HT Thích Đỗng Minh: Cuộc đời và Di sản

HTDongMinh
0
(0)

Hành trình đời người của một bậc chân tu thường ẩn chứa những nhân duyên đặc biệt ngay từ thuở thiếu thời. Từ một cậu bé thông minh, hiếu học, Ngài Thích Đỗng Minh đã sớm cảm nhận được tiếng gọi thiêng liêng của Phật pháp, mở ra một con đường phụng sự Đạo pháp đầy ý nghĩa. Khám phá chi tiết hơn về sự nghiệp và di sản của Ngài tại <a href="Website Chia sẻ Đạo Phật“>Website Chia sẻ Đạo Phật.

HTDongMinh

TIỂU SỬ HÒA THƯỢNG TUYÊN LUẬT SƯ THÍCH ĐỖNG MINH

1. Thân thế và thời niên thiếu

Hòa thượng Thích Đỗng Minh, húy Châu Lân, thuộc dòng Lâm Tế Chúc Thánh đời thứ 42, thuộc phái Ninh Thuận Thiền Lâm, pháp danh Thị Khai, tự Hạnh Huệ. Ngài sinh năm 1927 (Đinh Mão) tại thôn Quan Quang, xã Nhơn Khánh, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định, trong một gia đình có nhiều đời quy ngưỡng Tam Bảo.

Thân phụ là cụ ông Đỗ Hoạch, thân mẫu là cụ bà Trần Thị Tú. Gia đình có năm người con, Ngài là người con thứ tư. Cha mất sớm, Ngài được mẹ tần tảo nuôi nấm và giáo dục. Với tư chất thông minh và hiếu học, năm 11 tuổi, Ngài đã thi đỗ bằng Yếu lược, một thành tích hiếm có tại quê nhà lúc bấy giờ, mang lại niềm vinh dự lớn cho gia đình và cộng đồng.

2. Hành trình xuất gia và tu học

Mang trong mình những nhân duyên sâu sắc với Phật pháp, năm 13 tuổi, Ngài phát nguyện xuất gia dưới sự dẫn dắt của Đại sư Thích Chơn Quang (cũng là chú ruột của Ngài) tại chùa Khánh Vân, thôn Văn Quang, xã Phước Quang, tỉnh Bình Định. Sau đó, Ngài được Hòa thượng chùa Thiên Hưng đưa vào Phan Rang và trao cho Hòa thượng Huyền Tân tại chùa Thiền Lâm, chính thức trở thành đệ tử với pháp danh Thị Khai, tự Hạnh Huệ, hiệu là Đỗng Minh.

Năm Quí Mùi (1943), Ngài thọ giới Sa-di tại giới đàn Thiên Đức, tỉnh Bình Định, dưới sự chứng minh của Quốc sư Phước Huệ.

Năm 19 tuổi (1946), Ngài được bổn sư cho thọ Đại giới tại Đại giới đàn chùa Thiên Bình, Bình Định, với Hòa thượng Huệ Chiếu làm Đàn đầu Hòa thượng. Dù chưa đủ tuổi theo quy định của giới luật, với tư chất vượt trội và sự hoan hỷ chấp thuận của Hội đồng thập sư, Ngài đã được đặc cách tấn thụ giới pháp.

Năm 23 tuổi (Canh Dần – 1950), Ngài theo học tại Tăng Học Đường Nha Trang (hay còn gọi là Tăng Học Đường Nam Phần Trung Việt), tọa lạc tại trường Bồ-đề, Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Nơi đây, Ngài được học dưới sự điều hành của Giám đốc Hòa thượng Thích Thiện Minh.

Năm 1954, Ngài được Ban Giám đốc Tăng Học Đường cử vào Sài Gòn để trau dồi kiến thức về y tá, bào chế hóa chất và các ngành nghề khác. Mục đích của việc này là để bổ sung kiến thức cho y phương minh và công xảo minh, chuẩn bị hành trang cho việc hoằng pháp sau này.

Sau mùa An cư năm 1955, Ngài xin đến Huế để tham học cùng các bậc cao tăng như Hòa thượng Thích Đôn Hậu, Thích Thiện Siêu, Thích Trí Quang, nhằm hoàn tất chương trình Đại học Phật giáo. Trong thời gian này, Ngài lưu trú tại chùa Từ Quang, Huế.

3. Sự nghiệp hoằng pháp và phụng sự

Năm Kỷ Sửu (1949), Ngài được bổn sư Thích Huyền Tân giao phó trọng trách Thủ tọa chùa Thiền Lâm tại Ninh Thuận.

Năm Canh Dần (1950), khi theo học tại Tăng Học Đường Nha Trang, Ngài được đề cử giữ chức Thủ chúng, phụ trách điều hành các hoạt động sinh hoạt của Tăng đoàn. Vì vậy, Tăng Ni và Phật tử thời bấy giờ thường gọi Ngài bằng pháp danh “Thầy Thủ”.

Năm Đinh Dậu (1957), sau khi hoàn thành chương trình Đại học Phật giáo, trở về Nha Trang, Ngài được Tổng Hội Phật Giáo Trung Phần giao nhiệm vụ nghiên cứu, tổ chức và thành lập hãng Vị trai lá Bồ-đề. Mục tiêu của cơ sở này là tạo nguồn kinh tế tự túc cho công tác đào tạo Tăng tài. Sau đó, hãng phát triển thêm hai chi nhánh tại Sài Gòn và Huế. Nguồn thu nhập từ ba cơ sở này đóng vai trò quan trọng trong việc đào tạo Tăng tài thời bấy giờ. Ngài đã đảm nhiệm chức vụ Giám đốc của cơ sở này từ lúc thành lập đến năm 1976.

Cùng năm đó, Tăng Học Đường Nha Trang và Phật Học Đường Báo Quốc Huế hợp nhất, thành lập Phật Học Viện Trung Phần tại chùa Hải Đức, Nha Trang. Ngài được mời giữ chức Trưởng ban Kinh tế tự túc, đồng thời là Giáo thọ, thường xuyên giảng dạy tại Viện và các Phật học viện lân cận.

Năm Quí Mão (1963), Ngài là thành viên của Ủy ban Bảo vệ Phật giáo tại Nha Trang, cùng Tăng Ni và Phật tử tham gia vận động, phản đối chính sách kỳ thị và đàn áp tôn giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm.

Tìm hiểu thêm: Đặng Lê Nguyên Vũ: Vua Cà Phê Kiến Tạo Đế Chế, Khai Mở Tư Duy Phật Giáo

Năm Quí Mùi (1967), Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất mời Ngài đảm nhiệm chức vụ Đại diện Miền Khuôn Việt, phụ trách các tỉnh Cao nguyên Trung phần.

Năm Mậu Thân (1968), Ngài giữ chức Vụ trưởng Phật học vụ, thuộc Tổng vụ Giáo dục, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất, chịu trách nhiệm điều phối và chăm sóc 22 Phật học viện các cấp trên toàn Miền Nam Việt Nam.

Năm Canh Tuất (1970), khi Phật Học Viện Trung Phần (chùa Hải Đức, Nha Trang) mở lớp chuyên khoa Phật học, Ngài được mời làm Giám học, thường xuyên đôn đốc việc tu học của Tăng sinh.

Ngày 19 tháng 9 năm Quí Sửu (1973), cùng với Trưởng lão Hòa thượng Thích Trí Thủ, Ngài đã tổ chức Đại giới đàn Phước Huệ, quy tụ Tăng Ni từ Quảng Trị trở vào Nam thọ giới. Đây là một giới đàn quy mô lớn, với Hội đồng thập sư được cung thỉnh từ khắp ba miền và Đại lão Hòa thượng Thích Phúc Hộ làm Đàn đầu Hòa thượng.

Năm Giáp Dần (1974), Viện Cao Đẳng Phật Học Hải Đức – Nha Trang được thành lập, Ngài giữ chức Phó Viện trưởng điều hành, theo dõi và chăm sóc mọi hoạt động của Viện.

Từ khi thành lập các Phật học viện cho đến Viện Cao đẳng, Ngài và Hòa thượng Thích Trừng San là hai trợ lý đắc lực cho Hòa thượng Giám viện Thích Trí Thủ.

Đầu năm Mậu Ngọ (1978), trên đường trở về Nha Trang sau khi tham dự lễ tang Đức Phó Tăng thống GHPGVNTN tại Sài Gòn, Ngài đã bị chính quyền bắt giữ. Mười tám tháng bị giam cầm là khoảng thời gian thử thách sự nhẫn nhục và tu dưỡng của Ngài. Trong thời gian này, Ngài đã dịch Bộ Tỳ-ni Nhật Dụng ra văn vần.

Các năm 1982 và 1983, Ngài an cư và giảng dạy giới luật tại Tu viện Quảng Hương Già-lam và Phật học Vạn Hạnh. Từ năm 1983, Ngài được mời làm thành viên Ban Giáo dục Tăng Ni Trung ương trong suốt bốn nhiệm kỳ.

Năm 1990, Trường Cơ bản Phật học Khánh Hòa được thành lập, Ngài được cung thỉnh giữ chức Giáo thọ trưởng và tham gia giảng dạy tại trường.

Năm 1991, Phân viện Nghiên cứu Phật học Hà Nội mời Ngài tham gia Hội đồng Phiên dịch Luật tạng Phật giáo Việt Nam.

Từ năm 1993 đến năm 2001, Ngài được cung thỉnh làm Tuyên luật sư cho các Đại giới đàn: Trí Thủ I (1993), Trí Thủ II (1997) và Trí Thủ III (2001), tất cả đều được tổ chức tại chùa Long Sơn, Nha Trang, Khánh Hòa.

Năm Ất Hợi (1995), với sự tài trợ của Hòa thượng Thích Tịnh Hạnh (Đài Loan), Ngài đã tổ chức đào tạo một lớp phiên dịch cho Tăng Ni. Sau đó, Ngài tiếp tục hướng dẫn Tăng Ni và Cư sĩ dịch nhiều bộ kinh trong tạng Đại Chánh Tân Tu, đồng thời tự mình đảm nhiệm vai trò “chứng nghĩa” cho tất cả các bản dịch này.

Xem thêm: Ôn Già Lam: Dáng xưa trên đồi Trại Thủy, bóng hình Thích Nguyên Siêu

Năm Bính Tý (1996), Ngài được cung thỉnh làm Tuyên luật sư cho Đại giới đàn Thiện Hòa tại Đại Tòng Lâm, Bà Rịa – Vũng Tàu.

Năm Đinh Sửu (1997), Ngài được Giáo hội Phật giáo Việt Nam tấn phong Hòa thượng và suy tôn vào Hội đồng Chứng minh Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Năm Tân Tỵ (2001), trong Đại hội nhiệm kỳ III, Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Khánh Hòa cung thỉnh Ngài làm Chứng minh và Cố vấn cho Tỉnh hội, đồng thời làm Cố vấn cho Ban Tăng sự và Ban Giáo dục Tăng Ni của Tỉnh hội.

Năm Nhâm Ngọ (2002), với sự hỗ trợ của các pháp hữu (cựu học tăng Phật học viện Hải Đức, Nha Trang) ở hải ngoại, Ngài đã vận động thành lập Ban Phiên dịch Pháp Tạng Phật giáo Việt Nam. Ngài trực tiếp giữ vai trò Trưởng ban, hướng dẫn Tăng Ni và Cư sĩ dịch các bộ Kinh, Luật, Luận từ Hán ngữ và các ngoại ngữ khác sang tiếng Việt. Đến năm 2005, nhiều kinh sách đã được phiên dịch và lưu hành rộng rãi trong và ngoài nước.

Năm Quí Mùi (2003), Ngài được Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam mời giữ chức Phó Viện trưởng và Cố vấn chỉ đạo Ban Phiên dịch Hán tạng.

4. Công trình phiên dịch Luật tạng

Với tâm nguyện khuyến tấn Tăng Ni nghiêm trì giới luật, thể hiện đạo phong của bậc trưởng tử Như Lai và phụng sự đạo pháp, Hòa thượng Thích Đỗng Minh đã dành nhiều tâm huyết nghiên cứu Luật tạng. Trong khoảng hơn 10 năm, bắt đầu từ năm 1978, Ngài đã nỗ lực phiên dịch toàn bộ hệ thống Luật tạng trong bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh. Các bộ dịch phẩm tiêu biểu bao gồm:

  • Tứ phần luật (60 quyển), Hán dịch: Diêu Tần – Phật-đà-da-xá và Trúc Phật Niệm.
  • Di-sa-tắc bộ Hòa-hê Ngũ phần luật (30 quyển), Hán dịch: Lưu Tống – Phật-đà-thập cùng Trúc Đạo Sinh.
  • Căn bản thuyết Nhất Thiết Hữu bộ Tỳ-nại-da (50 quyển), Hán dịch: Đường – Nghĩa Tịnh.
  • Căn bản thuyết Nhất Thiết Hữu bộ Bí-sô-ni Tỳ-nại-da (20 quyển), Hán dịch: Đường – Nghĩa Tịnh.
  • Căn bản thuyết Nhất Thiết Hữu bộ Bách nhất Yết-ma (10 quyển), Hán dịch: Đường – Nghĩa Tịnh.

Ngoài ra, Ngài còn dịch các bộ:

  • Trùng trị Tỳ-ni Sự Nghĩa Tập Yếu (19 quyển, Bản biệt hành), do Sa-môn Trí Húc biên soạn.
  • Luật Tỳ-kheo Giới Bổn Sớ Nghĩa (2 quyển, Bản biệt hành), do Sa-môn Truyền Nghiêm tập thuật.

Ngài cũng đã biên soạn:

  • Tỳ-ni, Sa-di, Oai Nghi, Cảnh Sách (dịch thuộc lòng bộ Luật tiểu 4 quyển ra văn vần).
  • Nghi Truyền Giới.

Song song với việc dịch thuật, Ngài còn hướng dẫn phiên dịch và chứng nghĩa từ tập 1 đến tập 17 trong tạng Đại Chánh.

Khám phá: Thích Minh Luật: Vị Tăng trẻ tuổi thổi hồn Phật pháp cho thế hệ mới

5. Viên tịch

Cuộc đời Ngài trải qua nhiều thăng trầm, đến tuổi già mới có phần an lạc. Tuy nhiên, nếp sống khắc kỷ và những gian nan thời niên thiếu đã ảnh hưởng đến sức khỏe của Ngài. Khi biết ngày về với Phật không còn xa, Ngài đã sắp xếp công việc phiên dịch, dùng số tịnh tài còn lại để trị bệnh, ấn tống kinh sách và dặn dò thị giả cố gắng tiếp nối công việc này.

Vào lúc 18 giờ 35 phút ngày 11 tháng 5 năm Ất Dậu (17.06.2005), Hòa thượng Thích Đỗng Minh đã an nhiên xả báo thân tại chùa Long Sơn, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Ngài trụ thế 79 năm, với 59 hạ lạp.

Cuộc đời Ngài là một tấm gương sáng về đạo hạnh và sự nghiệp hoằng dương Phật pháp. Ngài luôn thể hiện nếp sống của bậc chân tu, thiểu dục tri túc, giới đức tinh nghiêm, gắn liền cuộc đời mình với sự nghiệp giáo dục và đào tạo Tăng tài. Dù về già chuyên tâm vào việc dịch thuật, Ngài vẫn luôn theo dõi và khích lệ thế hệ kế thừa. Tâm nguyện cuối cùng của Ngài là hoàn thành kho Pháp Tạng Phật Giáo Việt Nam, nhưng chưa kịp viên mãn thì Ngài đã xả bỏ báo thân.

Sự ra đi của Ngài là một mất mát lớn. Tuy nhiên, tấm gương nghiêm trì giới luật, tinh tấn tu hành và tiếp dẫn hậu lai của Ngài sẽ mãi là nguồn sáng soi đường cho các thế hệ Tăng Ni noi theo, tự đào luyện thân tâm và phụng sự đạo pháp. Các thế hệ kế thừa nguyện nỗ lực hết mình để nối tiếp tâm nguyện của Ngài trong việc hoàn thành kho Pháp Tạng Phật Giáo Việt Nam.

Nam Mô Từ Lâm Tế Chánh Tông Tứ Thập Nhị Thế, Ninh Thuận Thiền Lâm Phó Pháp, Khánh Hòa Long Sơn Hóa Đạo, Húy Thượng Thị Hạ Khai, Tự Hạnh Huệ, Hiệu Đỗng Minh Hòa Thượng Giác Linh.

Nha Trang, ngày 17 tháng 6 năm 2005
Môn Đồ Pháp Quyến (trong và ngoài nước) phụng soạn

Long Sơn – Nha Trang, Ngày 17.06.05

THỪA HÀNH DI CHÚC

Tôi là Tỳ-kheo Thích Chí Tín, trụ trì chùa Long Sơn, Nha Trang – Khánh Hòa, theo lời ủy thác của Hòa thượng Thích Đỗng Minh lo về hậu sự sau khi Hòa thượng viên tịch:

  1. Lễ tang được tổ chức đơn giản, trong vòng 36 tiếng đồng hồ.
  2. Tôi cùng chư Tăng chùa Long Sơn và Môn đồ pháp phái toàn quyền quyết định tang lễ theo lời di huấn của Hòa thượng.
  3. Không xây tháp, dùng tịnh tài này để ấn tống kinh sách.

Theo lời Hòa thượng, tôi lập tờ di chúc này, có sự đồng ý và ấn chứng của Hòa thượng.

Long Sơn, Nha Trang, ngày 17. 06. 2005.
Thích Đỗng Minh Thích Chí Tín
(cùng ấn ký)

Dichuc1

Để hiểu rõ hơn về cuộc đời, sự nghiệp và những đóng góp to lớn của Hòa thượng Thích Đỗng Minh, mời quý độc giả khám phá chi tiết trong chuyên mục Tiểu sử.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang