Từ những gốc rễ sâu đậm trong truyền thống Phật giáo Huế, một hành trình xuất trần đã được gieo mầm từ thuở ấu thơ, vượt lên trên con đường học vấn thế gian. Khám phá câu chuyện về một bậc chân tu đã cống hiến trọn đời cho đạo pháp qua những trang Website Chia sẻ Đạo Phật.

Tiểu sử
Hòa thượng Thích Chơn Thiện
(1942-2016)
Thân thế và duyên khởi xuất gia
Hòa thượng Thích Chơn Thiện, húy Nguyễn Hội, pháp danh Tâm Ngộ, pháp tự Chơn Thiện, hiệu Viên Giác, là đệ tử của Đức cố Đại lão Hòa thượng Thích Tịnh Khiết, Đệ nhất Tăng thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Ngài sinh ngày 1 tháng 12 năm 1942 (nhằm ngày 24 tháng 10 năm Nhâm Ngọ) tại làng Dưỡng Mong thượng, xã Phú Mỹ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống kính ngưỡng Tam bảo, Hòa thượng là con út trong số mười anh chị em. Ngay từ thuở thiếu thời, ngài đã sớm bộc lộ niềm tin sâu sắc vào Phật pháp và chí hướng xuất trần. Trong những năm theo học tại Trường Nguyễn Tri Phương và sau đó là Quốc Học, ngài đã thực hành trai giới và tích cực tham gia sinh hoạt Gia đình Phật tử tại Tổ đình Tường Vân. Sự gần gũi, phụng sự chư Tăng tại Tổ đình đã giúp ngài học hỏi được nếp sống phạm hạnh, và được chư tôn đức hết mực yêu thương, quý mến.
Quá trình tu học và thành tựu Phật học
Năm 1960, duyên lành hội đủ, Hòa thượng được Đức Tăng thống, lúc bấy giờ là trú trì Tổ đình Tường Vân, cho phép xuất gia, trở thành thị giả của Ngài. Ngày 17 tháng 11 năm Quý Mão (1963), ngài được thọ Sa-di giới tại Tổ đình Tường Vân. Bảy tháng sau, vào năm Giáp Thìn (1964), Hòa thượng được bổn sư cho thọ Cụ túc giới tại Đại giới đàn Quảng Đức, Việt Nam Quốc Tự, Sài Gòn. Buổi lễ có sự hiện diện của Đức Đệ nhất Tăng thống GHPGVN Thống nhất, cố Đại lão Hòa thượng Thích Tịnh Khiết, với vai trò Đàn đầu.
Sau khi hoàn thành giới pháp, Hòa thượng được bổn sư gửi theo học chương trình cử nhân Phật học tại Pháp Hội và sau đó tiếp tục học cử nhân Văn khoa tại Đại học Vạn Hạnh, Sài Gòn. Năm 1968, ngài đã tốt nghiệp cả hai chuyên ngành cử nhân Văn khoa và cử nhân Phật học – Triết học Đông phương.
Từ tháng 8 năm 1968 đến tháng 3 năm 1969, Hòa thượng đảm nhiệm vai trò Quản trị Nội xá tại Đại học Vạn Hạnh. Tiếp đó, từ năm 1969 đến năm 1972, ngài được cử sang Hoa Kỳ du học theo học bổng của Cơ quan Văn hóa Á châu (Asia Foundation). Tại đây, Hòa thượng đã hoàn thành chương trình cao học Tâm lý Giáo dục tại Đại học Ohio, Hoa Kỳ.
Sự nghiệp hoằng pháp và cống hiến
Sau khi trở về nước, từ năm 1972 đến năm 1975, Hòa thượng được giao trọng trách Phó Giám đốc Sinh viên vụ, đặc trách Hướng dẫn Tâm lý Giáo dục tại Viện Đại học Vạn Hạnh. Ngài cũng tham gia giảng dạy và đóng góp cho các ấn phẩm của tạp chí Tư Tưởng và Vạn Hạnh.
Từ tháng 4 năm 1977 đến tháng 9 năm 1984, Hòa thượng được mời phụ tá cho Hòa thượng Thích Minh Châu, Viện trưởng Viện Phật học Vạn Hạnh tại TP. Hồ Chí Minh. Trong thời gian này, ngài là giảng sư tại Viện và tham gia giảng dạy chương trình cao cấp Phật học tại Già Lam. Hòa thượng đã dành nhiều tâm huyết nghiên cứu và biên soạn các tác phẩm Phật học có giá trị, phục vụ cho việc học thuật và hành trì của Tăng Ni, Phật tử.
Từ tháng 10 năm 1984 đến năm 1988, Hòa thượng là giảng sư tại chùa Linh Sơn, TP. Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Tại đây, những bài pháp thoại của ngài đã được ghi lại và trở thành kim chỉ nam tu tập cho nhiều người. Ngài cũng tiếp tục biên soạn nhiều tác phẩm Phật học quan trọng.
Từ năm 1988 đến tháng 7 năm 1992, Hòa thượng được mời giữ chức vụ phụ tá Viện trưởng kiêm Trưởng ban Học vụ tại Trường Cao cấp Phật học Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh (nay là Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh). Với vai trò thành viên Ban Giám hiệu, ngài đã có những đóng góp to lớn trong việc xây dựng và hoàn thiện chương trình giáo dục Tăng Ni các cấp.
Từ tháng 8 năm 1992 đến tháng 6 năm 1996, Hòa thượng tiếp tục hành trình học vấn tại Ấn Độ, theo học bổng của Bộ Ngoại giao Chính phủ Ấn Độ tại Đại học Delhi. Ngài đã bảo vệ thành công luận án phó tiến sĩ và tiến sĩ Phật học với đề tài “Lý thuyết Nhân tính qua Kinh tạng Pali” (The Concept of Personality Revealed through Panca Nikayas). Luận án xuất sắc này đã được Hội đồng Khoa học Đại học Delhi phê chuẩn học vị tiến sĩ Triết học, nhận được sự đánh giá cao từ Ủy ban Phát triển Nguồn nhân lực Ấn Độ và vinh dự được Tổng thống Ấn Độ tiếp kiến, khen ngợi.
Từ tháng 7 năm 1996 đến tháng 5 năm 2002, Hòa thượng đảm nhiệm nhiều vai trò quan trọng: Phó Viện trưởng Thường trực Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, Phó Viện trưởng Thường trực Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh, Trưởng ban Phật giáo Quốc tế Trung ương GHPGVN, Phó Trưởng ban Thường trực và Quyền Trưởng ban Giáo dục Tăng Ni Trung ương GHPGVN. Ngài cũng là một trong những thành viên sáng lập và Trưởng ban Thư ký Hội đồng Phiên dịch và Ấn hành Đại tạng kinh Việt Nam.
Từ tháng 6 năm 2002 đến tháng 11 năm 2016, Hòa thượng liên tục được tín nhiệm bầu làm Đại biểu Quốc hội các khóa XI đến XIV. Trong thời gian này, ngài còn đảm nhiệm chức vụ Phó Chủ tịch Ủy ban Hòa bình Việt Nam, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, và Ủy viên Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội.
Song song đó, Hòa thượng tiếp tục giữ vai trò Trưởng ban Giáo dục Tăng Ni Trung ương GHPGVN và là Viện trưởng Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế. Tháng 12 năm 2007, ngài được suy cử làm Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Trị sự GHPGVN. Từ tháng 3 năm 2008, Hòa thượng đảm nhiệm vai trò Tổng Biên tập Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo. Tháng 7 năm 2015, ngài được suy tôn ngôi vị Phó Pháp chủ Hội đồng Chứng minh GHPGVN.
Sau khi pháp huynh viên tịch, Hòa thượng được cung thỉnh làm Viện chủ Thiền viện Vạn Hạnh tại TP. Hồ Chí Minh và sau đó được tông môn pháp phái thỉnh vào ngôi vị Trú trì Tổ đình Tường Vân, TP. Huế.
Những đóng góp cho Giáo hội và giáo dục Phật giáo
Trong suốt sự nghiệp tu hành và phụng sự, Hòa thượng Thích Chơn Thiện đã có những đóng góp to lớn cho sự ổn định và phát triển của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Ngài đã định hướng và góp phần xây dựng một Giáo hội vững mạnh, đoàn kết.
Hoạt động đối ngoại và giao lưu quốc tế
Bên cạnh các hoạt động trong nước, Hòa thượng còn tích cực tham gia công tác đối ngoại. Với vai trò Đại biểu Quốc hội, ngài đã nhiều lần dẫn đầu các phái đoàn đại diện GHPGVN tham dự các hội nghị và hội thảo Phật giáo quốc tế tại các quốc gia như Ấn Độ, Nhật Bản, Pháp, Mỹ. Ngài cũng tham gia giao lưu hữu nghị với các giáo sĩ và trí thức tại Maroc, đồng thời thực hiện nhiều chuyến hoằng pháp tại các nước châu Âu như Pháp, Đức, Nga, Ukraine, Ba Lan, Cộng hòa Séc…
Kiến tạo cơ sở vật chất và phát triển giáo dục
Năm 1995, Hòa thượng tham gia Ban Kiến thiết và sau đó là Trưởng ban Xây dựng Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh. Từ năm 2009 đến năm 2013, ngài đã tiến hành các thủ tục xin cấp đất và khởi công xây dựng cơ sở mới cho Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế. Lễ đặt đá xây dựng được tổ chức trọng thể vào ngày 14 tháng 9 năm 2015, và đến nay, 13 hạng mục công trình đã hoàn tất, sẵn sàng đưa vào sử dụng.
Vào tháng 5 năm 2013, Hòa thượng cùng chư tôn đức môn phái Tổ đình Tường Vân đã tiến hành đại trùng tu ngôi cổ tự này. Lễ khánh thành được tổ chức vào tháng 3 năm 2015.
Trong lĩnh vực giáo dục, ngoài việc tham gia điều hành các cơ sở đào tạo Phật giáo, Hòa thượng còn trực tiếp giảng dạy cho nhiều khóa học tại Đại học Vạn Hạnh, Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh và Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế. Ngài thường xuyên thuyết giảng Phật pháp cho Tăng Ni và Phật tử khắp các tỉnh thành, đồng thời đóng góp nhiều bài viết trí tuệ cho các tạp chí và báo chí uy tín như Tư Tưởng Đại học Vạn Hạnh, báo Giác Ngộ, Tập văn của Ban Văn hóa Trung ương, Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo, báo Đại Biểu Dân Nhân. Đặc biệt, ngài đã nỗ lực giới thiệu Pháp tạng Pali, góp phần kết nối và thống nhất tư tưởng Phật giáo từ Nguyên thủy đến Phát triển.
Sự nghiệp nghiên cứu, biên soạn và dịch thuật
Hòa thượng Thích Chơn Thiện được biết đến như một bậc chân nhân với trí tuệ uyên bác, thể hiện qua nhiều công trình nghiên cứu và dịch thuật giá trị. Các tác phẩm của ngài đã trở thành nguồn tài liệu căn bản cho việc tham cứu, học tập và giảng dạy tại các cấp Phật học, cũng như là kim chỉ nam cho việc vận dụng Phật pháp một cách sáng suốt, hiệu quả để ứng phó với những thách thức của thời đại.
I. Nghiên cứu và biên soạn:
- Phật học khái luận
- Tăng-già thời Đức Phật
- Tư tưởng kinh Pháp hoa
- Tư tưởng kinh Kim cang
- Tư tưởng kinh Địa Tạng
- Tư tưởng kinh Di Đà
- Những hạt sương
- Hoa ngọc lan
- Tư tưởng Việt Nam
- Bàn về Tây du ký của Ngô Thừa Ân
- The Concept of Personality Revealed Through the Panca Nikayas
- Tìm hiểu Trung bộ kinh
- Tìm vào thực tại
- Giáo lý Duyên khởi
- Hương còn mãi
- Tiếng hót Ca-lăng-tần-già
- Trí tuệ và Chân thành
- Tư tưởng Việt Nam: Nhân bản thực tại luận
II. Biên dịch:
- Nghiên cứu kinh Lăng-già (đồng dịch giả)
- Lăng-già Đại thừa kinh (đồng dịch giả)
- Lý thuyết Nhân tính qua Kinh tạng Nikayas
- Satipatthana – Trái tim thiền định của Phật giáo (The Heart of Buddhist Meditation)
- Tìm hiểu đạo Phật (Buddhism Explained)
Sự ghi nhận về công đức
Với những đóng góp to lớn cho đạo pháp và dân tộc, Hòa thượng Thích Chơn Thiện đã nhận được sự ghi nhận và tôn vinh xứng đáng từ Nhà nước và Giáo hội. Ngài đã được trao tặng nhiều huân chương, huy chương và bằng khen cao quý, bao gồm: Huân chương Độc lập hạng nhì (11-2011), Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ (12-2007), Huân chương Đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch nước (6-2014), Kỷ niệm chương Vì sự nghiệp Dân vận của Ban Dân vận Trung ương (1/2015), Kỷ niệm chương Vì sự nghiệp Đại đoàn kết dân tộc của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (9-2015), và Bằng tuyên dương công đức của Chủ tịch Hội đồng Trị sự GHPGVN (9-2015).
Trong suốt 75 năm hiện diện trên cõi đời, với 52 hạ lạp, Hòa thượng đã cống hiến trọn đời mình cho Đạo pháp và Dân tộc. Với trí tuệ sáng suốt, đức hạnh cao vời, ngài đã để lại một di sản tinh thần vô giá, góp phần xây dựng Giáo hội vững mạnh, đất nước phồn vinh và thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế của cả Đất nước và Giáo hội.
Với phong thái trang nhã, cách chia sẻ nhẹ nhàng nhưng sâu lắng, cùng nụ cười luôn hiện hữu trên môi, Hòa thượng đã để lại trong lòng mọi người những ấn tượng sâu sắc và niềm kính ngưỡng. Tấm gương tu tập và phụng sự của ngài không chỉ là bài học quý báu cho Tăng Ni, Phật tử mà còn là hình ảnh đẹp về một vị tu sĩ Phật giáo mẫu mực, tận tâm dấn thân hành đạo. Chính vì lẽ đó, các nhà lãnh đạo đất nước luôn dành cho ngài sự kính trọng và tán dương:
“Chùa Tường Vân cõi Phật duyên lành
Thầy Chơn Thiện chân tu gương sáng”.
(Phạm Dũng, Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ)
Thuận theo quy luật vô thường, sau khi hoàn thành trọn vẹn sứ mệnh của mình, vào lúc 10 giờ 50 phút ngày 8 tháng 11 năm 2016 (nhằm ngày 9 tháng 10 năm Bính Thân, Phật lịch 2560), Hòa thượng đã an nhiên xả báo thân, thị tịch tại Tổ đình Tường Vân. Sự ra đi của ngài là niềm tiếc thương vô hạn đối với GHPGVN, đất nước, tông môn Tường Vân, chư Tăng Ni và toàn thể Phật tử.
Nam-mô Lâm Tế Tông, Tứ thập tam thế, Xuân kinh Tường Vân Tổ đình Trú trì, Thành phố Hồ Chí Minh Vạn Hạnh Thiền viện Viện chủ, Chứng minh Hội đồng Phó Pháp chủ, Trị sự Hội đồng Phó Chủ tịch Thường trực, húy thượng Tâm hạ Ngộ, tự Chơn Thiện, hiệu Viên Giác giác linh thùy từ chứng giám.
Cuộc đời và sự nghiệp của Hòa thượng Thích Chơn Thiện là một hành trình đầy ý nghĩa, được ghi lại chi tiết trong phần Tiểu sử.
