Tiểu sử của Hòa thượng Thích Trí Thủ, một bậc chân tu xuất thân từ dòng tộc danh giá, hé mở về một hành trình tinh thần được vun đắp từ truyền thống gia đình sâu sắc. Từ thuở thiếu thời, Ngài đã bộc lộ tư chất thông minh và sự ham học, đặt nền móng vững chắc cho con đường hoằng pháp sau này. Khám phá hành trình tâm linh đầy ý nghĩa của Ngài tại chiasedaophat.com.

Hòa thượng Thích Trí Thủ, húy là Văn Kính, pháp danh Tâm Như, tự Đạo Giám, hiệu Trí Thủ, sinh ngày 1 tháng 11 năm 1909 (Kỷ Dậu), là một bậc chân tu xuất thân từ một dòng tộc có truyền thống sâu dày với Phật pháp.
Thân thế và Gia tộc
Ngài thuộc thế hệ thứ tám của dòng họ Nguyễn, một dòng tộc có công khai canh, khai khẩn làng Trung Kiên, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Dòng tộc này đã sản sinh nhiều bậc cao tăng, danh túc trong lịch sử Phật giáo Việt Nam như Thiền sư Đạo Minh Phổ Tịnh, Hòa thượng Nhất Định Tánh Thiên, Hòa thượng Pháp danh Trừng Nhã tự Chí Thanh, Hòa thượng Ngộ Tánh tự Hưng Long hiệu Phước Huệ, và Hòa thượng Pháp danh Tâm Lượng hiệu Diệu Hoằng.
Thân phụ của Hòa thượng là ông Văn Minh (Trừng Khiết, Diệu Quang, Hưng Nghĩa), đã lập am thất Phổ Tế tại Huế để tu hành bán thế tục. Thân mẫu là bà Lê Thị Nậy (Chiểu) quê ở làng Cu Hoan, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Hòa thượng là con trai trưởng, Ngài có hai em là Nguyễn Văn Khâm và Nguyễn Thị Vân.
Thời niên thiếu và Con đường xuất gia
Từ thuở nhỏ, Hòa thượng đã sớm bộc lộ tư chất thông minh và ham học. Lên chín tuổi, Ngài đã thuộc lòng các bài kinh nhật tụng. Ảnh hưởng từ đạo phong của các bậc Tôn túc trong gia tộc, cùng với túc duyên sâu dày với Phật pháp, năm 14 tuổi, Ngài theo Bác ruột học kinh tại chùa Hải Đức – Huế. Năm 17 tuổi, Hòa thượng chính thức đầu sư thọ học với Thiền sư Viên Thành tại chùa Tra Am, Huế. Ngài được Bổn sư ban pháp danh Tâm Như, pháp tự Đạo Giám và được giáo huấn nghiêm ngặt. Ba vị đại sư huynh của Ngài là Trí Uyên, Trí Hiển và Trí Giải đều là những bậc danh tiếng.
Năm 20 tuổi, Hòa thượng thọ Cụ Túc Giới tại giới đàn chùa Từ Vân, Đà Nẵng và trúng tuyển Thủ Sa di. Nhờ đó, Bổn sư Viên Thành đã ban pháp hiệu Thích Trí Thủ, với ý nghĩa khen tặng chữ “Thủ” là đứng đầu.
Sự nghiệp Hoằng pháp và Giáo dục
Học tập và Giảng dạy ban đầu
Sau hai năm cư tang Bổn sư tại chùa Tra Am, năm 23 tuổi, Hòa thượng cùng các pháp lữ đến chùa Thập Tháp, Bình Định, tham học với Hòa thượng Phước Huệ. Mãn khóa học, Ngài đảm nhận chức vụ giáo thọ tại trường Phật học Phổ Thiên, Đà Nẵng. Tuy nhiên, với chí nguyện cầu pháp không ngừng, Ngài trở về Huế, cùng các đồng học thành lập trường Phật học tại chùa Tây Thiên. Tại đây, Ngài học chương trình đại học Phật giáo và văn hóa, đồng thời làm giảng sư cho hội Phật học Huế và dạy lớp Trung đẳng Phật học.
Năm 29 tuổi (1938), Hòa thượng về trụ trì chùa Ba La Mật, tiếp tục công việc giảng dạy. Năm 1939, Ngài được giao trách nhiệm đào tạo và điều hành Ni trường tại chùa Từ Đàm, đánh dấu sự hình thành cơ sở Ni bộ đầu tiên.
Những đóng góp quan trọng cho Giáo hội và Giáo dục Phật giáo
Năm 1941, Hòa thượng mở trường Sơn môn Phật học tại chùa Linh Quang Huế, chủ trương xây dựng kinh tế tự túc cho học chúng và khuyến khích tăng sĩ học văn hóa. Việc này đã gây tiếng vang lớn và mở ra một hướng đi mới trong đào tạo tăng sĩ.
Năm 1948, Ngài tổ chức Đại giới đàn tại chùa Báo Quốc, phục hồi ý nghĩa Thất chứng và phân chia giới đàn Tăng, Ni riêng biệt.
Năm 1951, với vai trò Hội trưởng Hội Việt Nam Phật học Trung phần, Hòa thượng đặt viên đá đầu tiên xây dựng trường Tiểu học Tư thục Bồ Đề tại Huế. Đây là khởi điểm cho mạng lưới giáo dục Phật giáo phát triển rộng khắp cả nước.
Cuối năm 1956, Ngài làm Giám viện Phật học viện Trung phần tại Nha Trang. Để ổn định kinh tế, Hòa thượng đã cho một số tăng sĩ học cách chế biến và mở các cơ sở sản xuất như nước tương, hương đèn, giấm ăn, xà phòng. Hầu hết tăng sĩ tại đây đều được học cả hai chương trình nội điển và phổ thông, góp phần đào tạo nên nhiều chức sắc quan trọng cho Giáo hội và các nhà giáo dục.
Năm 1960, Hòa thượng khai sơn Tu Viện Quảng Hương Già Lam tại Gò Vấp.
Hoạt động trong thời kỳ Pháp nạn và GHPGVNTN
Trong thời kỳ Pháp nạn năm 1963, Hòa thượng trở về Huế, cùng các lãnh đạo Phật giáo hướng dẫn phong trào đấu tranh bảo vệ đạo pháp. Sau khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất ra đời năm 1964, Ngài tham gia Ban dự thảo hiến chương và giữ chức Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Hoằng Pháp. Ngài đã tổ chức ba đại hội Hoằng pháp, thành lập Giảng sư đoàn và sau đó là Phật học viện Phổ Đà ở Đà Nẵng.
Năm 1964, Hòa thượng làm Viện trưởng Viện Cao đẳng Phật giáo tại Sài Gòn, tiền thân của Viện Đại học Vạn Hạnh. Ngài cũng chủ trương các tập san Tin Phật, Bát nhã.
Sau thời gian làm Tổng vụ trưởng Tổng vụ Hoằng pháp, Ngài chuyển sang phụ trách Tổng vụ Tài chánh. Năm 1968, Ngài được tấn phong Hòa thượng và tiếp tục khai giới đàn tại Phật học Viện Nha Trang.
Những cống hiến cuối đời
Năm 1970, Ngài mở lớp Trung Đẳng Chuyên Khoa Phật Học tại Phật Học Viện Hải Đức, Nha Trang. Năm 1973, Ngài làm Đàn Chủ khai Đại Giới Đàn Phước Huệ tại Nha Trang, một trong những đại giới đàn lớn nhất thời bấy giờ.
Năm 1974, cùng chư Tôn túc, Ngài tiếp tục thành lập Viện Cao Đẳng Phật Học Hải Đức Nha Trang, góp phần đào tạo nhân sự cao cấp cho Phật giáo Việt Nam.
Từ Đại Hội Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất Kỳ 5 và 6, Hòa thượng giữ chức vụ Viện trưởng Viện Hóa Đạo.
Năm 1976, Ngài tổ chức Đại giới đàn Quảng Đức tại Tổ đình Ấn Quang, Chợ Lớn.
Năm 1980, bất chấp tuổi già sức yếu, Ngài vẫn mở lớp Cao Cấp Phật Học tại Tu Viện Quảng Hương Già Lam, lãnh đạo công tác soạn thảo Bộ Việt Nam Phật Giáo Bách Khoa Từ Điển và chứng minh, hướng dẫn công trình dịch thuật Luật Tạng.
Tác phẩm và Đời sống cá nhân
Trong suốt cuộc đời hành đạo, Hòa thượng luôn tinh tấn hành trì pháp môn Thiền Tịnh Song Tu. Dù bận rộn Phật sự, Ngài vẫn dành thời gian phiên dịch kinh, biên soạn sách để hoằng dương giáo hóa. Các tác phẩm chính của Ngài bao gồm:
- Kinh Phổ Môn,
- Kinh Phổ Hiền,
- Mẹ Hiền Quán Âm,
- Kinh Vô Thường,
- Kinh A Di Đà,
- Kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo,
- Kinh Đại Phương Đẳng Như Lai Tạng,
- Kinh Bất Tăng Bất Giảm,
- Kinh Bát Đại Nhân Giác,
- Pháp Môn Tịnh Độ,
- Tâm Kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa,
- Luật Tỳ Kheo Yết Ma Yếu Chỉ,
- Luật Bồ Tát,
- Luật Tứ Phần,
- Nghi Thức Quy Giới,
- Bát Quan Trai Giới,
- Những Điều Căn Bản Cho Các Phật Tử Mới Quy Y Tam Bảo,
- Luận Khuyến Phát Bồ Đề Tâm,
- Nghi Thức Truyền Giới Bồ Tát Tại Gia và Thập Thiện,
- Nghi Thức Cúng Giao Thừa và Vía Di Lặc,
- Nghi Thức Phật Đản,
- Nghi Chẩn Tế,
- Nghi Thức Lễ Sám Buổi Khuya,
- Việt Nam Phật Giáo Bách Khoa Từ Điển.
Ngoài ra, Ngài còn để lại nhiều bài thơ, câu đối, văn bi ký được sưu tập trong Bộ Tâm Như Trí Thủ.
Với lòng từ bi sâu sắc, Hòa thượng đã lập Chúng Dược Vương để quy tụ và sinh hoạt với đông đảo cư sĩ, những người đã từng hộ trì chánh pháp.
Thị tịch
Hòa thượng Thích Trí Thủ đã thuận thế vô thường, thị tịch vào lúc 21 giờ 30 phút ngày 2 tháng 4 năm 1984 (nhằm ngày Mùng 2 tháng 3 năm Giáp Tý), hưởng thọ 76 tuổi đời, 56 tuổi đạo. Ngài thị tịch tại Tu Viện Quảng Hương Già Lam và được an táng tại đây, chờ di quan phụng Tổ tại tổ đình Báo Quốc theo nguyện ước lúc sinh tiền.
Nam Mô Từ Lâm Tế Chánh Tông Tứ Thập Tam Thế, Báo Quốc Đường Thượng Trú Trì, Quảng Hương Già Lam Tu Viện Khai Sơn, Việt Nam Phật Giáo Thống Nhất Giáo Hội, Hóa Đạo Viện Viện Trưởng, Húy Thượng Tâm Hạ Như, Tự Đạo Giám, Hiệu Trí Thủ, Đại Lão Hòa Thượng Giác Linh Liên Tòa Chứng Giám.
Khám phá thêm về cuộc đời và những đóng góp của các bậc cao Tăng, quý vị có thể tìm hiểu chi tiết hơn trong mục Tiểu sử.
