Trí Quang Tự Truyện: Hành Trình Của Thích Trí Quang

0
(0)

Hành trình tâm linh và những bí ẩn gia tộc hé lộ từ thời niên thiếu, nơi dấu ấn lịch sử và tình thân đan xen, mở ra một góc nhìn độc đáo về thân thế một bậc vĩ nhân. Khám phá sâu hơn về nguồn cội và những ảnh hưởng sâu sắc đã định hình con đường xuất thế của ngài tại chiasedaophat.com.

Cội Nguồn Gia Tộc Và Thời Niên Thiếu

Tôi sinh ra tại Diêm Điền, một làng nhỏ gần trung tâm tỉnh lỵ Quảng Bình, chỉ cách khoảng 600 mét đường chim bay. Tổ tiên tôi vốn gốc từ Hải Dương, sau đó cha con họ đã tham gia vào đội quân tiếp quản Quảng Bình và định cư tại ba làng. Cha tôi là con út, đã chọn Diêm Điền làm nơi an cư lạc nghiệp. Làng tôi, do nước sông Nhật Lệ có vị mặn, đã gắn liền với nghề làm muối, từ đó mang tên Diêm Điền. Dù gần tỉnh lỵ, làng tôi không có truyền thống học chữ Tây mà chủ yếu theo học Nho giáo, dù không nổi tiếng về khoa bảng.

Có một bí mật gia tộc mà nay tôi xin được chia sẻ. Làng tôi có mối liên hệ mật thiết với phong trào Văn thân của chí sĩ Phan Đình Phùng. Hai quân thứ của phong trào đã đóng quân tại vùng núi phía tây làng. Bác họ tôi là một chỉ huy cấp trung, còn ông ngoại tôi là một đội viên. Cha tôi từng là “người của vua Minh”, một cách gọi kín đáo dành cho vua Hàm Nghi. Khi tôi 14 tuổi, cha tôi đã dẫn tôi đến thăm đám ruộng cạnh giếng Nĩ, vùng Ải dài, và căn dặn tôi phải ghi nhớ. Khi tôi hỏi về những “người của vua Minh” khác trong làng, cha tôi ngập ngừng và cho biết có nhiều người, đặc biệt là dưới tỉnh. Cha tôi cũng dạy tôi rằng, dù biết “quốc tặc” là gì, không được sợ hãi hay khinh suất.

Gia Đình Và Nền Tảng Tâm Linh

Gia đình tôi có sáu người con trai. Anh cả, Phạm Huệ, đã hy sinh tại Lào. Anh thứ hai, Phạm Cần, hưởng thọ 102 tuổi. Bốn người em còn lại, sinh cùng mẹ, là Phạm Minh (90 tuổi), tôi, Phạm Quang (89 tuổi), Phạm Chánh (hy sinh năm 1947 trong cuộc kháng chiến chống Pháp tại tỉnh nhà), và em út Phạm Đại (qua đời sau năm 1975). Bác ruột của tôi, Phạm Phương, đã hy sinh tại bến Bồ Đề, Huế, trong trận tấn công tòa Khâm sứ Pháp.

Mẹ tôi rất yêu thích bài sám Lương Hoàng, được một người Đức phổ nhạc, cùng làng với bổn sư và tổ sư của tôi. Cha mẹ tôi cùng quy y với ngài, trở thành Phật tử tại gia. Cha tôi đặc biệt tâm đắc với bản “Truyện Phật Thích Ca” do Từ Bi Âm phiên âm chữ Nôm, thường đọc lớn và ngâm nga, đặc biệt là khi một mình. Khi cha tôi viên tịch, ngài đã tự đặt cuốn sách này trên ngực.

Nhánh ba họ Phạm làng Diêm Điền, nơi gia tộc tôi sinh sống, đã theo Phật từ lâu. Tuy nhiên, sự gắn bó sâu sắc hơn bắt đầu từ ông nội và cha tôi. Cha tôi, sau khi xuất gia, đã trở thành đệ tử của ngài Đắc Quang, em ruột của ngài Đắc Ân, Tăng cang chùa Linh Mụ. Danh hiệu long vị của ngài là “Người dòng phái đại tổ sư Nguyên Thiều, pháp danh Hồng Nhật, pháp tự Tâm Nguyên, đắc pháp với pháp húy Huyền Đàm Đại sư.”

Con Đường Học Vấn Thuở Ban Đầu

Năm lên bảy tuổi, mẹ tôi đã chuẩn bị mọi thứ và nghiêm nghị ra lệnh cho tôi và anh Minh đi học. Người khai tâm cho anh em tôi là tiên chỉ của làng, Mậu Thực Phu Từ. Mẹ tôi thường xuyên kiểm tra vở học bằng cách đếm trang và xem xét chữ viết. Bà yêu cầu tôi đọc bài cho bà nghe sau khi học.

Hai năm sau, mẹ tôi đưa anh em tôi đến làng Thuận Lý, cách nhà sáu cây số, để học với bác họ, bác Ấm Lộc. Bác Lộc là người có chức vụ Kinh lược ở Bắc Bộ, có phần nghiêm khắc. Vì lo lắng chúng tôi bị mẹ đánh, bác đã khuyên chúng tôi viết lại bài làm và tô nhiều vòng đỏ. Mẹ tôi, dù đoán được, vẫn xin bác đừng quá thương cháu mà hư thân. Sau đó, bác Lộc nói với mẹ tôi rằng họ Phạm ở làng nào cũng kém cỏi, và khuyên tôi cố gắng hơn nữa để làm vui lòng mẹ và bác.

Chúng tôi được học cả chữ Nho, chữ Quốc ngữ và toàn bộ chương trình Cơ Thủy do Sở Học Chính Đông Dương biên soạn, ngoại trừ chữ Tây. Bác Lộc khuyên mẹ tôi tạm dừng việc học của tôi, cho rằng những kiến thức đã học đủ để sống đàng hoàng ở thôn quê. Bác đề nghị mẹ có thể tìm cách cho tôi học theo chương trình Tây soạn và thi lấy bằng Cơ Thủy, học lên Thành Chung, nhưng tùy mẹ quyết định. Mẹ tôi đã bàn bạc kỹ lưỡng với cậu ruột, đặc biệt là xem xét liệu tôi có đủ sức sống với thôn quê hay không. Cậu tôi nhận xét rằng bác Ấm Lộc đã dạy rất tốt. Về việc học lên cao, cậu cho rằng cần xem xét về tiền bạc và sự cần thiết.

Sau khi bàn với cha tôi, cha đã tiến hành kiểm tra học lực của tôi một cách nghiêm ngặt, đặc biệt là chữ Nho. Cha tôi tỏ ra hài lòng nhưng cũng cho rằng tôi mới học được một nửa. Nửa còn lại, theo cha, là học làm đất: đất vườn, đất nương, đất ruộng. Cha dạy tôi rằng dù đất đai có ít, chỉ cần đổ mồ hôi xuống đất thì đất sẽ cho cái ăn, giúp ta không bị khinh vì đói rách, xin xỏ hay nợ nần. Phải mất tròn ba năm, cha mẹ tôi mới thực sự yên tâm.

Bước Chân Vào Đạo

Năm 1932, Tổng hội Phật học Miền Trung được thành lập tại Huế, kéo theo sự ra đời nhanh chóng của các tỉnh hội, trong đó có Quảng Bình. Tổng hội thường xuyên cử giảng sư về giảng Phật pháp. Một hôm, mẹ tôi gặp hai vị giảng sư từ chùa Phổ Minh về tỉnh hội trên cầu Đá. Phong cách của hai vị đã gây ấn tượng mạnh mẽ cho mẹ tôi. Bà về nhà và nói với cha, rồi anh em chúng tôi đều được nghe. Mẹ cho rằng gia đình ta theo Phật lâu đời nhưng chưa có ai như hai thầy ấy, và bà mong muốn điều đó xảy ra. Mục tiêu này đã trở thành của tôi, dù trước đó tôi đã chọn làm người kế thừa hương hỏa tổ tiên.

Vào đêm giao thừa năm 1938, tôi đã có một sự thay đổi hoàn toàn: đầu cạo sạch tóc, mặc áo nhật bình màu khói hương. Tôi cảm thấy lạ lẫm nhưng cũng thích thú. Một lát sau, Tâm, một người bạn học Nho với tôi, cũng đến với trang phục tương tự. Cha tôi ôn tồn ra lệnh: “Hai đứa đi tu!”. Một năm trước đó, anh Minh cũng đã đi tu theo cách này. Trời tối và lạnh, ngay sau giờ giao thừa, tôi và Tâm theo cha vào chùa Phổ Minh, xóm Ải. Mọi việc diễn ra như với anh Minh. Sau đó, bổn sư tôi, ngài Hồng Tuyên, xoa đầu chúng tôi và bảo về ăn Tết, rằm sẽ quay lại.

Ngài Hồng Tuyên quê ở Đức Phổ, làng ngoại của tôi. Ngài là cháu của các ngài Đắc Ân và Đắc Quang, hai vị nổi tiếng với danh hiệu “Ký quốc ân” (Thư ký tổ đình Quốc Ân). Ngài cao lớn, thanh thoát, tay quá gối, rất thông minh, từng là học trò cao trọng của ngài Trà Am. Ngài có lòng tự trọng cao, khả năng nhìn người và nhìn mình sâu sắc. Ngài tiếp đón mọi người với phong thái cổ kính, ung dung và dễ mến. Sau này, khi đã thử thách, ngài bảo tôi “dạy” lại kinh luận đã học. Ngài học rất nghiêm túc, ngồi thấp, bảo tôi ngồi cao. Cho đến nay, tôi chưa gặp ai có khả năng lý giải và lĩnh hội sâu sắc như ngài. Ngài đặc biệt yêu thích kinh Kim Cang và Nhiếp Luận, coi trọng kinh Di Giáo. Ngài yêu cầu tôi làm bài, và làm rất nghiêm túc, bằng tiếng Hoa. Bài làm của tôi rất tuyệt. Tôi học như vậy suốt mùa an cư năm 1942. Ngài còn nói: “Học như vậy, ăn rau lang trừ cơm cũng được.” Ngài cũng nhận xét: “Ông làm thầy giỏi, nhưng tính nóng. Nhược điểm ấy rán mà bỏ.”

Hành Trình Học Phật

Tôi xin kể lại việc học Phật của mình, vốn là nền móng và trụ cột cho cuộc đời tôi. Sau khi xuất gia năm 1938, sáu năm tiếp theo (1939-1944), tôi được theo học tại Phật học viện của Tổng hội Phật học, ban đầu là cấp sơ đẳng. Viện được thành lập năm 1933, chủ yếu bởi Hòa thượng Giác Tiên (khai sơn chùa Trúc Lâm) và bác sĩ Tâm Minh (Lê Đình Thám, đệ tử của ngài). Ban đầu, viện đặt tại Trúc Lâm, sau đó tại Quan Công, và cuối cùng là Báo Quốc. Tôi học tại đây trong bốn năm cấp sơ đẳng.

Viện trưởng và giáo sư chính yếu là Hòa thượng Trí Độ, nguyên là học đồ của ngài Thập Tháp. Gần cuối khóa học, thầy thọ Bồ tát giới với ngài Đắc Quang. Về thế học, cấp sơ đẳng được bổ túc theo chương trình Cơ Thủy, cấp trung đẳng học thêm triết học. Về Phật học, là phần chính yếu, có đủ bốn cấp: sơ đẳng (6 năm), trung đẳng, cao đẳng và siêu đẳng (mỗi cấp 2 năm), tổng cộng 12 năm. Tôi học hai năm cuối của cấp sơ đẳng. Khi lên cao đẳng, cấp siêu đẳng được gộp vào đó. Tôi học xong vào cuối năm 1943 và làm lễ tốt nghiệp đầu năm 1944.

Nhìn chung, từ việc thuộc lòng hai thời công phu đến Đại Trí Luận và Du Già Sư Địa Luận, viện đã dạy rất liên tục và nghiêm cẩn, đào tạo tăng tài hoàn chỉnh. Tuy nhiên, có một nhược điểm là học hơi nhiều về Duy Thức học của hệ Giới Hiền – Huyền Trang, và đặc biệt thiếu Sử truyện Phật giáo, một lĩnh vực rất cần thiết cho việc hun đúc hạnh nguyện của học tăng, đặc biệt là các bậc hoằng pháp và hộ pháp.

Trong thời gian gần kết thúc học kỳ, tôi đã “bị” viết bản thảo vài ba dịch phẩm và tác phẩm của Thân giáo sư, đồng thời phải “tập dạy” nhiều môn cho các lớp sơ đẳng và trung đẳng mới mở của viện. Những việc này đã giúp tôi rất nhiều, giúp tôi đạt điểm cao nhất trong kỳ thi tốt nghiệp, và sau đó, tôi tiếp tục dịch và viết kinh sách cho đến ngày nay.

Biến Động Đất Nước Và Sự Ra Đi Của Cha

Năm 1945, năm Ất Dậu, theo lịch dương là tháng 8, Cách mạng Tháng Tám bùng nổ. Theo lịch âm là tháng 10, cha tôi viên tịch. Trước đó vài năm, cha tôi đã không còn quan tâm đến việc đời, chỉ một mình kể lại “Truyện Phật” gần như thuộc lòng.

Năm 1944, hai lớp sơ đẳng và trung đẳng của Phật học viện (nay gọi là Kim Sơn) được tạm dời vào Nam, với Thân giáo sư là thầy Trí Tịnh, quản lý là thầy Thiện Hoa, và hộ chủ là Trương Hoằng Lâu. Vào đó, năm 1945, trường tan rã. Thân giáo sư của Phật học viện gốc trở về quê nhà Bình Định, với chí nguyện lập một Phật học viện theo ý mình. Tuy nhiên, chưa kịp thực hiện, ngài đã ra Huế nghỉ ngơi tại Kim Sơn.

Vào mùa hè năm 1946, thầy Tâm Chính, bạn học cũ tại Kim Sơn, đại diện các vị lãnh đạo Phật giáo miền Bắc, đã ra Huế mời Thân giáo sư Trí Độ và tôi cùng ra lập Phật học viện tại Quán Sứ, với quy mô và thiện chí lớn. Tuy nhiên, đầu tháng 10 âm lịch năm đó, lệnh toàn quốc kháng chiến ban hành, Phật học viện cũng phải tạm xếp lại.

Những Giây Phút Cuối Cùng Của Cha

Tôi trở về Quảng Bình thì cha tôi mất. Trước đó một ngày, đêm 21 tháng 10 âm lịch, tôi thức khuya đọc Du Già Sư Địa Luận. Hai anh Cần và Minh đã về. Tôi nói với các anh rằng cha vẫn yếu và dễ mệt, nhưng vẫn ăn được bắp rang ngào mật ong. Cha tôi, dù ở gian nhà thứ năm, vẫn nghe thấy chúng tôi nói chuyện và hỏi: “Mấy đứa về đó phải không?”. Tôi thưa: “Dạ”. Cha bảo: “Để thầy nghỉ, nói gì thì sáng mai rồi nói.” Mỗi người anh nhận được một gói đồ khá lớn, toàn là đồ điếu tang.

Sáng sớm hôm sau, 22 tháng 10 âm lịch, cha tôi dặn chú Đại nấu nước lá chanh, lá bưởi thật nhiều để tắm rửa. Mẹ tôi và chị Thuyết, chị con dì, làm bánh lá gạo hom cho cha tôi ăn. Khi chú Đại đỡ cha tôi vào giường, cha tôi thả chân xuống nền nhà, mà sau này tôi mới biết đó là “hạ thổ”. Cha tôi bảo đóng cửa cả 5 gian nhà để ngủ bù. Trừ chú Đại ở nhà trông coi, bốn anh em tôi, kể cả chú Chánh, đều xuống tỉnh. Từ cổng Bình Quan, tôi rẽ phải đến chùa Phật học, anh Minh rẽ trái đến cơ quan. Anh Cần xuống bến sông Nhật Lệ thăm nhà vợ. Chú Chánh đi tìm chỉ huy của mình.

Khoảng 4 giờ chiều, chúng tôi gặp nhau một cách tình cờ. Chú Đại ôm ngực chạy xuống, hét lớn: “Các anh về gấp mà coi, Thầy lạ lắm, nằm thẳng cẳng ra rồi!”. Cả nhà nhìn kỹ, cha tôi mặc tất trắng, y hậu chỉnh tề, đầu đội mão Quan Âm, nằm ngửa thẳng và gọn gàng, ba tay đặt trên ngực, ấn cuốn “Truyện Phật Thích Ca”. Tôi nhận thấy thiếu chiếc kính, và hiểu ngay cha tôi không cầm kính vì sợ kính không phân hủy hoặc làm tổn thương xương. Đến khi mất, sự kỹ tính của cha vẫn nguyên vẹn.

Anh Cần lên giường, kiểm tra cánh tay và bàn tay cha tôi. Anh lấy sợi chỉ rất nhỏ, cầm để nơi mũi cha tôi, sợi chỉ không một chút lay động. Mắt cha tôi khép kín, khuôn mặt bình thường, thoải mái, miệng không hé mở hay siết chặt. Sau khi khám kỹ, anh Cần và chú Đại xác nhận không có dấu hiệu đại tiện, tiểu tiện hay mùi hôi. Anh Cần hỏi mẹ tôi có tính gì không, mẹ bảo tùy ý các con. Khi kéo anh Cần ra, tôi hỏi cha mất ngày giờ tốt hay xấu. Anh tính toán và nói ngày xấu, phải đổi sang ngày mai, 23 tháng 10. Tôi ngạc nhiên vì ngày 23 cũng xấu. Anh giải thích: xấu cho việc khác, không xấu cho cái chết. Anh cũng dặn tôi và chú Đại không được nói với ai về việc này.

Sau đó, anh Cần xem ngày giờ nhập liệm, động quan, an táng. Bác sĩ Du đến kiểm tra và xác nhận cha tôi đã mất.

Tang Lễ Và Lời Vĩnh Biệt

Cả nhà ngồi xuống nền nhà, quây quần bên giường. Tôi lên tiếng đầu tiên: “Tuyệt đối không khóc”. Ai không nhịn được thì ra ngoài mới khóc. Mẹ tôi giao chìa khóa cho tôi, tôi trở thành quản gia lúc đó. Tôi bảo anh Minh vào chùa trình với bổn sư. Ngài nói ngài đã biết và đang chờ ngớt mưa sẽ ra ngay. Anh Minh đi, có chú Chánh đi cùng, nhưng vẫn còn sợ.

Thầy mang tơi ra. Cả nhà quỳ lạy và trình bạch ngày giờ các lễ quan trọng. Thầy niệm Phật, rồi cùng các sư huynh tụng liên tiếp ba biến kinh Di Đà, xướng long vị cha tôi và lạy. Thầy để nguyên y hậu, vào thăm cha tôi, niệm Phật lớn tiếng. Vừa niệm, thầy vừa đặt tay trên trán cha tôi, rồi trên cuốn “Truyện Phật”, nói như nói Pháp ngữ: “Chỉ một cuốn sách mà làm cho cha tôi chết rất tự tại, đúng là ‘hỏa diệm hóa hồng liên’!”. Thầy xá sâu ba cái rồi ra về, dáng vẻ hoan hỉ.

Với sự giúp đỡ của chú Đông, em con cô, tôi đã lo liệu mọi thủ tục và tục lệ. Lúc nhập liệm, trước khi đậy nắp quan, trưởng họ tôi hô lớn ba lần: “Cả nhà ra nhìn Ông lần chót!”. Lại hô: “Ai muốn Ông mang theo cái gì thì đem ra bỏ vào.” Nghe vậy, tôi chạy vào mở rương kinh, lấy cuốn Kim Cang nhỏ gọn mà tôi rất quý, chạy ra đặt lên cuốn “Truyện Phật”. Nắp hòm đậy lại. Một mình bổn sư tôi đứng trên đầu cha tôi. Trưởng họ xua mọi người ra. Thợ làm việc. Tiếng nện nắp hòm nghe e dè, nhưng vẫn khá mạnh và lớn. Đột nhiên, tôi chấn động cả người, vụt chạy vào buồng, khóc không gào thét, nhưng dữ dội. Tôi úp mặt vào ván gỗ, khóc không lấy hơi được. Bổn sư tôi vào, đỡ nhẹ tôi đứng thẳng. Cứ như thế, Thầy đứng với tôi niệm Phật rất nhẹ.

Cuộc Sống Tu Hành Và Nỗi Niềm Biên Soạn

Những năm 1943-1946, thế sự quốc gia và quốc tế đầy biến động. Tôi về quê, sống với bổn sư, được mẹ cho ăn. Ban ngày, tôi ở trong một căn nhà nhỏ như chòi tranh, nhưng rất sạch sẽ của anh con bác, tiếp giáp khuôn viên nhà tôi. Tôi đã biên tập bộ Phật học cấp sơ đẳng, bản thảo chép tay, lên đến 9 cuốn vở 100 trang khổ lớn. Tôi đã châm chước rất nhiều theo kinh nghiệm học và giảng dạy, cốt sao cho cân đối giữa Hoa và Việt, giáo lý và nghi lễ, sử liệu Phật giáo và truyện tích cổ đức. Chỉ còn thiếu phần nhạc cho các điệu tán: ngũ ngôn như bài Kiến Văn, thất ngôn như bài Đại Từ, trường ngôn như bài Dương Chi. Sách được soạn theo thể thức giáo khoa, mất một năm để hoàn thành (1944).

Vào thời điểm đó, chưa có photocopy. Tôi đã gói kỹ bản thảo và nhờ chú Kỳ, đệ tử đầu tiên người Hà Tĩnh, đem về cất giữ. Sau đó, cả người và sách đều biệt tích. Cho đến nay, tôi vẫn còn tiếc nuối khôn nguôi.

Chí Nguyện Biên Dịch Kinh Sách

Dù chưa phải lúc, tôi vẫn muốn nói rõ về việc biên dịch kinh sách Phật giáo của mình. Đây mới thực sự là thị hiếu và chí hướng bình sinh của tôi, là ước mong của mẹ tôi. Vì vậy, dù có cơ hội làm trụ trì chùa lớn và có nhiều đệ tử, tôi vẫn từ chối một cách không đắn đo. Tôi chỉ tạm trú ở Từ Đàm, Ấn Quang, Già Lam, và ở đâu, đầu óc tôi cũng chỉ nghĩ đến việc dịch chữ này, câu kia, đoạn nọ sao cho đúng ý và nghe thuận tai, ngay cả trong lúc ăn. Tôi không thích dạy học bằng sự biên dịch.

Khởi sự hơn một năm trước ngày tốt nghiệp, tôi đã chuẩn bị đầy đủ để biên tập “Từ điển Phật học” và biên dịch “Đại Tạng Kinh”. Tuy nhiên, công việc “Vận động thống nhất Phật giáo Việt Nam” đã khiến tôi phải gác lại chí nguyện của mình. Tôi chỉ còn làm lai rai, như đã làm và sẽ còn làm. Tôi đã rũ bỏ hết, cầu mong sống được một năm hoặc năm bảy tháng nữa để sửa chữa và biên dịch mấy đầu sách rất cần thiết. Bản tự truyện này viết trong vài ba tuần đã khiến tôi không hề thích thú.

Dưới đây là danh mục đã sửa chữa từ Pháp Ảnh Lục (mà tôi đã quyết định đình chỉ):

  1. Ba ngàn hiệu Phật,
  2. Lương Hoàng Sám,
  3. Pháp Hoa Chính văn,
  4. Pháp Hoa Lược giải,
  5. Vạn Phật,
  6. Tổng tập giới pháp xuất gia,
  7. Dược Sư,
  8. Địa Tạng,
  9. Thủy Sám,
  10. Kim Cang,

Và các tiểu phẩm:

  1. Hành pháp kinh Di Đà,
  2. Vu Lan Báo Ân,
  3. Tôn kính đức Quan Âm,

Và dự tính đang làm:

  1. In lại Pháp Cú Nam Tông,
  2. Đang dịch Pháp Cú Bắc Tông,
  3. In lại Nhiếp Luận,
  4. Chữa và in Khởi Tín Luận,
  5. In lại kinh Ánh Sáng Hoàng Kim,
  6. Chữa và in các tiểu phẩm: Tập Định Lăng Nghiêm, Dị Tông Luận.

Kinh Nghiệm Biên Soạn Đại Tạng Kinh Và Đại Từ Điển

Nay xin nói kinh nghiệm của tôi, vốn dự định áp dụng vào hai việc: biên dịch Đại Tạng Kinh trước, rồi làm cùng lúc hoặc sau đó về việc biên tập Đại Từ Điển (để giải thích từ ngữ trong Đại Tạng Kinh ấy).

Trước hết, nói biên dịch Đại Tạng Kinh, thì Đại Tạng ở đây là nói tiếng Hoa trước. Đại Tạng ấy không nhiều nếu (1) bỏ những bản trùng dịch, (2) bỏ những bản không cần dịch, (3) biên dịch yếu lược. Nên tham khảo “Quốc Dịch Đại Tạng Kinh” của Nhật Bản trong việc này.

Rồi, nói việc làm Từ điển, thì kinh nghiệm cho thấy, đừng làm theo Phật học Đại Từ điển, Phật Quang Từ điển. Phật học Từ điển của Vọng Nguyệt cũng phải thu xếp lại chỗ nào cần làm như vậy. Nói thí dụ, chữ “Kiếp” có đại kiếp, trung kiếp và tiểu kiếp, bốn từ tất cả. Nếu giải thích tất cả vào trong chữ “Kiếp” thì tra mau và dễ hiểu hơn. Vấn đề ở chỗ làm mục lục cho kỹ một chút. Lại nữa, lối giải thích như “Nhất Thế Kinh Âm Nghĩa” thì xác hơn, vì có chữ ở chỗ này chỗ khác, đâu phải tất cả đều giống nhau. Nên kinh xưa thường có âm thích ở cuối kinh, làm như vậy xác hơn.

Biên dịch Đại Tạng Kinh và biên tập Đại Từ điển là hoài bão của bất cứ ai đã học Phật. Tôi chỉ trình bày sơ sài về kinh nghiệm, không hy vọng gì làm được hơn. Đó là nỗi ân hận đã thành thống hận cho đời tôi.

Xem thêm: Shark Nguyễn Thanh Việt: Tâm huyết đạo Phật, tầm vóc “cá mập” kiến tạo giá trị

Lời Nguyện Cầu Và Sự Hy Sinh

Đầu tháng 2 năm 1947, Pháp sắp chiếm Quảng Bình. Tôi được cho biết như vậy. Nghĩ rằng chết, nhất là chết giặc, mà không có giới thì không được. Tôi xin bổn sư truyền giới cho, theo cách gặp lúc đại nạn ở biên địa. Sau khi truyền và thọ Sa di giới và Tỳ kheo giới, tối hôm ấy, vía xuất gia của Phật, ngày 8 tháng 2 năm 1947, thầy tôi cố ý một mình truyền Bồ tát giới cho tôi. Lễ xong, thầy đứng rất nghiêm kính, nói: “Ta với thầy là nhân duyên thầy trò trọng đại cho đời ta. Ta muốn góp sức làm cho ánh sáng Phật pháp trải ra khắp nơi. Hiện chùa Phổ Minh là ta chọn cho ý nguyện ấy. Nhưng ta đã không làm được gì cho thỏa dạ. Ta nhờ thầy, kỳ vọng ở thầy, rán giúp cho ta…”. Tôi cố cầm nước mắt, phục xuống lạy Thầy. Thầy vẫn còn khóc. Nhìn lên Phật, Phật độc lộ toàn thân, với bát nhang duy nhất.

Sau đó, năm 1955, khi bờ cõi chưa thống nhất, mẹ tôi, cũng một mình, bảo tôi: “Con đi mà trả nghĩa cho Phật. Đi cho thẳng, đừng đè bụi đè bờ mà châm vô!”. Mẹ cắn răng, ngậm nước mắt, giục tôi đi đi. Tôi đi trong nước mắt, và cho đến nay, ở tuổi 89, vẫn không đủ can đảm về nhìn mộ của Mẹ.

Đời Sống Tụng Kinh Và Lạy Phật

Khi còn học ở Phật học viện, tôi tụng kinh rất nhiều. Thường quỳ luôn trên hai giờ, theo lối quỳ của Nhật Bản. Mắt tôi rất rõ. Tiếng tụng cao, trong, dài. Tôi lạy rất siêng năng, không biết mệt là gì. Mỗi lần tụng kinh, lạy ít nhất 108 lạy. Sự lạy này chỉ thua bổn sư mà thôi. Tôi tụng tại chánh điện Báo Quốc, không tán, không dùng chuông mõ. Kinh Pháp Hoa thường tụng hai buổi, bất thường là một buổi. Kinh Hoa Nghiêm 80 cuốn, thường tụng 5 cuốn mỗi lần, vì kinh đóng hoặc đựng hộp đều có số ấy. Cỡ như thế, Hoa Nghiêm 60 cuốn và 40 cuốn, tôi đều tụng hết. Kinh Đại Phương Tiện Bảo Phụ Mẫu Trọng Ân tụng 2 lần. Đặc biệt là Đại Bát Niết Bàn, chỉ tụng 2 lần bản dịch của ngài Đàm Mô Sấm, sau này mới đọc được bản dịch của cao tăng Pháp Hiển. Còn thường tụng là Pháp Hoa và Hoa Nghiêm bản 80 cuốn. Khi dời lên Kim Sơn, tôi vẫn được thường tụng. Về Phổ Minh thì hay lạy Vạn Phật với bổn sư. Pháp lực đã độ trì cho tôi, rất rõ, trong bao phen suýt mất mạng.

Đọc Sách Báo Và Suy Tư Về Thời Cuộc

Ngoài việc tụng kinh, tôi phải đọc rất nhiều sách báo Phật giáo, đặc biệt là Hải Triều Âm. Tôi cũng đọc sách Quốc ngữ, đáng kể là “Phật giáo Triết học” của Phan Văn Hùm và “Tuệ Giác Đức Phật” (tôi quên tên dịch giả). Tệ nhất là “Phật giáo Đại Quan” của Phạm Quỳnh. Ngoài ra, tôi đã đọc không chỉ một lần tiểu phẩm thánh Cam địa, sách Quốc ngữ. Tiểu phẩm này chiếm trọn sự ngưỡng mộ của tôi, ảnh hưởng đến tôi không ít. Tôi lại được đọc, do “nghệ sĩ” Vân Đàm cho mượn, một số sách của Thương Vụ Ấn Quán (Trung Quốc) dịch và in, đa số là sách đọc chuyền tay của Đông Kinh Nghĩa Thục. Trong số đó có hai bộ đáng kể là “Thế giới Sử Cương” và “Cách mạng Tháng Mười”. Bộ sau giúp tôi hiểu Biện chứng Duy vật chính thống. Bộ này tôi càng đọc vì tác giả Gorky tỏ ra không ưa Phật giáo.

Trong những năm 1940-1944, tôi đã suy nghĩ khá nhiều về thế cuộc hồi đó. Tôi khẳng định vị trí “tăng sĩ Phật giáo” của mình. Nhưng tôi cũng suy nghĩ về sự đô hộ của người Pháp. Tôi nhờ anh Minh mượn tài liệu chính thức. Bản tường trình về sự cần thiết thành lập Mặt trận Việt Minh của Trường Chinh, với nội dung nói rõ quan điểm “giải phóng dân tộc”, đã thu hút sự chú ý của tôi. Tôi thừa hiểu giải phóng dân tộc rồi không phải là dừng lại ở đó. Lại biết, từ lâu, Pháp đã triệt tiêu các phái chống đối họ, mà cao điểm là pháp trường Yên Bái, thì còn ai để lựa chọn ngoài Việt Minh.

Thế rồi, bốn ngày sau khi thọ giới, buổi sáng hôm ấy, tôi biết thế nào là giặc đổ bộ. Cùng mẹ, cùng mọi người, cả trâu bò và chó nữa, chúng tôi chạy bất kể đạn lớn đạn nhỏ bắn tứ tung. Nhưng không ai chết cả. Súc vật cũng vậy. Thật kỳ lạ. Con người chạy theo chúng, không phải chúng làm bận con người. Tất cả, chúng tôi nhắm núi mà chạy. Mẹ con tôi, làng tôi, cùng mấy nhóm nữa, chạy lên một nơi mà tôi không biết vì sao có cái tên “Mãi Đắng”. Tại đây, ai cũng có cái chòi dựng vội, tranh chưa cột lạt, cũng có thực phẩm với vài nhúm khoai lang quá non, với trái bầu quả bí chưa rụng hết núm khô. Đêm ấy, cùng với chú Đốm, lúc nào cũng là hỷ thần trong nhà mà bây giờ là cái chòi, mẹ con tôi, và Đốm nữa, nhai sống mươi củ khoai lang non, rồi ngủ vùi. Hôm sau, mẹ dậy rất sớm, Đốm quấn quýt. Mẹ ấn đầu chú xuống vế, ngồi như không nghĩ gì cả. Còn tôi, tôi dịch tiểu luận “Phát Bồ Đề Tâm”. Đây là lần thứ hai, lần đầu dịch tại chùa Phúc Chỉnh, Ninh Bình. Thấy mẹ có vẻ bớt nặng nề, tôi dịch bài Minh của Cảnh Sách mà tôi thuộc lòng. Bài này, năm 1963, tôi dịch lại và chú thích, lúc bị giam tại Rạch Cát, Sài Gòn. Đốm giỡn với mẹ. Mẹ vui vì Đốm, vì tôi.

Lời Từ Biệt Mẹ Và Hành Trình Đạo

Khoảng 5 hôm sau, anh H. ghé thăm. Thủ tục ngoại giao xong, mẹ bảo Đốm đi theo, về làng, cách Mãi Đắng 13 cây số. Lần về này Đốm không chịu lên nữa. Vài hôm sau, có lệnh giết chó mới biết linh tính chính xác của Đốm. Mẹ lên rất sớm, tôi thưa… mẹ khoát tay: “Đoán biết rồi”. “Do ơi! Mạ biết con mạ. Không phản Phật, không phụ mạ, rứa là đủ. Trên đầu con có Phật, mạ không lo chi cả. Có điều, mạ thấy đàng còn xa, nước còn mặn lắm. Rán giữ, đừng để bị sốt rét.” Mẹ nhìn xuống, nói: “Con đi sớm đi.” Tôi đi, không có gan nhìn mẹ.

Chiến khu gần Mãi Đắng. Tôi vào, sắp đặt công việc chưa đâu vào đâu thì có sự thay đổi. Tỉnh dời ra Tuyên Hóa, thị xã sáp nhập Quảng Ninh. Tôi tự đề nghị ở lại đây, cho gần mẹ hơn. Lên huyện, lại tự đề nghị phụ trách quận hội Liên Việt. Hơn tuần sau, một thanh niên cỡ tuổi tôi, gặp tôi, nói: “Tôi tên Thế, chỉ huy đại đội tự vệ chiến đấu, đóng ở chỗ thị xã cũ. Tôi công tác, ghé vào nhà gặp mệ. Mệ gọi bằng con liền, có vẻ các anh đi cả, mệ thấy bạn con như thấy con, nên thương tôi lắm. Mệ khỏe. Con Đốm đẹp quá, chó lai, thiếu màu đen nữa là tam thể. Mệ xoa đầu, nói với nó, anh mới của con đó.” Nó lắc mình, ngoắt đuôi, rên ư ử, nhìn tôi, dễ thương quá. Mệ bảo: “Nấu khoai ăn đã, con.” Tía tím, tía trắng, tía gà, khoai ngủ ngược, khoai lang. Ăn rồi, mệ cho cả rổ nữa, đem về cơ quan. Thế dễ mến thật. Không to con, hoạt bát, bảo: “Sáng mai tôi về sớm, anh nhắn gì với mệ không?” Tôi cảm ơn nồng hậu, nhờ thưa Mẹ khỏe, vui, là đủ.

Trở Về Bên Mẹ

Hôm nay là 22 tháng 10 âm lịch. Tôi nhớ khi cha mất. Trời âm u. Mưa có lúc đã lớn. Ngày mai đã là 23 tháng 10; ông tha bà không tha. Tôi tìm khuây khỏa trong công việc. Chỉ não lòng không tụng được cho cha một thời kinh. Chiều hôm ấy, Thế lên, tìm tôi gấp gáp, báo tin mẹ đau nặng. Thế đã cải trang võng mẹ xuống bệnh viện tỉnh. “Anh phải về nuôi mẹ. Quân kỷ không cho phép Thế liều lĩnh hơn được.” “Tôi về, còn nguy hiểm hơn nữa.” Thế trầm ngâm, “Ừ, nhưng cứ về đã. Biết đâu chỉ thấy một trong các anh thì mẹ lành liền.” Tôi nói: “Bây giờ gần tối rồi, mai sáng mới sắp đặt được.” Thế tạm biệt tôi, không nói gì. Khoảng 8 giờ tối, Thế đến, phấn khởi: “Xong xuôi rồi, tôi nghỉ với anh luôn, sáng đi càng sớm càng tốt.” Tôi nói: “Còn kiếm đò.” Thế bảo: “Có rồi.” Tôi nhìn Thế, Thế nhìn tôi. Trong một thoáng, chúng tôi cảm thấy cùng một mẹ. Tỉnh trí rồi tôi hỏi: “Thế có biết ngày mai là kỵ cha tôi không?” Thế nói: “Bây giờ thì biết.” “Thế thì anh càng về gấp.” Tám giờ sáng, đò cập bến núi U Bò, sông Long Đại. Hai anh em trèo núi, cao và rắc rối. Đây là lần thứ hai tôi trèo. Ba giờ chiều về đến chỗ Thế đóng quân. Thế vừa sắp đặt, vừa giải thích: “Mình phải ra khỏi dốc Cây Dẽ trước khi trời tối hẳn. Chỗ này có hai vọng gác của nó nhắm kỹ. Hễ nghi, hay thấy lay động là bắn liền. Bắn kiểu làm cỏ. Sớm một chút thì nó thấy, chậm một chút thì mình hết đi được. Bây giờ Thế đưa anh ra dốc Cây Dẽ rồi phải lui. Anh bình tĩnh, đi một mình. Được không?” “Được.” Không đắn đo nữa. Đường khá thẳng, trên vài cây số. Cây nhỏ, lúp xúp, không đến vai người, làm cho con người dễ nổi bật hơn. Tôi tự tin đến kỳ lạ. Quên nói, bây giờ tôi mặc áo tràng đà cẩn thận, nghĩ có chết cũng là tăng sĩ đàng hoàng. Tôi đi bình thản. Khoảng hơn nửa giờ thì vào vùng đất Mỹ Cang. Mừng nhưng không nhiều lắm. Băng vùng này, tôi vào Cẩm Lệ hay Phú Vinh. Ra đường ray xe lửa: chỗ hay bị phục kích. Qua khỏi đây, tôi băng cánh đồng lớn, vào xóm Ải. Lại băng cánh đồng Ải dài, bước vào giếng Nĩ. Chỗ này khá nguy hiểm. Chúng hay phục kích, lại là bãi tha ma hoàn toàn. Cỡ 900 mét là vào nhà, nhưng rợn người gần như đoạn đường ra khỏi Cây Dẽ. Khi vào, cả nhà rú lên. Mẹ sững sờ. Tôi chỉ biết nhìn. Khi tỉnh trí, tôi hỏi bệnh mẹ thế nào? “Hết rồi,” mẹ nói, và mắt cười, dưới đèn sáng. Thế đoán đúng thật. Tôi xin ăn đã. Mẹ nói: “Chừ mà có Thế với Đốm thì vui biết mấy.” Hỏi Đốm, mẹ nói: “Nó thoát kiếp rồi, gối đầu trên vế mẹ mà đi, không rên rỉ chi cả.”

Hơn một tuần sau, người trực tiếp, người gửi thư, nói tôi nên ở nhà chăm sóc mẹ. Tôi xin ghi ở đây ơn Thế, ơn Ty, và tất cả những ai thương cho tình cảnh mẹ con tôi.

Lễ Bạt Độ Cho Em Và Sự Trở Về Của Mẹ

Sau húy nhật cha, thấy mẹ khỏe vui, tôi xin làm lễ “bạt độ” cho Chánh. Chú tử trận ngày 22 tháng 2 nhuận, năm Đinh Hợi (1947), tuần thứ hai sau giặc đổ bộ. Năm đó, mẹ 53 tuổi, đại hạn: mất con là đúng lý số. Nghe nói làm lễ, mẹ mới buồn trở nên vui. Tôi lo việc. Nói chuyện với người anh họ, vốn là người Việt gốc thầy chùa, có học, nhưng nay có gia đình. Anh khá về nghi lễ chính thức và không chính thức của Phật giáo. Tôi cất học thức, làm lễ nghiêm trang, xúc động. Thậm chí – nói buồn cười – tôi xếp và đặt vàng bạc nhiều vào bàn thờ Chánh, cảm thấy em đang có ở đó.

Liên tiếp 10 ngày, tôi trì tụng cho Chánh 3 biến Địa Tạng, 3 biến Kim Cang, và 1 biến Pháp Hoa. Mỗi ngày, anh họ tôi đến cúng Ngọ và tiến Linh. Tôi đội sớ điệp cúng em, thầm trì Vãng Sinh cho Chánh. Lễ thức đơn bạc. Cái đói năm Ất Dậu, nay vẫn còn múa lưỡi hái tử thần khắp nơi.

Ngày chót, người anh họ bày đồ cầu đồng ra. Tôi hơi cười. “Có cần không?” anh bảo, “Xưa làm răng thì chừ phải làm rứa.” Mẹ rất chịu. Thế là đồng lên, người lên đồng là chú Đông, em con cô của tôi. Trong gần một tiếng đồng hồ, đồng nói giọng em Chánh. Hỏi gì cũng nói rất đúng, những điều mà đồng, cũng như Chánh lúc sống, không ai biết gì về những điều ấy. Tôi hỏi về tương lai, gần và xa, đồng cố ý tảng lờ, không nói. Đồng nói với mẹ vài ba chuyện nữa, đột nhiên khóc nấc lên. Ai cũng mủi lòng. Đồng nói với mẹ: “Con xin đi,” và đứng lên lạy Phật, lạy mẹ. Không khí thương cảm rất nặng nề.

Nỗi Lòng Về Người Thừa Tự Và Lời Khuyên Của Thầy

Sau khi cúng cha và cúng em, tôi muốn sinh hoạt bình thường. Nhưng chỉ bái sám Lương Hoàng cho mẹ nghe. Rồi chuyên trì Kim Cang cho Chánh mà em thích. Và đọc Hoa Nghiêm Đại Sớ. Nhưng ngày đêm bị đủ cách quấy nhiễu. Còn mẹ, đã hai đêm nay không ngủ. Tôi hỏi, mẹ bảo: “Ngồi đó, bàn coi.” Mẹ lo nghĩ lấy ai thừa tự ông bà đây. Nhưng mẹ không bàn gì cả. Trưa đó, ăn xong, mẹ không nghỉ, đi đâu không nói. Khi về, thiệt nhiều hơn chơi, mẹ nói: “Xóm mình có cô M. ngó được.” Cô này, sau đó, cảm cái tình tri kỷ của mẹ, đã thương mẹ như mẹ ruột. Nhưng… mẹ lại đi, đến một nhà gần chùa, có hai người con gái. Về, mẹ vẫn chưa nói gì. Thưa, mẹ mới nói chậm rãi: “Giữa một thầy tu mà mẹ đã mơ ước, với một thầy cúng quê mùa như ai, mẹ phân vân hết sức.” Thế là đã rõ. Nhưng Thầy đã rõ trước. Thầy ra nhà, lúc mới xế bóng. Mẹ chào hỏi. Thầy nói, nhẹ nhàng: “Chị ơi, xưa, người ta có con thừa tướng, dễ hơn có con cao tăng.” Mẹ thưa liền: “Tôi không biết bàn tính với ai. Định chiều vào Thầy thì Thầy đã ra, và đã có ý kiến. Có thể không có gì phải phân vân nữa.” Đêm đó, tôi trang trọng thưa mẹ: “Lấy vợ, làm thầy cúng quá dễ. Nhưng không dễ, hoàn toàn không dễ, cho mẹ con mình. Con đi tu là lời nguyền của mẹ, bây giờ nói khác đi sao được?” Thầy lại ra sớm. Mẹ nói rất bất ngờ: “Phải chi con tôi vào Huế, ở trong Tổ đình Quốc Ân, thì tốt quá.”

Xui khiến sao, ba giờ chiều ấy, anh công an vào nhà tôi. Tôi hỏi: “Bắt tôi, và bắt đi ngay, phải không?” Anh nhỏ nhẹ: “Không phải. Có mấy hòa thượng và quan cụ nào ở Huế muốn mời thầy vào trong đó. Nếu thầy đồng ý, sáng mai con vào đón thầy xuống Sếp con để bàn việc ấy.” Tôi đồng ý, và thưa cho mẹ hay. Mẹ sắp vào chùa thì Thầy đã ra. Khi chuyện đi Huế được biết rồi, Thầy nói: “Những lúc như vậy mới thấy ngài Hộ pháp làm việc như thế nào.”

Phần tôi, trong lòng không thư ra mấy. Đi, để mẹ thui thủi một mình… Nhưng chuyện mới xảy ra mười lăm hôm trước. Lũ trấn vọng gác sau nhà tôi, đêm khuya đã nhắm bắn vào chỗ tôi nằm, xuyên qua mái sau. Chúng bắn giỏi. Đạn trúng cây đèn đồng lớn. Cây đèn đỡ đạn cho tôi. Và đây là một hành động ám sát, trăm phần trăm chỉ để ám sát một tăng sĩ Phật giáo. Tôi biết nhắc lại chuyện này thật không phải lúc. Nhưng phải nhắc. Để Thầy và mẹ tôi phải thấy gì nữa kia. Sự đời không đơn sơ chút nào.

Cũng cần ghi thời điểm bấy giờ: năm 1948.

Thành Lập Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam

Khoảng năm 1950, Liên minh Hữu nghị Phật tử Thế giới thành lập ở Tích Lan. Việt Nam có Hòa thượng Tố Liên tham dự. Khi về, Hòa thượng cố gắng lập chi bộ ở nước nhà. Hòa thượng vào Huế vận động. Một cuộc họp với đầy đủ các vị lãnh đạo tại đây được triệu tập khá rộng. Trước khi họp, dành vài mươi phút để Hòa thượng Tố Liên ra mắt và thuyết trình về Liên minh Hữu nghị Phật tử Thế giới. Cuộc thuyết trình không được vui lắm, từ mọi phía. Tôi xin phép trình bày ý kiến: Nên bàn việc thành lập Tổng hội Phật giáo Việt Nam, rồi từ đó mà bàn việc liên hệ Liên minh Hữu nghị Phật tử Thế giới. Liên hệ chứ không trực thuộc. Thí dụ, Liên minh có thế nào thì Tổng hội không tự nguyện chung số phận. Ai, nhất là Hòa thượng Tố Liên, cũng tán thành. Và đồng thanh bảo tôi chủ tọa cuộc họp. Họp nửa giờ thì xong, với nghị quyết sau đây:

  1. Nay thành lập Tổng hội Phật giáo Việt Nam, tạm hạn cuộc 6 tập đoàn Phật giáo có đại biểu tham dự và ký tên trong cuộc họp này.
  2. Cuộc họp này bái thỉnh Đại lão Hòa thượng Tịnh Khiết (đương kim Pháp chủ Tăng già miền Trung) làm Tổng hội chủ lâm thời. Lại công cử Hòa thượng Trí Thủ (đương kim Hội trưởng Phật học miền Trung) làm trưởng ban Đại hội chính thức.
  3. Trân trọng tái xác nhận tôn chỉ và mục đích của Phật giáo là phụng sự Phật pháp (bằng giáo hạnh cực tinh thuần) và phục vụ nhân loại (bằng từ bi không vụ lợi).
  4. Đại hội chính thức phải tổ chức một năm sau cuộc họp này, vào ngày Phật Đản truyền thống 8/4 tại Từ Đàm, Huế. Chi phí: yêu cầu 2 tập đoàn miền Trung đài thọ.
  5. Đại biểu chính thức: 15 vị cho mỗi miền. Người tham quan: không hạn chế.

Gần giờ giới nghiêm. Tôi xin đình họp để kịp về. Và lo nhiều hơn mừng – dầu cái tiếng “Thống nhất Phật giáo” đã reo lên.

Đại Hội Phật Giáo Việt Nam Lần Đầu Tiên

Sáng sớm ngày 8 tháng 4 năm 1951, Đại hội Phật giáo Việt Nam khai mạc tại Từ Đàm, Huế. Bài “Phật giáo Việt Nam”, lần đầu tiên, được hát lên. Sau 3 ngày làm việc, một Hiến chương cho THPGVN được chấp nhận, một nghị quyết tán thành LMHNPTTG được công bố.

Hiến chương quy định THPGVN đặt trách nhiệm lãnh đạo vào Hội đồng Quản trị Trung ương (QTTW) gồm 1 Tổng hội chủ (là Đại lão Hòa thượng Tịnh Khiết), 1 Phó Tổng hội chủ Tăng già (là Hòa thượng Trí Hải), 1 Phó Tổng hội chủ Cư sĩ (là Cụ Lê Văn Định), 1 Tổng Thư ký (là Ông Tráng Đinh). Tiếp theo có nhiều thành viên cho đủ loại công việc. Một chương trình làm việc 3 năm được chấp nhận, trong đó có phái người du học để đạt trình độ cao cấp.

Nghị quyết tán thành LMHNPTTG gồm có công nhận cờ “5 màu hào quang của Phật”; THPGVN là Chi bộ “chỉ là liên lạc đạo tình” mà thôi; công nhận Hòa thượng Tố Liên là đại diện bên cạnh Liên minh; yêu cầu giúp đỡ người du học, mở đầu là Tích Lan.

Thế rồi, HĐQT thực sự làm việc. Đầu tiên là trình báo Quốc trưởng và Chính phủ về Hiến chương. Phía Quốc trưởng, một văn thư tán thành hoàn toàn theo kiểu cách ngoại giao. Phía Chính phủ thì Tổng trưởng Nội vụ gửi một văn thư nói phải đặt THPGVN vào khuôn khổ Đạo dụ số 10. Bấy giờ những ai nói “chỉ trình chiếu, không xin phép” mới thấy Hòa thượng Tố Liên ảo tưởng. Tiếp theo, Chính phủ ra lệnh cho Đại biểu miền Trung đòi nạp khuôn dấu, hạ bảng hiệu. Ông Tráng Đinh bị bắt. Cụ Định từ chức. Trong cuộc họp khẩn cấp, với tư cách một thành viên của HĐQT, tôi tình nguyện giữ khuôn dấu, và tức thì yêu cầu tiếp xúc với Đại biểu. Tôi thưa: “Khuôn dấu của THPGVN thì chính ngài Tường Vân cũng không có quyền tuân lệnh mà nạp cho chính phủ – nhất là lệnh ấy phi lý quá đáng. Ngài Tổng hội chủ muốn nạp thì phải có đại hội quyết định.” Tôi yêu cầu được phép triệu tập Đại hội ấy, gồm 6 tập đoàn. Diễn biến đến chỗ phải xin duyệt y Hiến chương, nhưng tôi tận lực phản kháng buộc THPGVN vào khuôn khổ dụ số 10, yêu cầu phải có ít nhất là “một sắc luật riêng”. Tôi không thấy nói gì 4 chữ sau, nhưng Hiến chương được Nha Pháp chính miền Trung mời tôi đến, gọt dũa khá kỹ, “không cho tăng già cư sĩ đứng chung”, công nhiên bác bỏ ý thức thống nhất. Ông Đổng lý văn phòng Quốc trưởng nhập cuộc. Điềm đạm, ông nói: “Thượng tọa cứ nhận đi, miễn người ta trồng cam vào chậu đã. Rồi, sau đó, thượng tọa trồng cam sành chậu sứ như ý mình thì họ cũng không hơi đâu mà làm khó.” Tôi nghe ra, thiện chí của ông không phải không có, nhưng có cái gì đó cho thấy mọi sự đã trở thành lạc hậu. Tôi vẫn không dễ dàng, đề nghị chữa cách hành văn mà thôi, rằng THPGVN gồm có Tăng già, và dưới Tăng già là Cư sĩ. Ông Giám đốc Nha Pháp chính chấp nhận.

Và mấy hôm sau, họ mời tôi xuống Tòa Đại biểu nhận Hiến chương đã duyệt y. Tôi phân vân. Hòa thượng Mật Nguyên hay đi với tôi “cho tôi bớt lạnh”, khuyên tôi nên nhận, ít nhất cũng có cái để mở Đại hội 1956, dời THPGVN vào Sài Gòn, chùa Xá Lợi.

Những Biến Cố Trong Cuộc Vận Động Bảo Vệ Phật Giáo

Năm ngoái (1951), khi vào họp Đại hội, Hòa thượng Tâm Châu có đưa cho tôi 2 tài liệu bằng hình ảnh. Tài liệu 1 là thư tuyệt mệnh của một gia đình (nếu tôi nhớ không lầm là 7 người), đau lòng vì tín ngưỡng của mình bị kỳ thị, và gia đình mình bị bức tử. Tài liệu 2 là một ngôi chùa mái cổ có mặt nhật bị đập, thay vào là hình chữ thập. Các vị ni sư bị mặc áo bà xơ. Tình trạng như hai tài liệu này mô tả đã lắng xuống, sau khi tự viện thượng cờ Phật giáo lên.

Năm nay (1952), 2 tập đoàn Phật giáo Bắc được ủy nhiệm tổ chức Giáo hội Tăng già toàn quốc (TGTQ). Tôi ra Hà Nội trước 1 tuần. Hà Nội rộn ràng cứ rộn ràng. Giáo hội tổ chức cứ tổ chức. TGTQ được thành lập, với một vị thượng thủ là ngài Tuệ Tạng, và 1 vị Tổng thư ký là ngài Tố Liên.

Đại hội có mục đến dự buổi tiếp tân của Hiệp hội Văn hóa Thăng Long. Sau lời chào mừng của ông Hội trưởng, tôi được bảo thay lời đáp lễ. Tôi thưa: “Ba miền tăng sĩ Phật giáo hội họp nơi ngàn năm văn hiến này là muốn nói lên mục đích phục vụ văn hóa dân tộc. Đó cũng là mục đích chúng tôi đến đây, hôm nay. Dân tộc ta, từ bao giờ cho tới bây giờ, chống ngoại xâm là chống xâm lược văn hóa và lãnh thổ. Con dân tổ quốc, khắp trên đất nước, bảo tồn lãnh thổ, chúng ta phải góp sức bảo tồn văn hóa. Nơi vũ khí chống xâm lược lãnh thổ có sự chống xâm lược văn hóa. Nơi chúng tôi và quý vị có sự bảo tồn tín ngưỡng dân tộc, tức cũng có sự bảo tồn văn hóa dân tộc. Cả dân tộc ta đang chung lòng chung sức như thế. Thay lời liệt vị tôn túc, tôi kính mến cảm ơn thịnh tình của quý vị.”

Khoảng 1 tuần sau Đại hội TGTQ, phái đoàn đại biểu Phật giáo Việt Nam, trong đó có tôi, qua Nhật dự Đại hội LHHNPTTG. Chương trình Đại hội này có mục đến thăm nơi quả bom nguyên tử đầu tiên đã nổ và để lại những gì của nó. Tôi bịnh, không đi, nhưng nghe nói thật kinh hoàng. Đưa Đại hội đến thăm ở đây, rõ ràng, người Nhật tố cáo, nguyền rủa.

Giai Đoạn Phân Chia Đất Nước Và Những Đau Đớn Cá Nhân

Bấy giờ là thời điểm 1953-1955.

XX

Đây là thời điểm mà tổ quốc phân chia Bắc Nam. Tôi nghĩ, tôi nên đứng ở cương vị thuần túy Phật giáo, không nên có ý kiến về việc đời quan trọng, chỉ đánh dấu tâm tư bằng dấu ẩn mà thôi.

11/1

Bấy giờ là thời điểm 1956, gồm trước và sau đó nữa.

!!

Thời điểm này đau đớn nhất cho đời tôi, cho suốt đời tôi. Thời điểm mà người mẹ khốn khổ của tôi bị đấu tố. Tôi không đủ can đảm, nhớ lại cho hết, ghi lại cho đủ, chỉ đánh vài dấu than mà thôi.

12/1

Suốt 7 năm, 1956-1962, tôi hoàn toàn nghỉ việc, mất ngủ đến nỗi mí mắt không nhắm lại được. Nói chuyện cũ, trước cả năm 1951, tôi đề nghị đổi và đã đổi được, trước là Phật học thành Phật giáo, sau Sơn môn thành Giáo hội. Chữ sau khó mà dễ, chỉ phải tra cứu rất kỹ, và tham khảo các vị chuyên môn nổi tiếng về Luật, Sử và Triết. Chữ đầu dễ mà lại khó, không khó vì gì mà vì một gã trí thức mới biết nghĩa 2 chữ Phật học, Phật giáo. Thật ra gã không biết chữ Phật học của Hội là lấy từ đại nguyện vương của ngài Phổ Hiền, “bát giả thường tùy Phật học”, có nghĩa thường tu học theo Phật. Ấy thế nhưng, một tài liệu công an mà tôi được mật cho, công an buộc một huynh trưởng khai rằng tôi đổi Phật học ra Phật giáo là chuẩn bị tranh cử tổng thống.

Tôi vào Nha Trang. Với cảm khái lắng đọng, viết 2 cuốn Tuệ Năng và La Thập. Qua năm 1960 về Huế, không mấy lúc không nghe, từ văn phòng Tổng Trị sự, Phật tử bị hại. Tàn bạo nhất là 27 chứ không phải 16, Phật tử bị thảm sát trong 1 đêm tại Đồng Xuân, Tuy Hòa. Ngang nhiên nhất là đêm đông, bắt huynh trưởng Trinh đem ra đồng đánh chết, rồi công nhiên phát thanh tại Kim Long, “những kẻ giết tên Trinh nên lánh mặt đi”. Liên tục và đồng loạt nhất là rào Ấp chiến lược. Chùa nào trong rào thì hết ra vào hành đạo. Chùa nào bên ngoài thì tự do bị tác xạ. Nhưng cái này mới độc đáo. Phong trào họp luôn, đều đều bình nghị, “ai nghèo thì đi khu Trù mật, khu Dinh điền”. Nghèo đây là các cấp điều hành Phật giáo địa phương, “càng giàu là càng nghèo: phải đi”! Đi đến đó bị kỳ thị: chết bỏ!

12/2

Thế nhưng, cờ Phật giáo thì dính gì ở đây mà thành vấn đề? Đúng! Cờ Phật giáo không dính gì ai cả. Tại ai tự tạo ra vấn đề “cờ Phật giáo” mà thành chuyện. Vùng Huế và Quảng Trị ai cũng biết Tổng giám mục Thục ưng làm Hồng y Giáo chủ. Tòa Thánh điều tra, thấy Phật Đản thì Quốc lộ Huế – Quảng Trị đầy cờ Phật giáo, lớp tư gia hai bên đường treo trước cửa, lớp cắm trên xe mà chạy. Kiệu Lavang thì trái lại. Tòa Thánh bảo thế là không thích đáng. Đức Thánh Cha nói thế chứ Ngài đâu có bảo mà Đức Tổng giám mục bắt tất cả các hộ, đặc biệt là các hộ công chức, phải kê danh sách theo tờ khai gia đình mà làm con chiên. Và đợi đến Phật Đản thì bắt triệt bỏ cờ Phật giáo là xong. Tỉnh trưởng mà cũng là thị trưởng Huế, vận động chính ông Hội trưởng Tổng hội Phật giáo miền Trung (mà đương nhiên là tôi) hưởng ứng lệnh ấy, ông từ chối. Ông cố vấn đứng ra điều giải. Sáng 14/4 âm lịch, ông mời đại diện Giáo hội và Hội đến tư dinh, thưa: “Xin quý ngài yên tâm. Tôi đã yêu cầu hai ông bộ trưởng đây về Sài Gòn gấp, điều chỉnh tức khắc, đừng để ‘lệnh bị lạc’ quá lắm rồi.”

Nhưng cố nói mặc cố. Khoảng 2 giờ chiều, chỉ 4 tiếng đồng hồ sau cuộc điều giải, tất cả tự viện và lễ đài Phật Đản, nhất là thành phố Huế, đều cho người chạy đến Từ Đàm báo động, rằng quy môn bị giật sập, đèn bị đạp, cờ Phật giáo bị triệt. Tôi đóng cửa, tĩnh tâm, xét kỹ, thấy hết mọi điều giải và hứa hẹn. Hòa thượng Thiện Minh đi đón hai Đại lão Hòa thượng Thuyền Tôn và Tường Vân. Tôi và các thầy đi bộ xuống Tòa Tỉnh trưởng, vào lúc hơn 4 giờ chiều. Ông Phó Tỉnh trưởng ra đón chào chúng tôi, và mời tôi lên họp trên lầu. Tôi từ chối, thưa rằng, chúng tôi đến đây là để được biết, tại sao khi sáng hứa gì với chúng tôi mà, ngay từ đó cho đến bây giờ, đi phá lễ đài Phật Đản? Ông vẫn không trả lời, vẫn một lần nữa mời tôi lên họp. Tôi nhìn thấy trời sắp tối, quần chúng Phật tử ngập ngút mắt. Tôi đành đến bạch hai Ông và các ngài, các thầy, rồi bước theo ông Phó Tỉnh trưởng hướng dẫn. Được mời ngồi, tôi xin đứng, nói: “Quý vị thấy quần chúng Phật tử đó: tôi không có thì giờ để ngồi nữa. Xin quý vị, nếu được, cho chúng tôi biết quyết định của quý vị.” Ông Tỉnh trưởng nói, và đưa tay chỉ: “Đây là ông Phó Tỉnh trưởng Nội an, đây là ông Cảnh sát trưởng, đây là ông Trưởng ty Thông tin. Chúng tôi huy động mọi trách nhiệm sở quan, dùng xe thông tin và chiêu hồi, đi yêu cầu chỉnh lễ đài Phật Đản. Riêng thành phố, còn thông báo cho các đường có dân cư nữa. Toàn bộ hỏi đài phát thanh, nhưng không tin tưởng gì, lại hơn 7 giờ tối rồi, nên tôi nói, vậy xin quý vị xuống trực tiếp thông báo về quyết định của quý vị.”

13/3

Tôi về đến Từ Đàm thì đã 7 giờ 30 tối 14/4. Lòng khá bình thản, không vì tin tưởng quyết định của chính quyền, mà vì ước mong có một thiện chí xuất từ lương tri của con người, mà vì lòng đầy ắp phong cách của thánh Cam Địa. Thêm nữa, tôi chán ngán Tổng giám mục Thục bấy nhiêu, thì có bấy nhiêu sự cảm mến Giáo hoàng lúc đó. Tôi càng tự kiểm rất kỹ, coi có tham vọng gì phi tôn giáo hay không, có tham vọng gì phi cương vị của tôi hay không, có cẩn trọng hết mức trong phản ứng và công việc hay không. Trước hết, và trên hết, Phật của tôi thường trú đóng trên đỉnh đầu của tôi. Và Mẹ tôi ôm tôi, nhìn tôi, “con đi mà trả nghĩa cho Phật”, dầu cái đi đó, hay, có thể là đi khỏi cuộc đời này. Tôi ứa nước mắt mà nghĩ như vậy. Đi theo tôi vẫn là Hòa thượng Mật Nguyện, chắc chắn biết sự lặng lẽ của tôi. Về đến Từ Đàm thì các thầy Thiện Siêu và thầy Thiện Minh vẫn ngồi bên mâm cơm. Và thật hấp dẫn: 1 cốc nước chanh muối Nam Kỳ, có đường và đá, đang mời gọi. Tôi uống và ăn. Vừa ăn vừa làm việc. Thầy Chánh Trực và anh Nguyễn Khắc Từ đứng sát bàn ăn. Tôi hỏi: “Giờ này, kiếm vải trắng và sơn đỏ, có không?” “Có cả rồi.” “Có, mà đúng vải trắng sơn đỏ cả không?” “Rất đúng ý thầy.” Tôi vui lắm, nói với thầy Thiện Siêu: “Xin hạ bụi lồ ô.” Thầy bảo: “Cưa mà hạ, róc mắt cho kỹ, cắt như nhau, để còn dùng nữa.” Thầy Thiện Minh đưa ra một trang giấy có chữ. Tôi nói: “Chỉ cần 5 biểu ngữ thôi: cần cho 5 hàng dàn ngang, và mỗi hàng có 6 cái tính chiều dọc, tất cả cho chính diện sân chùa. Những chỗ còn lại, và 3 mặt đường thì tự do.” Năm biểu ngữ quy định như dưới đây:

  1. Phật giáo Việt Nam bất diệt!
  2. Phản đối triệt cờ Phật giáo.
  3. Tại sao xúc phạm Phật Đản.
  4. Phản đối chính sách chính phủ.
  5. Cầu nguyện hòa bình, hòa bình.

Viết cho đẹp. Phơi cho ráo. Biểu ngữ với cờ vừa phải với nhau. Mọi việc, cần và rất cần. Ông Thiện Siêu nói: “Ở đó mà chừ mới lo!” Tôi xin nằm nghỉ, nghĩ về diễn từ “Phật Đản 2507” sáng mai. Lại nghĩ, không cần tố giác những chuẩn bị của chính quyền: 1 đội 5 chiến xa, 1 đội quân phục màu đen nằm sát bờ sông, từ sân đài Phát thanh ngược lên đến Sở Công chính. Tất cả sẽ sử dụng vào tối mai: Rằm tháng 4, Phật Đản 2507 (1963). Địa điểm sử dụng: sân đài Phát thanh. Đó là những thông tin có chứng cứ mà tôi được biết liên tiếp trong mấy ngày nay.

Trở lại câu chuyện. Tất cả 5 biểu ngữ nói trên được bí mật quyết định đi trước trong đoàn rước Phật từ Diệu Đế lên Từ Đàm. Bộ phận đi trước này là Gia đình Phật tử mà chỉ có huynh trưởng, thanh niên và một số thiếu niên. Đoàn biểu ngữ được lựa chọn và bí mật giao cho huynh trưởng Gái điều khiển.

Huynh trưởng Gái lên đến đầu cầu Trường Tiền thì một thầy coi trật tự (mà tôi không báo trước) chặn lại, thu hết biểu ngữ. Anh Gái điềm đạm để thầy ấy thu. Nhưng khi đến cuối cầu, anh ra lệnh ngồi xuống. Thầy trật tự, sau khi thu biểu ngữ đã bỏ vào xe riêng, qua cầu Trường Tiền, ngồi nghỉ, chắc chắn đây không phải là tự tung tự tác. Thầy đem lên cầu, trả lại cẩn thận. Đoàn rước tiếp tục, lên đến Từ Đàm.

Thế rồi Phật Đản 2507 cử hành, tại sân Từ Đàm. Diễn từ và Đại Lễ vừa xong thì rừng người, với cờ và biểu ngữ trương cao lên. Rồi cả thế giới biết Phật Đản đau thương ở Nam Việt Nam. Rồi nửa tuần sau, tôi viết và ký một điệp văn gửi Tổng thư ký Liên Hợp Quốc, thông báo Nam Việt Nam “vi phạm nhân quyền” qua sự đàn áp Phật Đản 2507.

12/4

Xin mở đóng vòng đơn lớn ở đây để nói vài vấn đề đáng quan tâm. Đó là 1, Phật giáo VN có liên quan đến việc “bình Tây sát Tả” của vua tôi nhà Nguyễn, hay không? 2, Phật giáo VN có ganh tị với tư thế Công giáo, hay không?

Hãy nói vấn đề thứ nhất. Năm 1963, đại diện Phật giáo VN tiếp xúc với Thủ tướng Ấn Độ bấy giờ. Thủ tướng ấy bảo: “Nghe nói Phật giáo VN ngày xưa đã bách hại Công giáo, nay ông Diệm trả đũa, sơ sài thôi, thì phản đối làm gì.” Thủ tướng Ấn nói như vậy thật là bất minh. Bình Tây sát Tả có thật. Nhưng, chủ đạo là Nho sĩ – là vua tôi nhà Nguyễn bấy giờ. Nho sĩ có cái triết thuyết “vua là thiên tử”. Nay Công giáo bảo phải thờ Chúa, không được thờ vua cha, ông bà, thì tất nhiên họ triệt hạ. Nhà văn Hồ Biểu Chánh, trong một tác phẩm của ông mà tôi quên tên, đã mô tả khá rõ thái độ ấy của vua tôi Nho sĩ nhà Nguyễn. Phật giáo VN không liên quan gì cả, về vấn đề này.

Nay đến vấn đề thứ hai, xin kể một chuyện. Một buổi sáng sớm, tôi và 2 huynh đệ nữa xuống chuyến đò ngang để qua sông. Chưa đủ khách nên đò chưa tách bến. Đồng bào đi chợ mặc sức kể chuyện hồi hôm. Họ không e dè gì chúng tôi. Nhưng đột nhiên im bặt. Theo ánh mắt họ, tôi nhìn lên thì thấy một linh mục đang vác xe đạp xuống đò. Tôi nghĩ, ông cha Phật giáo tôi sống chất phác với dân chúng như thế nào mới có tình trạng này. “Vậy chúng tôi ngu dại gì mà đánh mất niềm tin ấy”. Tôi kết thúc câu chuyện như vậy khi có dịp hội thoại với 1 vị Tổng giám mục đầy hiểu biết thông cảm.

12/5

Phật Đản hàng năm, Phật giáo Huế vốn có một buổi phát thanh, phát lại âm thanh Đại lễ khi sáng, như tiểu đoạn 12/3 đã ghi. Phật Đản năm nay có diễn từ mở đầu, không soạn trước, của tôi. Tôi nói: “Trái với quyết định của chính quyền, suốt đêm nay lễ đài Phật Đản tại các tự viện và các khuôn hội, vẫn bị xúc phạm càng trầm trọng, cho đến gần sáng. Do đó, Tổng Trị sự Phật giáo miền Trung quyết định mở cuộc ‘Vận động của Phật giáo’, công khai bày tỏ nguyện vọng ‘không được triệt cờ Phật giáo’.”

Chính quyền không cho, mà không thông báo, buổi phát thanh truyền đạt Đại lễ này.

Hòa thượng Mật Nguyện, Trưởng ban Phát thanh, đến đài phát thanh lúc gần tối, và bảo tôi cùng đi. Ông Giám đốc cho biết có lệnh không cho Phật giáo có buổi phát thanh này. Ông vừa nói, vừa nhún vai. Bên ngoài, chung quanh đài, nhất là trước sân, quần chúng tụ tập rất đông. Tôi đề nghị với ông Giám đốc: “Điện thoại mời ông Tỉnh trưởng hay đại diện thẩm quyền của ông, đến giải quyết tại chỗ.” Ông Giám đốc đồng ý. Và ông Tỉnh trưởng đến. Ông Giám đốc, Hòa thượng Mật Nguyện và tôi, từ trong phòng làm việc cùng ra đón ông. Chúng tôi mới bước vào cửa thì ở ngoài có nhiều tiếng la lớn “đừng xịt nước”. Nhưng nước càng xịt, và xe tăng tiến vào. Súng đạn vang dội. Tôi hiểu ra, đây là màn “khủng bố trắng” của chế độ.

Mùi khói thuốc súng chưa hết, thì từ mọi phía của đài phát thanh, quần chúng ào ạt xông đến. Nhóm người hống hách chỉ huy cuộc “khủng bố trắng” đã mau chóng tản mất. Chiến xa tản ra, trấn ngự hơi xa các phía của đài Phát thanh. Nhưng quần chúng đi tới, không lui. “Nhờ các thầy bảo họ lui cho”. Không màng nghe rõ ai nói, tôi ra đứng giữa đầu cầu Trường Tiền. Xin họ tạm về, đợi tôi. Họ ngừng lại, nhìn tôi, khóc lớn, và đi lui mau chóng. Tôi trở vào, bước lên sân trên của đài Phát thanh, đã có mặt các ông Tỉnh trưởng, Giám đốc và Hòa thượng Mật Nguyện. Nhìn qua góc bên trái, ở đó, thương ôi một đống thi thể của các vị “Thánh tử đạo”! Tôi cố nuốt mà vẫn nấc lên. Không ai không khóc. Sân dưới, có 2 người có lẽ là Mỹ, đang soi đèn pin, lượm được vài viên đạn nhỏ, gói tất cả có vẻ rất cẩn thận.

12/6

Chiều nay, 17/4, tôi bàn việc với thầy Chánh Trực, và anh Từ. Rằng nên có lịch trình mỗi tuần cho các Gia đình Phật tử của thành phố Huế, đến Từ Đàm tụng kinh thất thất trai tuần của các Thánh tử đạo. Đừng để tự phát thiếu điều hành nữa. Ngày thường thì cũng tụng kinh như vậy, tại các khuôn hội, gồm hết thành phần ở địa phương.

Một cuộc họp mở rộng, định việc cho ngày sơ thất sắp đến, 21/4. Các Hòa thượng Thiện Minh và Thiện Siêu thảo một tuyên ngôn cho cuộc vận động của Phật giáo VN, ngắn và gọn trong một trang giấy. Tôi mở một buổi thuyết trình về cuộc vận động ấy. Hội 5 văn phòng Phật giáo tại Huế làm 1 văn phòng điều hành cuộc vận động, do Hòa thượng Trí Thủ làm trưởng ban. Tôi viết và ký 1 điệp văn gửi Tổng thư ký LHQ, thông báo Nam Việt Nam “vi phạm nhân quyền”.

Bắt đầu việc gửi điệp văn đến LHQ, mật và gấp. Nội dung tôi nói Nam Việt Nam “vi phạm nhân quyền”. Sự vi phạm ấy gồm có xúc phạm Phật Đản 2507, triệt cờ Phật giáo Thế giới, khủng bố trắng Phật tử bất bạo động bằng chiến xa. Thỉnh cầu ngài Tổng thư ký LHQ tra xét và bảo vệ “Hiến chương nhân quyền”. Điệp văn được chuyển mau chóng, chu đáo, do ông bạn của tôi, bác sĩ W.

Tìm hiểu thêm: Trần Kiêm Đoàn: Tự Truyện Trí Quang – Lập Ngôn, Nền Tảng Tư Tưởng Vĩnh Cửu

Đến việc thuyết trình. Tôi thảo và ký thư mời nhân sĩ trí thức Huế, nhất là ngành đại học và tư pháp. Nội dung nói, giữa chính quyền và Phật giáo đang có vấn đề. Phật giáo chúng tôi không có phương tiện truyền thông tối thiểu. Chúng tôi khẩn thiết mời quý vị đến, và nghe cho, sự trình bày của chúng tôi. Chủ ý duy nhất là xin quý vị nghe cho. Còn phán quyết là quyền tuyệt đối của quý vị.

Thư gửi đi 18/4, mà 2 giờ chiều, tôi cảm động thấy số người hưởng ứng ngồi chật giảng đường Từ Đàm. Tôi trình bày cuộc vận động của Phật giáo theo bản tuyên ngôn.

Trước, tôi nói Đạo dụ số 10. Cử tọa thấy Đạo dụ ấy cho Thiên Chúa giáo có quy chế đặc biệt, còn Phật giáo hay tôn giáo nào cũng bị đặt vào khuôn khổ Đạo dụ ấy, y như các hội tiểu thương, Ái hữu, Văn hóa, Giải trí… gọi chung là “hiệp hội”. Rõ ràng, Dụ số 10 cho Công giáo là độc tôn, là “tôn giáo”, cho các tôn giáo khác, kể cả Phật giáo, chỉ là tín ngưỡng lặt vặt. Vậy mà Dụ này, Thủ tướng Diệm mới cầm quyền, đã ban hành tục Dụ duy trì, “ký thay Quốc trưởng”.

Kế đó, tôi dùng ít phút kể lại đại để của việc đã qua, giải thích chính yếu của Tuyên ngôn, rồi trịnh trọng xác định mấy điều sau đây.

Một, Phật giáo tự giới hạn, chỉ phản đối chính sách ngược đãi Phật giáo của chính phủ. Phật giáo không bước qua những địa hạt khác, nhất là địa hạt quyền chức chính quyền.

Hai, tuyệt đối sử dụng phương cách “bất bạo động”.

Ba, Phật giáo không mưu độc tôn, không cầu độc tôn, nên không thấy ai, kể cả Công giáo, là đối nghịch.

Bốn, Phật giáo không mưu hại ai, không thiên ai để hại ai. Nếu thất bại, Phật giáo coi là sự thất bại của chân lý trước bạo lực, không phải thất bại như bạo lực kém bạo lực.

Năm, sau hết, nhưng quan trọng nhất, là Phật giáo thỉnh cầu các bậc lãnh đạo thực thể đối trận, đừng khai thác gì về cuộc vận động của Phật giáo. Vì làm như vậy thì đối phương quý vị lấy cớ để hại Phật giáo mà thôi.

Sau buổi thuyết trình, tối đó, tôi viết lại thành bản Phụ đính Tuyên ngôn của Phật giáo.

12/ 7

Bấy giờ chính quyền đàn áp Phật tử bằng vũ khí gọi là lựu đạn axít, ngửi phải hơi nó thì cả người nóng đến phát cuồng. Cơn nóng như vậy đứt đoạn rồi lại phát ra, nạn nhân vật vã, vùng vẫy. Được đè xuống thì hơi yên, rồi lại nổi lên. Việc dùng lựu đạn này xảy ra ngay tại khu vực chợ Bến Ngự. Ngoài đường Lê Thái Tổ thì dùng quân khuyển, lính chó Béc giê. Mỗi lính chó được một lính người điều khiển. Lính chó dữ tợn, cộng với lính người mang mặt nạ càng khủng khiếp. Chỉ huy ném lựu đạn axít là Thiếu tá Ph. Chỉ huy lính chó là Thiếu tướng được quần chúng gọi là Thiếu tướng Ch.

Ngày nay là sơ thất các Thánh tử đạo, ngày công bố Tuyên ngôn Vận động của Phật giáo VN. Tôi đi bộ, xuống Tòa Đại biểu để xin phép, bị từ chối gay gắt, tôi nói: “Giết người rồi không cho làm tang lễ, thì là chế độ chi rứa?”. Họ nói: “Thôi thì linh động 1 lần.” Tôi thưa: “Sơ thất rồi nhị thất, chung thất, bách nhật. Chỉ một lần rồi thôi.” Tôi nói, rất nghiêm chỉnh: “Thế thì tôi sẽ không dám xin phép mà chỉ báo tin. Xin báo tin trước, như vậy.”

Tôi về. Lễ cử hành theo chương trình. Tuyên ngôn được công bố, trước các giới Phật tử tràn đầy sân chùa và các mặt đường xung quanh chùa. Cũng theo chương trình, 3 giờ chiều này đi chuyển đưa Tuyên ngôn ấy. Nguyên chương trình định Hòa thượng Mật Nguyện cầm đầu tăng ni và Phật tử hiện diện đi đưa Tuyên ngôn. Nhưng gần đến giờ, nghe nói, các Ông cùng đi. Các Ông đây chủ yếu là 3 ngài Thuyền Tôn, Tây Thiên và Vạn Phước, cùng trên 100 tuổi. Đây là việc quá bất ngờ. Không ai dám nghĩ đến việc xin các ngài dự vào những việc như việc chiều nay, sợ rủi có bề gì… Nhưng các ngài đã đứng với Phật tử ở ngoài sân chùa, mặc pháp hậu màu vàng, chống gậy định đi. Hoảng quá, chúng tôi chạy ra, định lạy, thì ngài Thuyền Tôn nói, nhẹ như gió nhẹ: “Để các Ông đi với con cháu 1 chuyến, không răng mô mà lo.” Chúng tôi co vòi, thụ động. Hòa thượng Mật Nguyện đi theo, dẫn đầu. Các ngài, ngoài 3 vị trên 100 tuổi, còn có các ngài Từ Hiếu, Châu Lâm, Mật Hiển… Tất cả đều đi bộ, không chịu đi xích lô. Theo sau các ngài là Phật tử, vòng tay trang trọng mà đi. Khi đến Tòa Tỉnh trưởng, các ngài đứng hàng ngang, giữa đường. Phật tử hầu ở sau và 2 bên. Họ đỏ mắt, cắn răng, rung miệng, nhưng không ai khóc. Hòa thượng Mật Nguyện bước ra, 2 tay đưa bản Tuyên ngôn cho ông Phó Tỉnh trưởng. Ông xin lỗi, nói ông Tỉnh trưởng đang bịnh. Rồi các ngài lặng lẽ chống gậy đi về. Cháu chắt tự sắp 5 hàng đi hầu theo sau. Về chùa thì um lên, vừa khóc vừa cười. Nhưng các ngài đi thẳng về chùa các ngài, và bấy giờ chịu đi xích lô. Chúng tôi chạy ra, không kịp lạy. Ai cũng thở mạnh, hết lo. Quang cảnh các ngài đi như chiều nay, đi vì việc như việc chiều nay, là hiện tượng lạ nhất, xưa nay chưa có, ngay trên đất Huế này.

12/ 8

Ba bốn hôm nay có mấy tin tức. Hòa thượng Tâm Châu cho người mang ra một mảnh giấy, viết “Tâm Châu chỉ một chữ nhất”. Cụ Mai Thọ Truyền cũng cho người mang lời ra, thăm, cầu nguyện, và hứa tận lực. Quan trọng nhất là 1 mảnh giấy, viết nguyện tự thiêu, của Bồ Tát Quảng Đức. Đem việc này ra bàn, không ai dám có ý kiến, và giao tôi liệu.

Tôi đoán, sau khi công bố Tuyên ngôn, thế nào cũng có phản ứng đáng kể từ phía chính quyền. Quả nhiên, tối 22/4, trước hết, nghe tiếng đoán biết ít nhất cũng có 2 chiến xa mở đèn rất sáng, rú lên ghê rợn, chạy vòng quanh Từ Đàm: đường Nam Giao qua đường trước chùa, vòng đường Bến Ngự qua đường bờ sông, rồi quẹo lại đường Nam Giao… Chạy qua chạy lại 6, 7 vòng gì đó thì ngừng lại, 1 chiếc trấn ngự đường Nam Giao, chiếc kia trấn ngự đường Bến Ngự, cả hai đèn vẫn chiếu sáng.

Thế rồi ngày sau, mới sáng tinh mơ, trên trời 2 phi cơ chiến đấu quần thảo, dưới đất, thanh niên Cộng hòa súng đạn đầy mình, trấn đóng trước chùa. Chùa bị phong tỏa, hết ai ra vào. Gạo bị xịt thuốc. Ai mạnh thì ăn cháo, cơm dành cho người bệnh. Củi hết, phải ngã dương liễu mà đun. Nước và điện khi cúp khi mở, rất bất thường, nhưng thường cúp nhiều hơn mở. Ký giả quốc tế thông tin, “Từ Đàm bị bao vây như tấn công chiến khu VC. Điện nước bị cúp gần 100%”. Chiều gần đổ xuống, có cái màn bắc loa lớn, cha mẹ kêu con ra về. Con ra, đứng trước sân, thưa lớn: “Sống chết với nhau”. Màn diễn vài giờ đồng hồ thì ngưng. Khoảng 10 giờ đêm, cha mẹ liệng giấy vào, bảo con đừng về. Thế đấy, khá vui.

Hòa thượng Thiện Minh, bấy giờ đã thay Hòa thượng Trí Thủ, làm trưởng văn phòng điều hành, đi Sài Gòn về, len lỏi hàng rào, từ chùa Thiên Minh về chùa Từ Đàm, cho biết Sài Gòn đã có 2 cuộc biểu tình đông đảo, hào hứng. Ủy ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo thành lập, ngoài Tổng hội Phật giáo VN và 6 tập đoàn của Tổng hội, Ủy ban mở rộng, mời 10 tập đoàn Phật giáo nữa tham dự. Chủ tịch Ủy ban: Hòa thượng Tâm Châu, Phó Chủ tịch: Hòa thượng Thiện Hoa, Tổng Thư ký: Mai Thọ Truyền, Phát ngôn viên Hòa thượng Đức Nghiệp. Ủy ban hoạt động có uy tín và rất hiệu quả.

Huế có tổ chức bãi thị: 50% ngày đầu, 3 ngày sau 100%. Phố vắng, cửa đóng, nhìn được suốt đường phố.

Tôi họp ký giả. Sau khi trả lời câu hỏi của họ, họ hỏi, qua họ, tôi muốn nhắn nhủ gì không? Tôi nói, có. Đó là tôi muốn biết súng đạn của ai canh gác trước chùa? Chiến xa của ai trấn ngự hai bên chùa? Họ cười, nhưng nói đó là điều quan trọng. Họ lại hỏi, Phật giáo có thay đổi phương cách bất bạo động không? Không, tôi nói, trái lại, Phật giáo càng bất bạo động. Có người bắt tay tôi. Họ nói, Phật giáo kiên nhẫn như thế, sẽ được hiểu biết nhiều hơn.

12 / 9

Hòa thượng Đôn Hậu được cung thỉnh mở cuộc diễn giảng thường xuyên tại Diệu Đế. Hòa thượng vốn là một vị tôn túc, diễn giảng nổi tiếng. Khả năng này, nay Hòa thượng được vận dụng với ý thức đầy nhiệt thành và truyền cảm, sau khi ngài Quảng Đức vị pháp thiêu thân.

Tôi cùng thầy Chánh Trực và anh Từ nghiền ngẫm kế hoạch tổ chức một cuộc biểu tình lớn, tại Huế và chung quanh gần Huế. Cuộc biểu tình sẽ tuyệt đối đồng bộ, diễn ra 5 địa điểm, vào ngày nhị thất trai tuần của các Thánh tử đạo. Kế hoạch rán giữ cho thật bất ngờ.

Tôi cũng phải kiện toàn Tổng Trị sự Phật giáo miền Trung, mời Hòa thượng Đức Tâm đảm nhiệm Tổng Thư ký hiện đang trống, cùng tỉnh hội Thừa Thiên tăng cường liên lạc với các khuôn hội của Huế và xung quanh Huế. Còn tất cả tỉnh hội, trung nguyên cũng như cao nguyên, tạm thời tự trị và liên lạc với Ủy ban Liên phái tại Sài Gòn.

Thế nhưng một buổi sáng, quãng 9 giờ, ông Đ. cho tôi biết, ngài Quảng Đức đã tự thiêu. Ông Diệm nghe tin thì giấy rơi khỏi tay, vội vàng tuyên bố “sau Hiến pháp có tôi”. Chiều đó, Từ Đàm được giải vây. Tòa Đại biểu phái người lên, “xin quý vị chuẩn bị để vào Sài Gòn hiệp thương”.

Kế hoạch của tôi tạm ngưng chuẩn bị. Phật tử ra về tắm rửa. Tôi đích thân, và huy động những ai còn lại, làm tổng vệ sinh. Vừa làm vừa nghĩ, thật nhiều, về cuộc hiệp thương. Một cuộc họp khẩn để ngày mốt đi. Đi, sẽ có ngài Hội chủ Tổng hội Phật giáo VN, và Hòa thượng Thiện Minh. Ai cũng hỏi tôi thì sao, tôi nói thật: “Để nghĩ đã”. Ngài Hội chủ lo nhất, bảo tôi phải đi. Tôi rất phân vân. Ông Đ. thúc tôi. Mọi việc đã lo liệu. Sau này mới biết, mỗi chuyến bay hằng ngày, Tỉnh đường Thừa Thiên được dành 2 vé đến phút chót. Tôi đi bằng 1 trong 2 vé ấy. Khi đi, ai cũng nghĩ tôi tiễn phái đoàn. Khi tôi cũng ra cửa mới biết tôi cũng đi. Bay hơn 1 tiếng đồng hồ thì tôi có cảm giác là lạ. Máy bay hạ cánh: Không phải Sài Gòn mà là Kontum. Thầy Thiện Minh bàn với tôi cách ứng phó. Tôi nói: “Ông với thầy chắc chắn về Sài Gòn, còn tôi, tôi cũng sẽ cùng về đó.” Và việc đã xảy ra như thế thật. Đến Xá Lợi, tôi vào giảng đường, lạy kim quan Bồ Tát Quảng Đức. Thầy Tâm Châu hỏi sao trễ thế, còn ông Chánh Trí không nói gì.

13/1

Lạy Bồ Tát rồi, tôi phải nói giáo lý về sự tự thiêu. Sự ấy được nói đến trong 2 chỗ là kinh Pháp Hoa và kinh Phạn Võng. Chỗ nào cũng nói tự thiêu có 2 ý nghĩa. Thứ nhất, tự thiêu là tự thử thách về chí nguyện, nung nấu chí nguyện ấy cho dũng mãnh, kiên cường. Thứ hai, tự thiêu là sử dụng sắc thân mà phụng sự Phật pháp và phục vụ quần sinh. Tự thiêu là do nguyên lực, tin chắc chí nguyện của mình có thể cảm hóa rất lớn.

Pháp nạn 1963, và sau này, có nhiều vụ tự thiêu. Nhưng phải nói nhất là Bồ Tát Quảng Đức và Tôn giả Quảng Hương. Mở đầu, nhưng Bồ Tát Quảng Đức tự thiêu rất tự tại, đường đường đủ mọi nghi lễ. Tôn giả Quảng Hương, trái lại, tự thiêu ngay sau khi thiết quân luật, cực kỳ khó khăn. Vậy mà tôn giả làm được, rất ư gian nan. Và cho đến nay, cũng vẫn không tìm được hài cốt của ngài: đáng tôn thờ và thương cảm biết bao nhiêu.

13/2

Nhân nói giáo lý về sự tự thiêu, xin nói luôn ở đây về vụ đưa đám Bồ Tát Quảng Đức.

Ba bốn hôm nay, có đủ các nguồn tin, mỗi lúc một rõ hơn. Theo đó, đám tang ngài Quảng Đức dĩ nhiên sẽ đông, nhưng có đổ máu đầu đường Tổng Đốc Phương giáp mối với đường Hùng Vương. Đám phải đi đường Hùng Vương, và qua đó mà thẳng xuống An Dưỡng Địa. Không ai không biết hay khinh thường tin tức như vậy.

Hòa thượng Thiện Minh hiệp thương lần chót rồi, chưa ký, về Xá Lợi bàn, Hòa thượng thấy rõ chính quyền không giấu giếm được sự lo sợ. Ý Hòa thượng phân vân, nhưng ngả về phía cứ để quần chúng làm việc. Tôi không đồng ý để mặc quần chúng. Có đổ máu: Không được! Hòa thượng Thiện Minh đi ký. Và cả phái đoàn chưa ai về. Ở chùa chỉ còn cụ Chánh Trí và tôi. Cụ đang bàn với cảnh sát trật tự. Tôi xin lỗi, mời riêng ra, bàn. Tôi hỏi tin tức về phía cụ, đám có thể đổ máu không? “Rất có thể,” cụ nói. Tôi nói: “Đổ máu của quần chúng là không nên.” Cụ nói: “Rất đồng ý,” và cho cảnh sát hay đám tạm ngưng. Khi phái đoàn về, họp khẩn, thấy tạm ngưng là phải. Và Hòa thượng Tâm Châu cho xe đi phát thanh lời thông báo tạm ngưng của Hòa thượng, qua các đường phố xung quanh Xá Lợi vào đến Ấn Quang. Quần chúng lại nghĩ tiếng phát thanh đó là giả. Vì vậy, sáng ra quần chúng đông hơn, tập trung nơi Giác Minh mà hướng về Xá Lợi. Hòa thượng Tâm Giác đang đứng trên một chiếc xe, nói gì không ai nghe được, chỉ hè nhau đẩy chiếc xe đi mở đường. Nhưng đến cổng xe lửa thì cuộc chiến xảy ra, vũ khí của quần chúng là đá lót đường xe lửa.

Một tuần sau đó thì đưa đám ngài Quảng Đức. Ủy ban Liên phái quyết định chỉ có chư tăng đi đưa. Có người viết: “Tuần trước quần chúng đưa đám với quần chúng rồi. Tuần này thì các thầy đi đưa với nhau.” Lời lẽ đầy mỉa mai, và tiếc rẻ, không có hỗn loạn và đổ máu.

13/ 8

Hòa thượng Thiện Hòa trông coi việc hỏa táng kim quan của ngài Quảng Đức. Tro tàn rồi, quả tim còn lại. Bấy giờ chỉ có ký giả quốc tế đi lại, và có xăng tốt. Thiêu lần thứ 2, quả tim ấy vẫn không cháy. Ký giả quốc tế thông báo cho thế giới như vậy.

Khi rước về Xá Lợi, Ủy ban Liên phái thông báo Tăng ni, Phật tử đến hành đại lễ. Tôi thảo lời ngài Hội chủ gửi điệp văn cho các miền và các tỉnh. Điệp văn viết: “Tôi chí thành đảnh lễ vị nhục thân Bồ Tát, xin ngài hộ trì cho nguyện vọng cuộc Vận động của Phật giáo VN.” Điệp văn chấm dứt bằng cách niệm “Nam mô Đại Hùng Đại Lực Quảng Đức Bồ Tát”.

Từ đó danh hiệu Bồ Tát Quảng Đức đi vào lịch sử Phật giáo VN.

Khám phá: Huyền Thoại Bồ Tát Giữa Đời: Cuộc Đời và Di Sản Vô Giá Của Hòa Thượng Thích Thiện Hoa

14/ 1

Hòa thượng Quảng Độ, thường ngày sáng sớm, từ Giác Minh mang đến Xá Lợi bản tin mà Hòa thượng dịch từ báo chí ngoại văn. Bản này được đánh máy, quay, phát, cho những người tụng kinh vào buổi tối, tại Xá Lợi. Nhưng ngày nay, Hòa thượng nhận lời cầm đầu một cuộc biểu tình biết chắc chẳng những khó khăn mà còn đổ máu. Phụ tá Hòa thượng là Hòa thượng Chánh Lạc. Kế hoạch có 4 bộ phận chạy bốn ngả đánh lạc hướng, nhưng vẫn tìm cách cùng đến công trường Quách Thị Trang. Hòa thượng với bộ phận chính xông pha mọi cản trở bởi hành hung và kẽm gai. Can đảm phi thường, Hòa thượng đến được địa điểm đã định. Tại đây, dùi cui và đấm đá đón Hòa thượng. Mặc, Hòa thượng cứ nói. Máy bị đập, Hòa thượng nói lớn. Họ xông đến bóp cổ, đánh đá tơi bời. Đầu Hòa thượng bị tét, máu chảy xuống mặt. Hòa thượng vẫn nói. Chúng bèn hốt, ném lên xe cây. Một số quỷ thối bóp hạ bộ của các nạn nhân. Ký giả ngoại quốc lần này cũng bị hành hung không nương tay.

Chúng chở về An Dưỡng Địa. Rào kẽm gai mà nhốt, mưa mặc mưa. Giam một vài ngày gì đó, rồi thả ra, đuổi đi đâu thì đi. “Chúng ông bắt được lần nữa thì tụi mày hết sống”. Chân, tay và miệng của chúng hoa ca như vậy. Ký giả ngoại quốc nghe nói cái vụ bóp hạ bộ thì cười “cái văn minh của chế độ Tổng thống Diệm”.

Cuộc biểu tình này bị đàn áp dã man, nhưng thành công và tác động thì thật siêu đẳng.

14/2

Có nhiều cuộc biểu tình trước ngày chế độ Diệm thiết quân luật. Nhưng tôi chọn 3 cuộc có tính cách tiêu biểu. Cuộc thứ nhất nói rồi. Bây giờ nói cuộc thứ 2. Cuộc biểu tình này vốn có dự định mà không tổ chức được. Do đã thông báo, các nơi tập họp về Xá Lợi, trong đó có nhóm Phật giáo Nguyên Thủy chùa Pháp Quang của Hòa thượng Hộ Giác. Tôi nhớ bữa đó Hòa thượng không có, chỉ có Đại đức Bửu Phương. Đại đức hỏi: “Sao không đi biểu tình?” Người ta trả lời: “Người ít quá.” Đại đức đảo mắt một vòng: “Từng này được rồi.” Thế là phóng đến nơi đã chọn trước, gần Xá Lợi nhất, mà cũng rất bất ngờ. Đó là tiểu bạch ốc (tư dinh Đại sứ Mỹ). Các Hòa thượng Tâm Châu và Đức Nghiệp phóng trước. Tôn giả Quảng Hương quấn cổ biểu ngữ duy nhất, đã được kẻ trước, mà chạy theo. Cảnh sát kéo giành, tôn giả càng giữ. Bị ngã, tôn giả vẫn cố giữ. Cảnh sát khác thấy vậy, la lớn: “Buông nó ra, không, nó chết bây giờ, mệt lắm.” Tiểu bạch ốc không cao lớn lắm, nhỏ vừa phải. Cuộc biểu tình rất vừa phải với khung cảnh đó. Khẩu hiệu biểu tình là yêu cầu người Mỹ xét lại vũ khí và phương tiện họ đã viện trợ cho chính quyền Việt Nam. Chính quyền đã lợi dụng vũ khí và phương tiện ấy mà đàn áp Phật tử. Người Mỹ nên đạt vấn đề mà cấp tốc cứu xét.

Xong, cả đoàn biểu tình trở về Xá Lợi, trước con mắt tức bực của cảnh sát. Trời gần trưa. Buổi phát thanh trưa của VOA tường thuật rất trung thực cuộc biểu tình. Người Mỹ, bây giờ, bị đặt trách nhiệm, đơn sơ và rõ ràng.

14/3

Nay nói cuộc biểu tình thứ 3, ngay sáng sớm mới thiết quân luật, hốt chùa chiền. Cháu Quách Thị Trang đến nhà vài người bạn. Mới sáng sớm, cháu và bạn của cháu, từ trong chợ Quách Thị Trang cầm biểu ngữ chạy ra công trường. Các má và các chị ào ra theo. Cháu quấn biểu ngữ vừa chạy vừa la lớn: “Trả thầy của chúng tôi.” Cảnh sát lập tức bắn chết cháu, chở thi thể cháu đi mất luôn. Sau này mới biết chúng đem lên vùi ở nghĩa trang quân đội.

“Trang hỡi Trang, em là vì sao sáng”… 1 bản nhạc được nhạc sĩ nào đó đặt ra. Rồi tượng đài của cháu được sinh viên kiến trúc tự xây dựng, đặt ở công viên trước chợ Bến Thành, với bảng hiệu công trường Quách Thị Trang.

15/1

Không ai trong Ủy ban Liên phái mà không nghe biết dồn dập về việc chính quyền chuẩn bị thiết quân luật để tổng càn quét Phật giáo. Tăng cường cảnh sát quận 3 (Xá Lợi) và quận 10 (Ấn Quang); tập trung và mài dũa còng tay; bắt công chức tăng cường gác đêm… Trước đó, và có lẽ đây là ý định thứ nhất của chính quyền: lấy lệnh tòa án ruồng bố các chùa. Dự định này, theo tin tức, nhằm cướp kim quan của ngài Quảng Đức, truy tố các vị tổ chức cho ngài tự thiêu. Họ đã điều tra lai rai các vị ấy. Và rằng sẽ truy tố những kẻ sát nhân.

UBLP họp vài ba lần. Bàn ai tình nguyện bị bắt, ai tình nguyện ở ngoài. Nhưng không ai chịu ở ngoài cả. Riêng tôi, trong UBLP có cụ Hiểu, cầm đầu Phật tử Nguyên Thủy, cho tôi biết riêng, Tòa Đại sứ Thái Lan có ý mời tôi đến tá túc. Cụ nói 2 lần. Tôi thì đã quyết định “để bị bắt”. Rồi Hòa thượng Tâm Giác cũng làm tương tự. Hướng dẫn và thông dịch cho 1 viên chức nói là của Tòa Đại sứ Nhật, cũng tỏ ý như Thái Lan. Tôi cũng trả lời tương tự. Họ ngồi cho đến gần giờ thiết quân luật mới về.

Nửa giờ sau, ban Trật tự trong chùa báo động. Cùng lúc, thô bạo cực kỳ, cảnh sát dã chiến xông vào, sử dụng dùi cui trước, đối với cả các ni sư. Rồi tấn công bằng hành hung và lựu đạn cay, họ dồn chúng tôi ra trước điện Phật. Ở đó, thấy ngài Hội chủ mặt và mắt sưng, bị dẫn ra trước. Một thị giả níu ngài bị đánh ngất xỉu. Ngài bị đưa lên xe bít bùng, đưa đi trước. Các nhóm, tôi cũng bị ở trong một nhóm, rồi tất cả, bị xua ra, cảnh sát áo trắng đón lấy, đưa lên 4, 5 chiếc xe lớn, trực chỉ đến nơi mà sau đó mới biết là Rạch Cát. Đêm khuya, trời lạnh, nhưng không mưa. Đoàn xe đến một quãng đồng cạn thì dừng lại. “Vì xe chỉ huy hỏng máy”. Có tiếng nói nhỏ, nhưng rõ, “ai xuống được thì xuống mà thoát đi”. Nhưng xe tôi, và sau đó biết các xe khác cũng vậy, không ai xuống cả. Đoàn xe lại tiếp tục. Vài mươi phút sau đến Rạch Cát. Chúng tôi bị xua xuống, nhốt vào 3, 4 cái nhà tương đối nhỏ. Tôi, do một thầy nào đó không rõ, đang đêm nên cũng không nhìn được, nói nhỏ và dìu tôi vào gần nhóm Già Lam. Bấy giờ thì biết Già Lam, Pháp Quang, Nguyên Thủy gốc Miên, Ấn Quang, Giác Minh, An Dưỡng Địa, Phước Hòa… đủ mặt bá quan. Cỡ 1 giờ sau, họ dẫn cụ Chánh Trí vào, đi ruồng các phòng, đến phòng tôi, chúng tôi 4 mắt nhìn nhau rất nhanh, và cụ Chánh Trí liên tiếp lắc đầu, miệng nói “không có, không có”. Ấy là họ “nhờ” cụ giúp họ tìm tôi. Lát sau nữa, Đại đức Giác Đức bị bắt, đưa ra, dẫn đi.

Thầy nói khi nãy bảo tôi gối đầu trên vế thầy, nằm xuống mà nghỉ. Trời chưa sáng, lạnh, nền xi măng, vậy mà nằm vẫn thấy ấm áp. Gần sáng, thầy thức tôi dậy, nói: “Việc con đến đây là hết. Bây giờ xin thầy vào nhóm Già Lam, sát nhóm Miên mà ở.” Thầy đưa tôi đến, rồi xá tôi, lặng lẽ lui ra. Từ đó cho đến nay, tôi cố kiếm thầy là ai mà không tài nào kiếm ra.

Lại nói để phục chư tăng gốc Miên, và Phật tử của các ngài, tự ý cùng cảnh sát gốc Miên, liên lạc kín đáo và chặt chẽ với nhau. Tin tức từ lúc đó, cho đến khá lâu sau đó, toàn nhờ nhóm này thông báo, chính xác và đầy đủ, với máy truyền tin họ được cấp. Nhờ đó mà biết các Hòa thượng Tâm Châu, Đức Nghiệp bị bắt cả rồi, chỉ thiếu tôi và đang cố lùng kiếm. Hòa thượng Thiện Minh về Huế, và đêm đó bị bắt ở đây, chùa Từ Đàm. Tất cả các tỉnh, đặc biệt ở Huế, họ bị ruồng bắt “rất cẩn thận” mà dĩ nhiên, tôi không rõ lắm.

Nói công bình, mấy ông chỉ huy ở Rạch Cát không gay gắt, hống hách gì, bảo chúng tôi thu xếp lấy sự sinh hoạt bình thường. Đi lại và trò chuyện thoải mái, miễn đừng ra ngoài khu vực. Hòa thượng Nhật Thiện, sư đệ của tôi, liên lạc với bên Ni, với cảnh sát công chức gác đêm, nhất là cảnh sát gốc Miên, định thực hiện cho tôi một cuộc thoát ra êm xuôi, với bộ cánh cảnh sát và 10 ngàn tiền biếu. Nhưng sáng hôm sau, lệnh trả chúng tôi về ăn Vu Lan. Trước khi tiếp tục, tôi kể chuyện này cho vui. Một buổi chiều có đông nhân viên vào lấy lý lịch và chỉ tay. Hòa thượng Nhật Thiện nói: “Nhân việc này làm cho tôi từ nay ‘vẫn tìm không ra’.” Một nhóm hè nhau, do Hòa thượng Nhật Thiện điều khiển: tôi khai lý lịch, 1 thầy chụp hình, 1 thầy lăn tay. Tất cả bàn giấy, hơi lạ, là thấy chúng tôi thì cúi xuống, đến phận sự thì làm việc, không ngước lên, nhìn hay hỏi gì. Hòa thượng Nhật Thiện nói: “Một người mà lý lịch, hình ảnh, nhất là dấu tay, hoàn toàn khác nhau thì hết cách tìm cho ra là ai.”

15/ 2

Tiếp tục câu chuyện. Tôi chưa kịp thoát ra theo sự thu xếp của sư đệ Nhật Thiện, thì có lệnh thả chúng tôi về ăn Vu Lan. Khi gọi đến nhóm Pháp Quang thì Sư cụ Thiện Luật ra ngồi trước. Kế đến gọi Ngô Bửu Đạt (Hòa thượng Hộ Giác) mới ra đã có một nhóm đến mời lên xe bịt bùng đi luôn. Khi gọi Đinh Văn Tánh (tên giả của tôi) sư Chung thúc đẩy tôi ra. Thế là tôi về chùa Pháp Quang. Trước đó, Hòa thượng Thiện Hòa vào, tìm gặp tôi, nói: “Thầy về Xá Lợi, tôi sẽ đón thầy ở đó.” Thế là quá rõ: Ấn Quang bế tắc đối với tôi. Và thế là tôi phải về Pháp Quang. Về đây, tôi tắm rửa thoải mái sau 9 ngày sống mọi rợ. Nhưng, từ trong phòng tắm, đã thấy 4 họng súng chỉ vào đều nhau. Tôi nghĩ Pháp Quang không cách gì lọt ra ngoài được nữa. Quả như vậy, sư đệ Nhật Thiện từ Xá Lợi chạy về, tìm gặp tôi đang thay đồ mới, dậm chân, hét: “Mau lên. Nó biết thầy ở đây rồi.” Thế là Pháp Quang không cách gì lọt ra ngoài được nữa. Trừ ra… tôi nghĩ thật nhanh… và bảo sư đệ Nhật Thiện: “Kiếm một thầy nữa, chúng mình đi.” Sư đệ có ý hỏi. Tôi khoát tay và thúc nhanh lên. Tôi đi trước, Nhật Thiện và sư Nhâm theo sau. Xuống sư cụ thì thấy cảnh sát đang kỳ kèo gì đó, mà sau này, biết họ đang đòi sư cụ cho soát chư tăng mới được tha về. Tôi thong thả, trình sư cụ: “Chúng con xin phép đi đưa cái thư mà ngài dạy mang đến Ấn Quang, cám ơn Hòa thượng Thiện Hòa.” Sư cụ nhanh trí, bảo: “Đi nhanh lên, sắp tối rồi.” Trời lại mưa khá lớn. Có 2 chiếc taxi đậu ngoài sân, vành xe chạy sơn màu vàng: xe của công an. Loại này có quyền bắt khách, chở thẳng về công an. Mặc, chúng tôi ngồi ngay lên 1 xe. Xe ra đường lớn, tôi bắt đầu làm việc. Tôi nói: “2 thầy sao không biết, còn tôi mai sẽ xin về, không tu nữa. Ngán tu rồi,…” Anh tài xế hỏi, tôi vừa trả lời vừa nghĩ đến việc về Ấn Quang. Nhưng về Ấn Quang là nạp mạng. Còn thoát trên đường về đó, thì lúc bấy giờ tôi không biết gì về đường sá Sài Gòn, không thể thoát được sự chú ý của anh tài xế. Như vậy chỉ còn cách ra đường Hàm Nghi. Tôi nói với anh tài xế: “Anh có thể ra bến tàu cho chúng tôi hít thở thật mạnh một chút được không?” “Được.” Ra bến tàu, gần đến đầu đường Hàm Nghi, tôi nói: “Phiền anh ghé vào tiệm thuốc cho tôi mua vài viên thuốc cảm.” Anh ghé vào, vui vẻ. Không biết ngẫu nhiên hay sao mà lại chỉ có 1 hiệu thuốc mở cửa. Chúng tôi xuống, nói với anh tài xế: “Anh quay xe để rồi chúng ta đi.” Nói vậy, nhưng tôi đi thẳng, qua trước cửa Tòa Đại sứ Mỹ. Thấy cửa khép, tôi đi thẳng càng mau. Nhưng đi mười lăm mét gì đó, tôi quặt lại, thấy cửa ấy mở ra. Vậy là sư đệ tôi 1 tay kẹp tôi, 1 tay kẹp sư Nhâm, ào vào. Anh lính Mỹ hơi tránh ra cho chúng tôi vào. Vào rồi, anh khép cửa khá kín, mở tủ lấy một khẩu súng khác, nhỏ hơn, và hỏi: “Các ông có phải là phe ông Trí Quang không?” Sư đệ Nhật Thiện chỉ tôi, nói tiếng Mỹ: “Ông này là Trí Quang đây.” Anh lính Mỹ đóng cửa, gọi điện thoại. Chỉ vài phút sau, có người đến nhận diện tôi, mời lên tầng trên, sâu hơn. Ngoài đường tiếng chiến xa đang ồn ào chạy quanh. Một chiếc máy thu thanh được đem để trước mặt chúng tôi. Đài BBC loan báo: “Thượng tọa Trí Quang đã vào tị nạn trong Tòa Đại sứ Mỹ.”

15/ 3

Tổng hội Phật giáo Việt Nam gồm có 3 miền Nam Trung Bắc, mỗi miền có 2 giới tăng già và cư sĩ, thành ra 6 tập đoàn. Hai tập đoàn miền Trung là Giáo hội Tăng già Trung phần và Hội Phật giáo Trung phần. Trung phần ở đây là gồm cả trung nguyên và cao nguyên. Bộ phận cầm đầu 2 tập đoàn miền Trung cùng được gọi theo tên cũ là Tổng Trị sự (TTS). Tám năm trước 1963, tôi lạy ngài Thuyền Tôn làm Hội trưởng TTS, cho con cháu của Hội mà ngài là 1 trong 3 vị chứng minh đại đạo sư sáng lập, được núp trong bóng đại thụ của ngài, phục vụ Hội trong giai đoạn khó khăn. Năm 1963, tôi lạy mà vâng lời ngài làm Hội trưởng TTS để ngài tịnh trú. Như vậy, Hội trưởng TTS Hội Phật giáo miền Trung năm 1963 là tôi, Trí Quang. Theo cổ lệ, Phật Đản miền Trung do Giáo hội lo nghi lễ; còn tổ chức thì Hội lo toàn bộ, vì Hội có các tỉnh hội, và các tỉnh hội có các khuôn hội. Như vậy, tôi là người tổ chức Đại lễ Phật Đản 1963. Lệnh cấm treo cờ Phật giáo nhắm vào Lễ đi Phật Đản của các tỉnh và khuôn hội, nhất là nhắm vào Huế. Hội trưởng TTS chống lệnh ấy, và như vậy tôi thành người “mở đầu cuộc vận động 1963 của Phật giáo”.

Cũng nên nhắc lại cái lệnh cấm treo cờ Phật giáo. Trước Phật Đản 3 ngày, ông Tỉnh trưởng Thừa Thiên lên Từ Đàm vận động tôi đừng treo cờ. Tôi từ chối. Hôm sau, ông lên, nói: “Bây giờ có lệnh đây, tôi chỉ tống đạt.” Tôi nói: “Rất ngạc nhiên về cái lệnh như vậy của chính quyền, mà là chính quyền trung ương, và không thể tuân hành được.”

Với sự kháng cự lệnh này, tôi tự hoàn thành tội danh “mở đầu cuộc vận động 1963 của Phật giáo” không cần ai tự bảo mình sắp đặt như vậy.

15/ 4

Khi UBLP họp, không ai muốn không bị bắt, là ai cũng muốn đem khổ hạnh của mình, thành tựu nguyện vọng của Phật giáo, chứ không phải cầu may hay áp dụng khổ nhục kế. Riêng tôi, với “cái tội khởi xướng”, tôi biết và chính quyền cũng không ngần ngại gì mà không cho biết, chờ đợi tôi là cỗ máy đoạn đầu đài, nói nôm na là máy chém, đừng có ảo vọng gì khác.

Ở đây, nên nói chuyện cũ một chút. Trước 1963 khá lâu, có lần và lần đầu, ông Diệm mời tôi đến tư thất, và Cố vấn Cẩn cho biết riêng, là để nói việc giúp đỡ đồng hương di cư của Phật giáo Quảng Bình. Khi gặp, Tổng thống Diệm nói: “Có 2 vùng đất, một là vùng cát màu mỡ và rất đẹp ở Cam Ranh, hai là vườn ươm của canh nông ở núi Thiên Thai. Hai vùng đất này, vùng nào cũng có thể làm nơi cư trú và làm ăn cho cả trăm người. Tôi muốn thầy đứng ra nhận để lo cho đồng hương.” Tôi nói: “Đồng hương ấy không nhiều, chỉ có 5 học tăng và một ít cư sĩ, họ đã sinh sống ổn định lâu rồi. Tôi chắc Tổng thống nói chuyện giúp đỡ này là có ý giúp đỡ Phật giáo. Tôi nghĩ Tổng thống đặt vấn đề như vậy thích đáng hơn.” Tổng thống hỏi: “Giúp cách nào?” Tôi nói: “Một nửa vườn hoa Tao Đàn và 5 triệu tiền lúc ấy, là đủ cho Phật giáo có đủ một cơ sở bề thế và triệu tập một Đại hội Phật giáo quốc tế.” Vừa thay nước mời tôi, vừa suy nghĩ trên năm ba phút, Tổng thống nói: “Sức tôi không lo nổi.” Bấy giờ, năm bảy hôm sau khi khởi xướng cuộc vận động 1963, cụ Nh. đến Từ Đàm, vào lúc 5 giờ sáng, nói với tôi: “Tổng thống có thể thỏa mãn đề nghị cũ nếu tôi ngưng cuộc vận động.” Tôi từ tốn nói: “Đề nghị ấy quá lỗi thời rồi. Với lại làm sao Tổng giám mục chịu cho Tổng thống làm.” Cụ Nh. hiểu biết, ra về, khi trời chưa sáng hẳn.

Hết màn trên tiếp liền màn khác. Một người công chức tự nói là hội viên khuôn hội Phú Thạnh, yêu cầu nói chuyện hơn thiệt với tôi. Rằng: “Thầy chống đối thì đương nhiên chính quyền sắp sửa máy chém. Sao thầy không nghĩ cuộc sống dài hơn cho công việc dài hơn?” Xét thấy người này chỉ học bài và trả bài, tôi điềm đạm nói với anh như vậy, anh cũng điềm đạm ra về sau khi nói: “Con không biết gì cả thật!”

15/5

Nếu bị bắt lúc Xá Lợi bị tấn công, tôi bị thọ án tử hình theo thủ tục bình thường, hay hơn nữa theo thủ tục khẩn cấp, thì đó là điều tôi đinh ninh như vậy. Nhưng sẽ khác hẳn nếu bị bắt lại sau 9 ngày “bị bắt mà như không bị bắt”, nhất là sau khi về Pháp Quang. Vì vậy, tôi quyết định không để bị bắt lại. Không để bị bắt lại, nhưng cũng đã không có cách nào khác hơn đến Tòa Đại sứ Mỹ.

Tôi ý thức được sự phức tạp cho riêng tôi, kể cả khi đã ngồi trong Tòa Đại sứ ấy. Trong người tôi tự thấy ngạc nhiên và bất ổn. Nhân viên cao cấp của Tòa Đại sứ cũng thấy ra như thế. Họ nói với tôi: “Nếu Thượng tọa có ý định tị nạn ở đây thì là khách của chúng tôi. Nếu Thượng tọa không có ý định ấy thì có thể đi ra bất cứ lúc nào Thượng tọa muốn.” Tôi nói: “Dĩ nhiên tôi đang yêu cầu tị nạn ở đây. Nhưng, xin lỗi, tôi vào đây còn muốn nhìn thấy người Mỹ giải quyết như thế nào về vấn đề mà người Mỹ có trách nhiệm. Tôi ở đây tùy thuộc vào sự nhìn thấy ấy.” Họ nói: “Vậy xin mời Thượng tọa ở đây với chúng tôi cho đến khi thấy không cần ở nữa.”

16/ 1

Đến đây, tôi ngưng một giai đoạn Phật giáo, bằng cách ghi thêm mấy việc linh tinh cần nói, mà không theo thứ tự nào cả.

  1. Do Hòa thượng Chơn Trí mà Gia đình Phật tử tập họp đúng giờ, đúng chỗ, trước Tòa Tỉnh trưởng Thừa Thiên, vào buổi chiều 14/4 – buổi chiều mà Phật giáo khiếu nại cờ đèn bị phá bị giật, lễ đài Phật Đản bị xúc phạm rất mất dạy. Tỉnh trưởng mời Phật giáo họp để giải quyết.
  2. Huynh trưởng Gái được bí mật giao cho cầm đầu đoàn GĐPT rước Phật từ Diệu Đế lên Từ Đàm. Không có sự khôn khéo của anh, thì 5 biểu ngữ không lên thấu chùa, kế hoạch bị tổn thương không nhỏ. Cũng chính huynh trưởng Gái đầu tiên đem tài liệu vào Ấn Quang mà, lúc đó, nếu thiếu can đảm và khôn ngoan, đã không thể chu toàn nghĩa vụ.
  3. Ba thanh niên hoạt động nổi tiếng sau khi thiết quân luật là Bôi, Nho, Doãn. Bôi đã thành người thiên cổ, còn 2 người kia, tôi chưa có dịp liên lạc được.
  4. Tôi đặc biệt nói đến 1 Phật tử mà là ân nhân của Phật giáo, kể từ lúc Phật giáo mới rục rịch có vấn đề suốt đến khi chế độ ông Diệm sụp đổ. Người này là đệ tử Hòa thượng Mật Nguyện, là người đồng hương với tôi – là ông Đẳng. Ngay từ đầu ông đã bỏ công bỏ của ra không nhỏ, dầu ông khá nghèo. Ông đóng vai trò Tỉnh trưởng và Phật tử rất vất vả, lao tâm khổ trí. Không có ông, tôi đã rất khó khăn trong việc tiếp xúc với các cấp chính quyền. Người sắp đặt cho tôi lên máy bay đi Sài Gòn là ông. Khi tôi viết mấy dòng này, ông đã không còn nữa, từ lâu.
  5. Bs Lê Khắc Quyến, pháp danh Nhật Thắng, đệ tử Đại Tổ đình Quốc Ân, người Huế. Tôi là bệnh nhân đến khám bệnh tại phòng mạch tư của ông ở cửa Thượng Tứ. Bấy giờ ông là Giám đốc Bệnh viện Trung ương Huế. Sau đó được biết bà cụ thân sinh ông là em ruột cụ bà Lê Văn Định. Mối liên hệ Phật giáo của ông là như vậy, chưa kể thân sinh của ông cũng là đệ tử Đại Tổ đình Quốc Ân, bổn sư là ngài Đắc Quang, Tăng cang quốc tự Linh Mụ. Ông là Khoa trưởng Đại học đường Y khoa Huế, được gia đình Tổng thống Diệm biết ơn vì chữa bệnh giỏi cho bà cụ thân sinh của họ. Ông có nhà mới, lớn và đẹp, ở phía nam thành phố, nhưng chưa kịp ở. Ông tham gia cuộc Vận động 1963 của Phật giáo, mất hết chức và nhà, bị bắt ở tù. Khi tham gia, ông tự biết sẽ phải như vậy.
    Sau Phật Đản năm ba ngày, một buổi sáng gặp tôi, ông cho biết ông Diệm mời ông vào Sài Gòn để nói về vấn đề Phật giáo. Ông hỏi tôi muốn ông nói gì, tôi nói: “Xin nói rất thật thâm tâm của tôi. Tôi không mưu đồ gì cả, chỉ phản ứng vì hết mức chịu đựng sự xúc phạm quá đáng đến Đức Phật và Phật giáo của tôi, mà thôi. Vấn đề như vậy quá dễ giải quyết cho Tổng thống chứ không tổn thương gì.”
    Hôm sau Bs Quyến về Huế, nói: “Ông mời vào để nghe ông nói, không phải để nói cho ông nghe!” Bs Quyến chẳng những tham gia hết lòng vào 1963, sau đó, đến nỗi mất sách, bị bắt bị tù nữa, vẫn không chán bỏ đạo pháp – mà không mưu đồ gì cả, cho đến hết đời.
  6. Việc Phật tử Mai Tuyết An chặt tay phản đối bà Nhu, người Mỹ hỏi ý kiến tôi, tôi nói phong trào chống đối ông Diệm đã và sẽ lan ra mạnh mẽ trong giới học sinh. Sự việc quả như vậy, ngay sau đó.
  7. Sau khi thiết quân luật, hoạt động hải ngoại là Hòa thượng Nhất Hạnh và bác sĩ W.
  8. Bác học Bửu Hội gặp tôi khi về thăm mẹ. Tôi phàn nàn động thái gây ác cảm nặng nề của ông. Ông ân hận và muốn đóng góp. Tôi nhờ chuyển đến Tổng thư ký Liên Hợp Quốc 5 va-ly đầy đủ tài liệu. Chuyển ra để ở khách sạn ông Lê Văn Hiệp. Ông Hội đến nhận ở đó, chuyển giao rất chu đáo, nhanh chóng. Bằng tình cảm cá nhân, ông Hội lại tác động các Đại sứ Á Phi đến điều tra nhân quyền ở Nam Việt Nam. Hòa thượng Nhất Hạnh và bác sĩ W. càng liên lạc và hướng dẫn cụ thể cho phái đoàn này. Chỉ vì tôi chưa kịp nói nên đôi bên chưa hiểu.
  9. Khi ở Xá Lợi, tất cả chi phí không nhỏ cho việc của Phật giáo miền Trung mà tôi phải liệu, thì người giúp tôi là ông Lê Văn Hiệp. Nhân đây, tôi nói đến chi phí khi còn ở Huế. Mọi chi phí ở đây và lúc ấy là do các khuôn hội Thừa Thiên lạc cúng, do tỉnh hội ấy thu và chi.
  10. Tình báo một cách xuất sắc nhất là 1 Phật tử tự động. Chính ông Nhu cũng lao đao về sự tình báo của người này. Người này thường viết báo cáo giao cho Hòa thượng Tâm Châu mà không ra mặt. Nhưng sau này tôi cũng biết người đó là ai.
  11. Hòa thượng Trí Quang, lúc ấy, khá có khả năng vận động phong trào học sinh.
  12. Hòa thượng Thiện Minh có sáng kiến tấn công bà Nhu. Sự tấn công này tác động nhanh và mạnh đến bất ngờ đối với phong trào học sinh. Mưu đồ lừa đảo của chính quyền trong việc thực thi Thông cáo chung cũng rã vì “đức bà lồng lộn, vung vít”. Nhưng Hòa thượng Hộ Giác và thầy Giác Đức thì tai họa không nhỏ, vì “mồm miệng không ưa nổi” trong chiến dịch ấy. Nghe nói lúc bị bắt, 2 ngài được đức Bà hỏi thăm khá ân cần.
  13. Sau hết, mà thật ra là trước hết, tôi nói đến 1 người, một người bạn của tôi, Bs W.

Ông thương tôi hết lòng. Việc tôi làm, mở đầu mà thế giới biết, là do ông. Giao thiệp với Tổng thư ký LHQ đầu tiên là do ông. Sau thiết quân luật, Phật giáo bị hốt rồi, cũng chính ông hoạt động với Hòa thượng Nhất Hạnh, rất hiệu quả.

Ông, trước không nói gì, nhưng tôi biết và biết rõ. Ông muốn qua tôi, Phật giáo phải thành một lực lượng. Nhưng thực tế làm cho ước muốn ấy không phù hợp với chính Phật giáo. Dẫu vậy, ông không biến đổi tình cảm, vẫn một lòng một dạ thương tôi, thương Phật giáo của tôi.

Ở đây, tôi nói vắn tắt về ông – về cái tình ấy, cái tình tôi không thể quên, không bao giờ quên.

17/ 1

Ở trong Tòa Đại sứ Mỹ, khi đoán chắc sẽ có đảo chánh, tôi lại lo như tình trạng Hàn Quốc: Lý Thừa Vãn đổ rồi, đảo chánh hoài. Như thế thì làm được cái gì. Ông Diệm bị đảo chánh rồi, tôi cáo từ ra về, người Mỹ nói: “Nếu có thể, tôi nên góp ý kiến với chế độ mới.” Tôi nói, nhưng không nên đảo chánh nữa. Người Mỹ không nói lại gì hết. Tôi đoán trước những gì sẽ xảy ra. Nếu không vì thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN), tôi đã “công thành thân thoái” rồi. GHPGVN sẽ thành lập, là vì phải thành lập nhưng đối nội đối ngoại sẽ đầy những sự khó vui. Dầu vậy, vẫn phải thành lập, thay thế Tổng hội Phật giáo Việt Nam hết nhiệm vụ rồi.

Dự thảo Hiến chương cho GHPGVN, tôi viết lời mở đầu: “Công bố lý tưởng hòa bình, Phật giáo không đặt sự tồn tại của mình ngoài sự tồn tại của dân tộc.” GHPGVN được cầm đầu bởi chức vụ Tăng thống, tước hiệu có từ thời đại Đinh Lê. Tăng thống tương đồng với Tăng Cang, tước hiệu vua Minh Mạng đã đổi ra. GHPGVN gồm 2 viện: Tăng thống và Hóa đạo, lãnh đạo tất cả tăng ni và tín đồ của Phật giáo VN. Khi chính thức thành lập, tôi tìm cách giữ chức vụ Chánh Thư ký viện Tăng thống, là thật sự muốn ẩn mình, hy vọng tiếp tục dịch giải kinh sách vốn là chí hướng đích thực của tôi.

18/ 1

Nhưng rồi tôi chữa lửa mà bị cho là đốt nhà. Bao nhiêu chuyện xảy ra, ở Huế cũng như ở Sài Gòn, do các ông Tướng ai cũng thấy mình có thể làm nên chuyện. Quần chúng Phật giáo bị cuốn hút vì cái tính “giữa đường thấy chuyện bất bình mà tha”, nên bị lợi dụng có khi thật phiền. Sau hết, có ông tướng nghĩ mình dẹp “loạn” được thì được vượt trội trong quyền chức. Không ngờ công thành tội, bị buộc phải khuất thân đối với kẻ thật ra là ăn nhờ.

Bằng cái Quốc hội Lập hiến, tôi mong quần chúng có cơ cấu sinh hoạt chính trị, Phật giáo có thể rút mình ra.

Nhưng việc này là “họa hổ bất thành phản lốt cẩu”!

18/2

Trong khuôn khổ của sự “dẹp loạn” để làm cho Quốc hội Lập hiến “hổ biến thành cẩu”, có một màn có thể nói là khó nói.

Một đoàn chiến xa và thiết giáp khá hùng hậu, được điều động từ Quảng Trị vào Huế. Khi sắp qua cầu An Hòa, viên sĩ quan chỉ huy ra lệnh ngừng lại để anh đi thám sát đã. Anh đến chùa của khuôn hội Phật giáo Phú Thạnh, miệng hét tay làm, hối thúc Phật tử khuôn hội, có anh phụ lực, khiêng bàn Phật ra giữa đường, lại hối thúc tư gia Phật tử làm theo. Viên sĩ quan quay lại, báo cáo đường bị cản trở. Rồi đợi lệnh. Nhưng bàn Phật được đưa ra càng nhiều. Khuôn hội Phú Thạnh đã chạy vào Diệu Đế thông báo cho tôi và hỏi ý kiến. Tôi hỏi ông Thiện Siêu đang có mặt. Ông nói: “Thụ động chứ biết làm sao.” Thực tế tôi cũng không thể bảo ngưng được nữa. Bàn Phật đã có sâu trong thành phố rồi. Chưa bao giờ, mà bây giờ, tôi phải xúc phạm sự tôn nghiêm đến mức này!

Thế nhưng chưa hết. Đêm đó, trung tâm thành phố sáng lên, lung linh, huy hoàng, với quá nhiều bàn thờ Phật. Đêm sau càng là như vậy. Trung tâm thành phố bãi công bãi thị 100%. Trong khung cảnh này, tôi được cấp báo có 1 Phật tử tự thiêu.

Phật tử này là Nguyễn Thị Vân, pháp danh Không Gian, đệ tử ngài Tăng Cang Qui Thiện, thuộc thiền phái gốc: Thiền phái Long Trì. Vân 18 tuổi, học sinh năm thứ hai của bán phần Tú tài, trường Bồ Đề Thành Nội. Nhà ở cửa Thượng Tứ, đối diện nhà Bs Quyến. Vân là thành viên GĐPT Thành Nội, từ Anh Vũ mà học và thi lên đến đoàn phó, rồi đoàn trưởng năm 14 tuổi. Đã mặc áo dài, nhưng màu trắng cũng như màu lam đều không chịu may eo. Thông minh, xuất sắc, ít nói, nhưng rất dễ mến. Việc tự thiêu hoàn toàn do Vân lặng lẽ tự sắp đặt, với nhiều lắm là 3 lít xăng, thực hiện tại chùa khuôn hội Phật giáo Thành Nội, lúc 4 giờ sáng. Khi ánh lửa bùng lên, người trong chùa có cả em trai của Vân là Lam Sơn, mới biết có người tự thiêu, nhưng chưa rõ là ai, chỉ thấy một người ngồi trang nghiêm, chấp tay trong lửa. Lửa hạ mới biết là Vân, do thư để lại. Nhưng non 3 lít xăng không giúp Vân giải thoát hình hài. Vân bỏng mắt nhưng vẫn tỉnh, vẫn niệm Phật, không rên kêu gì, và được đưa ngay qua Bệnh viện Trung ương. Chính Bs Quyến chăm sóc cho Vân, với sự góp sức của các giáo sư Y khoa người ngoại quốc. Vân vẫn tỉnh, vẫn nói được dầu khó khăn. Bs Quyến khóc, các giáo sư ngoại quốc cũng khóc. Y khoa hết khả năng trong trường hợp này. Vân muốn gặp tôi. Tôi quá nhiều việc, Ông Mật Nguyện tình nguyện đóng vai tôi. Nhưng Vân nói gì thì không thể nghe được. Chung quanh Vân, ngoài Bs Quyến, Ông Mật Nguyện, bấy giờ đã có em trai Lam Sơn, có chị cả, có cha. Ai cũng ngậm nước mắt, nhỏ tiếng niệm Phật cho Vân, theo tiếng của Ông Mật Nguyện và Bs Quyến. Đến 7 giờ 30, Vân về với Phật. Linh cữu được quàn tại Diệu Đế. Thiếu tá Sãnh xông vào, cướp linh cữu của Vân, đem vùi tại chùa Viên Thông. Sau này, Phật giáo và gia đình Vân cải táng, đem về chùa Qui Thiện, nằm chung với tiền nhân.

Nỗi ân hận về bàn thờ Phật, cùng nỗi thán phục Vân, cho đến nay, không nguôi trong tôi.

Hành trình của Thích Trí Quang được ghi lại chi tiết, từ cội nguồn gia tộc đến những biến động lịch sử cá nhân và dân tộc. Để hiểu sâu hơn về cuộc đời và những đóng góp của ông, mời quý độc giả khám phá thêm các câu chuyện đầy cảm hứng trong chuyên mục Tiểu sử.

Bạn thấy bài viết này thế nào?

Hãy để lại đánh giá của bạn nhé!

Điểm trung bình 0 / 5. Số lượt đánh giá: 0

Chưa có ai đánh giá. Hãy là người đầu tiên!

Chia sẻ bài viết nếu bạn thấy hữu ích 🙏

Lên đầu trang