Từ một gia đình bình thường tại Thừa Thiên, hành trình tâm linh của Hòa thượng Thích Lương Phương đã bắt đầu từ những biến cố cuộc đời, thôi thúc ngài tìm về con đường giải thoát ngay từ khi còn rất trẻ. Khám phá Website Chia sẻ Đạo Phật để hiểu thêm về những bước chân đầu tiên trên con đường tu tập và hành đạo của ngài.
Hòa Thượng Thích Lương Phương: Tiểu Sử và Di Sản
Viện Chủ Tự Viện Phước Duyên – Huế
Thân Thế
Hòa thượng Thích Lương Phương, thế danh Võ Tấn, đã giáng trần vào ngày 6 tháng 7 năm 1933 (Giáp Tuất) tại làng Thành Công, Quảng Công, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên.
Ngài là con trai đầu lòng của cụ Ông Võ Sử và cụ bà Trần Thị Cháu, sau này có thêm kế mẫu là cụ bà Lê Thị Đỡi. Gia đình Ngài có ba người con trai.
Hành Trình Xuất Gia và Tu Học
Năm 11 tuổi, mẹ Ngài viên tịch. Biến cố gia đình cùng với những chiêm nghiệm về sự vô thường, hư ảo của cuộc đời đã thôi thúc tâm nguyện xuất gia của Ngài. Năm 13 tuổi (1946), Ngài phát tâm đầu tròn áo vuông, theo Hòa thượng Thích Đảnh Lễ, Giám tự chùa Linh Mụ – Huế, để bắt đầu con đường tu học.
Năm 1948, khi Hòa thượng Bổn sư khai sơn chùa Phước Duyên, Ngài đã theo thầy đến đây để tiếp tục học đạo. Đến năm 1950, Ngài chính thức được Bổn sư trao truyền Thập giới Sa di, với pháp danh Nguyên Tiến, tự Lương Phương.
Hai năm sau, năm 1952, Ngài đến cư trú tại Tịnh xá của Cụ bà Thái Thúc Hoành tại làng Xuân Hòa. Nơi đây tạo điều kiện thuận lợi cho Ngài vừa duy trì việc tụng kinh sớm chiều, vừa theo đuổi chương trình thế học.
Trong suốt giai đoạn này và những năm tiếp theo, Hòa thượng đã song hành theo học cả hai hệ thống giáo dục: Phật học tại Phật Học Đường Báo Quốc và thế học tại các trường Trung học Bán Công, Hàm Nghi Huế, cho đến khi hoàn thành chương trình Tú tài cả hai lĩnh vực.
Năm 1965, Ngài được Bổn sư cho thọ Tỷ kheo và Bồ tát giới tại Đại giới đàn Vạn hạnh, được tổ chức tại Tổ đình Từ Hiếu, Huế.
Năm 1967, Ngài tham gia lớp chuyên khoa Phật học ngoại trú tại chùa Linh Quang, Huế, do Hòa thượng Thích Mật Nguyện chủ giảng. Ngài cũng góp mặt trong giảng sư đoàn của Giáo hội.
Trụ Trì và Hoằng Pháp Lợi Sanh
Năm 1968, sau khi Hòa thượng Bổn sư viên tịch, Ngài về chùa Phước Duyên đảm nhiệm vai trò Trú trì, kế thừa sự nghiệp tiếp Tăng độ chúng và coi sóc các Phật sự. Ngài đã nỗ lực chỉnh trang lại ngôi chùa bị hư hại trong biến cố Mậu Thân 1968. Với tinh thần tự lực, Ngài chủ trương canh tác ruộng vườn, xây dựng kinh tế tự túc theo nếp sống thiểu dục tri túc.
Các công trình trùng tu và xây dựng tại chùa Phước Duyên dưới sự chỉ đạo của Ngài diễn ra liên tục:
- Năm 1970: Trùng tu Khách đường.
- Năm 2000: Đại trùng tu Chánh điện và cổng Tam quan sau trận đại hồng thủy năm 1999 gây thiệt hại nặng nề cho cơ sở vật chất của tự viện.
- Năm 2007: Xây dựng Tàng Kinh Các để bảo quản Tam Tạng Thánh giáo.
- Năm 2010: Xây dựng Hậu đường, khu Tịnh Quang Thiền đường, khu Tăng xá, khu Trai đường, Đoàn quán GĐPT và Học đường Từ Thiện (dạy tiếng Anh).
- Năm 2014: Xây dựng khu Tịnh Nhân Thiền đường bao gồm Khất thực đường, Cư xá, Giảng đường, Mạn-đà-la Ngũ phương Phật, Thư viện, Địa Tạng Lâu Các, Tây Phương Tam Thánh Lâu Các và hồ tâm.
Về phương diện tu tập, Hòa thượng thực hành pháp môn trì danh niệm Phật, thường quán chiếu sâu sắc và hành trì mật niệm cũng như thần chú Chuẩn đề. Hạnh khiêm cung và hỷ xả luôn được Ngài thể hiện một cách miên mật trong mọi ứng xử, khiến Ngài luôn được lòng kính trọng và thương mến từ Tăng Ni cho đến mọi tầng lớp xã hội.
Ngài còn có khả năng giúp đỡ các trẻ nhỏ khó nuôi, hay khóc dạ đề được an ổn thông qua việc trì niệm minh chú.
Dù không trực tiếp chủ giảng các lớp học hay đạo tràng tại chùa, Hòa thượng luôn là người hỗ trợ, tạo điều kiện pháp lý và là nguồn động viên tinh thần to lớn cho các chúng tu học như Chánh Niệm, Thanh Tuệ, GĐPT, Chánh Tâm, Văn Thù, Chuyển Dịch, Thiện Tài Đồng Tử, Đạo Tràng Sám Hối, Đạo Tràng Tịnh Độ… Ngài thể hiện hạnh nguyện Bồ đề qua thân giáo.
Hòa thượng cũng từng đảm nhiệm vai trò Giáo thọ sư cho các Giới đàn tại Tổ đình Từ Hiếu và Quốc Ân, truyền giới cho hàng trăm giới tử.
Đối với đồ chúng xuất gia, Ngài đã thế độ và tác thành gần hai mươi vị, trong đó có Hòa thượng Thích Thái Thuận. Đối với hàng cư sĩ, Ngài đã quy y cho trên dưới vạn người.
Hiện nay, Ngài là một trong những vị niên trưởng và thành viên quản trị của Tổ đình Từ Hiếu, đồng thời là thành viên Hội Đồng Tăng Già Chứng Minh.
Những Ngày Cuối Đời
Một câu nói nổi tiếng của Hòa thượng được nhiều người truyền tụng là: “Già rồi ngồi lại một bên, để cho con trẻ tiến lên cho kịp thời”. Câu nói này thể hiện tinh thần vô ngã và sự tin tưởng vào thế hệ kế thừa.
Vào mùa an cư năm 2014, Hòa thượng đã tập hợp đồ chúng và tuyên bố rằng do tuổi già sức yếu, Ngài chỉ mong muốn an tĩnh tu tập và giao lại chức vụ Trú trì chùa Phước Duyên cho Thầy Thái Hòa đảm nhiệm, còn Ngài giữ vai trò Viện chủ danh dự.
Cuối mùa Thu năm 2021, Ngài lâm bệnh. Dù thân thể có phần mệt mỏi, nhưng tâm trí Ngài vẫn luôn minh mẫn, nụ cười từ bi và nét hài hước vẫn thường trực trên khuôn mặt.
Trong suốt thời gian bệnh duyên, Ngài luôn nhận được sự chăm sóc tận tình, chu đáo từ môn đồ pháp quyến cùng các y bác sĩ Phật tử tại chùa. Tuy nhiên, do tuổi cao sức yếu, ngọn đèn tuệ giác của Ngài đã đến lúc viên mãn.
Hòa thượng Thích Lương Phương đã an nhiên thị tịch vào lúc 5 giờ 30 phút ngày 26 tháng 3 năm Nhâm Dần (tức ngày 26 tháng 4 năm 2022) tại Phương Trượng Thiền Thất Phước Duyên Tự Viện, Phường Hương Long, Thành phố Huế. Ngài đã trụ thế 89 năm, với 57 hạ lạp.
Sau những năm tháng hiện hữu giữa cõi Ta Bà, duyên đã mãn, Ngài đã trở về miền Tịnh cảnh.
Sự ra đi của Hòa thượng đã để lại niềm kính tiếc vô cùng sâu sắc trong lòng hàng đệ tử, Tăng Ni, Phật tử và quyến thuộc.
“Thầy buông hơi thở về Tây,
Còn nghe văng vẳng lời Thầy vọng vang.
Kính dâng một biến kinh vàng,
Nguyện Thầy về cõi Đạo Tràng Liên Hoa.”
Nam Mô Tự Lâm Tế Chánh Tông Tứ Thập Tứ Thế Từ Hiếu Tôn Phong – Báo Ân Pháp Phái Trùng Kiến Phước Duyên Tự Viện – Viện Chủ Huý Thượng Nguyên Hạ Tiến Tự Lương Phương Trưởng Lão Hòa Thượng Giác Linh, Tác Đại Chứng Minh.
Để tìm hiểu sâu hơn về cuộc đời và sự nghiệp của các bậc cao tăng, hãy khám phá chuyên mục Tiểu sử.

