dharma of the Unified Buddhist Church of Vietnam. Throughout his life, he received numerous accolades, including:
- 1978 – Nominated for the Nobel Peace Prize by Betty Williams and Mairead Maguire.
- 2003 – Awarded the Homo Homini Award for human rights activism by the Czech organization People in Need.
- 2006 – Received the Thorolf Rafto Memorial Prize for his “personal courage and perseverance through three decades of peaceful opposition against the communist regime in Vietnam, and as a symbol for the growing democracy movement.”
After twenty years residing at Thanh Minh Monastery in Southern Vietnam, the Most Venerable Thích Quảng Độ was forced to leave. He eventually returned to his home province of Thai Binh in late 2018. In November 2018, he returned to Saigon and stayed at Từ Hiếu Temple until his passing.
Despite years of imprisonment and hardship, the Most Venerable Thích Quảng Độ’s primary dedication was to the propagation of the Buddha Dharma through his extensive teaching and literary works. His life’s commitment and fearless embodiment of Bodhisattva principles serve as an enduring inspiration for monks, nuns, and Buddhists in Vietnam and beyond.
May the Most Venerable Thích Quảng Độ attain the supreme peace of Nirvana.
Namo Shakyamuni Buddha. Namo Amitabha Buddha.
Thanh Kim & Thanh Nguyen
(Translated into English)
___________________________________
References used in support of translation:
https://en.wikipedia.org/wiki/Th%C3%ADch_Qu%E1%BA%A3ng_%C4%90%E1%BB%99
https://www.japantimes.co.jp/news/2020/02/23/asia-pacific/vietnamese-dissident-monk-nobel-dies/#.XlSag2gzY2w
http://thewashingtonpost.newspaperdirect.com/epaper/viewer.aspx
DI HUẤN CỦA ĐỨC TĂNG THỐNG
THÍCH QUẢNG ĐỘ
Vào ngày mùng một tháng ba năm Kỷ Hợi (tức ngày 05/4/2019), tại Chùa Từ Hiếu, Phường 1, Quận 8, Thành phố Sài Gòn, tôi – Sa môn Thích Quảng Độ, Đệ Ngũ Tăng Thống – Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) – xin lập bản Di Huấn này để xác nhận những nguyện vọng cuối đời của tôi như sau:
- Thứ nhất – Tôi nguyện được an trú tại Chùa Từ Hiếu cho đến ngày viên tịch, không mong muốn đi đâu khác.
- Thứ hai – Việc tôi rời Thái Bình vào ngày 17/11/2018 là hoàn toàn theo ý nguyện cá nhân, không có bất kỳ sự ép buộc hay bắt cóc nào. Tôi tự nguyện trở về Sài Gòn và đã nhờ Hòa thượng Thích Nguyên Lý, trụ trì Chùa Từ Hiếu, cùng cháu gái tôi là Đặng Thị Thu Huyền hỗ trợ việc di chuyển.
- Thứ ba – Tôi đã chọn Chùa Từ Hiếu làm nơi an dưỡng tuổi già và hoàn toàn tin tưởng vào sự chăm sóc của Hòa thượng Nguyên Lý cùng Chư Tăng và Phật tử tại Chùa. Tôi cho phép cháu gái tôi là Đặng Thị Thu Huyền ở lại chùa phụng dưỡng, sau khi đã nhận được sự chấp thuận của Hòa thượng Viện chủ Chùa Từ Hiếu.
- Thứ tư – Sau khi tôi viên tịch, tôi hoàn toàn ủy quyền cho Hòa thượng Thích Nguyên Lý cùng một số Chư Tăng Ni và Phật tử tâm huyết với Giáo hội (như được ghi rõ trong bản Di chúc) lo liệu Tang sự. Tang lễ sẽ được tổ chức đơn sơ, không quá ba ngày. Sau khi hỏa táng, tro cốt của tôi sẽ được rải xuống biển.
- Thứ năm – Kể từ ngày hôm nay, tôi không cho phép những cá nhân đã chống phá GHPGVNTN, hoặc không tuân thủ các Quyết định, Giáo chỉ, Thông bạch, Tâm thư… mà tôi đã ký ban hành, đến Chùa Từ Hiếu để thăm viếng tôi.
- Thứ sáu – Hiện tại, sức khỏe của tôi đang ổn định, mặc dù phần trí não có dấu hiệu thoái hóa do tuổi tác, dẫn đến tình trạng lúc nhớ lúc quên. Tuy nhiên, đối với các vấn đề quan trọng của Giáo hội, tôi vẫn giữ được sự sáng suốt và minh mẫn khi ký các quyết định. Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về những quyết định này.
- Thứ bảy – Kể từ ngày ký bản Di Huấn này, tất cả các bản Di huấn và Di chúc trước đây của tôi đều không còn giá trị pháp lý.
Phật Lịch 2562 – Sài Gòn – Chùa Từ Hiếu
Đệ Ngũ Tăng Thống GHPGVNTN
SA MÔN THÍCH QUẢNG ĐỘ
(Đã ấn ký)
Cuộc đời và di sản của Hòa thượng Thích Quảng Độ là một hành trình đầy ý nghĩa, thể hiện tinh thần bất khuất và cống hiến không ngừng cho đạo pháp. Để hiểu sâu hơn về những đóng góp và tư tưởng của Ngài, mời quý vị khám phá thêm trong chuyên mục Tiểu sử.

