Khám phá cuộc đời và di sản của Hòa thượng Tuệ Tạng – Thích Tâm Thi, một bậc thầy uyên bác đã cống hiến trọn đời cho việc gìn giữ giới luật và hoằng dương Phật pháp tại Việt Nam. Tìm hiểu thêm về những đóng góp to lớn của Ngài cho Phật giáo qua trang Website Chia sẻ Đạo Phật.
Tiểu sử
Hòa thượng Tuệ Tạng – Thích Tâm Thi
(1889 – 1959)
Hòa thượng Thích Tâm Thi, pháp danh Tuệ Tạng, thế danh Trần Thanh Thuyên, sinh năm 1889 tại làng Quần Phương Trung, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Thân phụ là ông Trần Tín, thân mẫu là bà Vũ Thị Tú. Ngay từ thuở thiếu thời, Ngài đã thường xuyên theo mẹ đến chùa lễ Phật. Nhận thấy Ngài có tướng mạo khôi ngô, thông minh, vị Sư trụ trì chùa Phúc Lâm rất yêu mến và mong muốn truyền dạy đạo lý. Năm 14 tuổi, được sự đồng ý của song thân, Ngài chính thức xuất gia, trở thành đệ tử của Hòa thượng chùa Phúc Lâm, chuyên tâm tu học và phụng sự.
Năm 16 tuổi (1905), Ngài được trao truyền giới Sa Di. Dù còn trẻ, Ngài đã thể hiện sự tinh tấn và khí phách, được Sư Tổ tin tưởng giao phó trọng trách trụ trì chùa Cồn, ấp Văn Lý, Nam Định.
Năm 1909, khi tròn 20 tuổi, Ngài thọ giới Tỳ Kheo tại Đại giới đàn chùa Phúc Lâm. Sau hai năm phụng sự Bổn sư, Ngài bắt đầu hành trình tham học, tìm cầu chân lý tại nhiều nơi như Tổ đình Vĩnh Nghiêm, thiền viện Tế Xuyên. Tại mỗi đạo tràng, Ngài đều được thầy thương bạn mến và luôn nỗ lực tu tập.
Trong kho tàng kinh điển Tam Tạng, Ngài đặc biệt chú trọng đến Luật Tạng, nổi tiếng là người có trí nhớ luật và giữ gìn giới luật bậc nhất. Bên cạnh đó, Ngài còn am tường các lĩnh vực ngoại điển như Nho, Lão, Lý số, đồng thời cũng tinh thông về văn chương và thơ phú.
Năm 1920, cùng với các vị Hòa thượng từ chùa Dương Lai, Duyên Bình, Quế Phương tại Nam Định, Ngài đã sáng lập Hội Tiến Đức Cảnh Sách. Hội nhằm mục đích tập hợp Tăng Ni có đạo hạnh và ham học hỏi, tạo dựng một cộng đồng đoàn kết, không phân biệt sơn môn hay hệ phái, cùng nhau sách tấn trên con đường tu học, góp phần bảo tồn và phát triển Phật pháp. Chùa Quế Phương được chọn làm trụ sở, với Hòa thượng chùa Dương Lai giữ chức Hội trưởng và Ngài đảm nhiệm vai trò giáo sư Luật học.
Năm 1934, khi phong trào chấn hưng Phật giáo lan rộng khắp miền Bắc, Ngài rời chùa Quy Hồn, cùng với các vị Hòa thượng chùa Trung Hậu, Bằng Sở, cùng hai vị Tố Liên, Trí Hải và cư sĩ Nguyễn Hữu Kha đã thành lập Hội Bắc Kỳ Phật Giáo. Trụ sở chính của Hội được đặt tại chùa Quán Sứ, Hà Nội.
Năm 1935, Ngài đảm nhận chức vụ Giám viện chùa Quán Sứ, phụ trách mọi hoạt động của ngôi chùa này.
Năm 1936, Trường Tăng Học Bắc Việt được thành lập tại chùa Sở. Hòa thượng Bằng Sở giữ chức Đốc giáo, còn Ngài là Phó đốc giáo kiêm giáo sư Luật học. Sau khi hai vị Hòa thượng Trung Hậu và Bằng Sở lần lượt viên tịch vào các năm 1940 và 1942, Ngài một mình gánh vác trách nhiệm nặng nề, trở thành Giám quản kiêm Đốc giáo cho toàn trường.
Trong giai đoạn 1941-1945, trước bối cảnh chiến tranh Pháp – Nhật, Ngài đã dẫn dắt Trường Tăng Học di dời qua nhiều địa điểm như Bồ Đề, Trung Hậu, Cao Phong, Hương Hải và cuối cùng trở về Quán Sứ. Dù đối mặt với nhiều khó khăn và thiếu thốn trong thời chiến, Ngài vẫn kiên trì dìu dắt các Tăng sinh, vừa tổ chức sản xuất lương thực, thực phẩm, vừa duy trì việc tu học.
Năm 1945, Ngài nhận lãnh chức vụ Hội trưởng Hội Việt Nam Phật Giáo, kiêm Chánh trụ trì chùa Quán Sứ. Tuy nhiên, Ngài vẫn tiếp tục duy trì vai trò trụ trì chùa Quy Hồn, nơi Ngài đã gắn bó và đóng góp xây dựng từ thời còn trẻ. Cuối năm 1945, nhận thấy sức khỏe đã suy giảm và để phù hợp với tình hình mới, Ngài giao lại toàn bộ công việc cho các vị Tăng trẻ tuổi như Tố Liên, Trí Hải rồi trở về chùa Cồn, Nam Định để an dưỡng. Với uy tín và đức độ của mình, Ngài đã thu hút Tăng chúng từ khắp ba miền đất nước về quy tụ học đạo tại đây từ năm 1946 đến 1949, với đạo tràng luôn duy trì từ sáu đến bảy mươi vị.
Năm 1950, Hội Phật Giáo Tăng Già Bắc Việt cung thỉnh Ngài quay trở lại chùa Quán Sứ, đảm nhận chức vụ Đốc giáo Trường Tăng Học Bắc Việt, kiêm Trưởng ban Kiểm duyệt Giáo lý Bắc Việt. Đồng thời, Ngài cũng trở thành Chứng minh Đạo sư cho Hội Việt Nam Phật Giáo.
Năm 1951, đáp ứng nguyện vọng của Phật tử thành phố Nam Định, Ngài nhận lời làm trụ trì chùa Vọng Cung. Cùng năm, Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam được thành lập tại chùa Từ Đàm, Huế, và Ngài đảm nhận vai trò Chứng minh Đạo sư cho Tổng Hội.
Vào tháng 8 và tháng 9 năm 1952, các đại biểu Tăng Ni toàn quốc đã tập trung tại chùa Quán Sứ để thảo luận và thông qua “Quy chế Giáo Hội Tăng Già Toàn Quốc” do ba Giáo hội Bắc, Trung, Nam dự thảo, đồng thời bầu ra Ban Tổng Trị Sự Trung ương. Ngài đã được toàn thể đại biểu suy tôn lên ngôi Thượng Thủ Tăng Già Toàn Quốc vào ngày 7 tháng 9 năm 1952, trở thành điểm tựa tinh thần vững chắc cho Tăng tín đồ cả nước. Năm đó, Ngài tròn 63 tuổi.
Năm 1953, Ngài đã soạn thảo và phát hành “Lá Tâm Thư”, một lời kêu gọi Tăng tín đồ toàn quốc đoàn kết, chung sức trùng hưng Phật giáo, noi gương các thời đại Lý, Trần.
Từ năm 1954 trở đi, Ngài lui về Nam Định để chuyên tâm tu dưỡng. Tuy nhiên, quy luật vô thường là tất yếu. Với nguyện lực sâu dày đã viên mãn, Ngài đã xả bỏ báo thân sau 70 năm tại chùa Vọng Cung vào ngày mùng 3 tháng 4 năm Kỷ Hợi (tức ngày 10 tháng 5 năm 1959), để an trú nơi Vô Ưu quốc, sau 50 năm tu trì.
Hơn nửa thế kỷ, từ thuở thiếu thời cho đến giây phút cuối đời, Ngài luôn nghiêm trì giới luật, hoằng pháp lợi sinh, đào tạo Tăng tài bất kể hoàn cảnh. Là một vị Luật sư uyên bác, tiêu biểu cho dòng Luật tông Việt Nam, pháp âm của Ngài đã trở thành nền tảng vững chắc cho sự trường tồn của Chánh pháp, như lời di huấn của Đức Phật Tổ.
Tác phẩm và bút tích của Ngài để lại:
- Tại gia tu hành
- Kinh Phạm Võng giải
- Sa Di luật
- Lá tâm thư
Cùng hàng loạt các trước tác về Luật tạng mà Ngài đã giảng dạy, ghi chú và truyền lại cho các thế hệ học trò xuất sắc, những người sau này trở thành các vị luật sư nổi tiếng như: Hòa thượng Thiện Hòa, Kim Cương Tử, Bình Minh.
[Tổng hợp từ các tư liệu về Danh Tăng Việt Nam]
Để tìm hiểu sâu hơn về cuộc đời và sự nghiệp của các bậc tôn túc, quý vị có thể khám phá thêm trong chuyên mục Tiểu sử.

